MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1.
1
TƯ TƯỞNG “MỘT CUỘCCÁCH MẠNG CHỈ
1
CÓ GIÁ TRỊ KHI NÀO NÓ BIẾT TỰ BẢO VỆ”
CỦA LÊNIN VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA CHỦ TỊCH
1.1.
HỒ CHÍ MINH
Tư tưởng của Lênin về “Một cuộc cách mạng chỉ có
1
1.2.
giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ”
Sự vận dung tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có
7
giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ” của Chủ tịch Hồ
2.
Chí Minh
25
2
V.I. Lê-nin là người trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Mười Nga thành công;
lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chống chủ nghĩa đế quốc can thiệp, xâm
lược và chống bọn địa chủ, tư sản chống đối, bảo vệ nước Nga Xô-viết. Với trí tuệ thiên
tài và qua thực tiễn cách mạng, V.I. Lê-nin là người đầu tiên xây dựng nên học thuyết về
mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thấm nhuần học thuyết của V.I. Lê-nin về mối quan hệ giữa xây dựng CNXH
và bảo vệ Tổ quốc XHCN đặc biệt là tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi
nào nó biết tự bảo vệ ”; đồng thời, trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm của các cuộc
cách mạng XHCN trên thế giới và truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước” của
dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo,
linh hoạt điều đó vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam để đề ra đường lối
chiến lược và sách lược phù hợp; đồng thời, tổ chức giải quyết đúng đắn mối quan hệ
giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đặc biệt, hiện nay tình hình thế giới,
khu vực và trong nước diễn biến phức tạp, khó lường; tranh chấp chủ quyền, lợi ích, tài
nguyên,… diễn ra tương đối phổ biến; các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược
“diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ; vấn đề bảo vệ Tổ quốc đã và đang đặt ra nhiều thách
thức cần phải giải quyết. Vì vậy, nghiên cứu : “Vận dụng tư tưởng “Một cuộc cách
mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ” của Lênin vào sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc ở nước ta hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa thiết thực hiện nay.
NỘI DUNG
1. Tư tưởng của Lênin về “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó
biết tự bảo vệ” và sự vận dụng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1. Tư tưởng của Lênin về “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào
nó biết tự bảo vệ”
Lịch sử càng lùi xa, càng khẳng định những giá trị to lớn của Cách mạng
Tháng Mười Nga. Cuộc cách mạng vô sản vĩ đại ấy đã để lại cho những người cộng
1
V.I. Lênin, Toàn tập, tập 36, Tiếng Việt, Nxb Tiến bộ Mát xcơ va. 1978, tr. 102.
4
nghĩa xã hội trước tiên ở một số nước hoặc thậm chí ở một nước riêng biệt, nhất định sẽ
gặp phải sự chống quyết liệt của giai cấp tư sản mong muốn tiêu diệt giai cấp vô sản, vì
thế tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là hợp lý và chính nghĩa. Đó là một cuộc chiến
tranh vì chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc khác khỏi ách áp bức của
giai cấp tư sản. Sau cuộc Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa đế quốc đã tiến công xâm
lược nước Nga Xôviết và nhân dân các dân tộc Nga buộc phải cầm vũ khí để bảo vệ nền
tự do độc lập của mình.
Với quan điểm: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo
vệ”2, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, V.I.Lê-nin đã đặc biệt
nhấn mạnh đến sự cần thiết phải bảo vệ thành quả cách mạng, “bảo vệ chủ nghĩa xã
hội với tính cách là tổ quốc”3 của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. V.I.Lênin rất chú trọng đến việc xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng Hồng quân vững
mạnh, tăng cường khả năng quốc phòng, coi đó là một nhiệm vụ hệ trọng của chính
quyền mới. Ông chỉ rõ: “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của
Hồng quân ta như chăm lo đến con ngươi trong mắt mình, và hãy nhớ rằng chúng ta
không được phép lơ là một giây phút nào trong việc bảo vệ công nhân và nông dân
của ta và bảo vệ những thành quả của họ” 4, nếu không thì “không thể tồn tại được”.
Sắc lệnh ruộng đất, Sắc lệnh hoà bình và nhiều quyết định quan trọng về xây dựng,
bảo vệ chế độ mới được ban hành. Những vấn đề, như chống chiến tranh, bảo vệ đất
nước, những nguyên tắc mới trong quan hệ quốc tế của Sắc lệnh hoà bình đã tạo điều
kiện quan trọng xây dựng quốc phòng và lực lượng vũ trang của nước Nga non trẻ.
Đảng và Nhà nước Xô-viết ra sức động viên các tầng lớp nhân dân, huy động mọi
lực lượng xây dựng xã hội mới, đồng thời nêu cao ý thức bảo vệ Tổ quốc, xây dựng
quốc phòng, quân đội công nông vững mạnh, thực hiện những biện pháp kiên
quyết bảo vệ chính quyền non trẻ, vượt qua mọi sự chống phá, đưa sự nghiệp
nghĩa được thực hiện không phải một cách tự phát mà là hoạt động tự giác của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động, V.I. Lênin khẳng định Đảng Cộng sản là người lãnh
đạo, động viên tổ chức nhân dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa. Bởi lẽ Đảng Cộng sản là người nắm vững lý luận Mác - Lênin, hiểu rõ các quy luật
của sự phát triển xã hội và của chiến tranh, vận dụng sáng tạo các quy luật đó để giải
quyết những vấn đề về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản
được nhân dân lao động tin tưởng và ủng hộ, vì ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và
dân tộc, Đảng Cộng sản không có lợi ích nào khác. Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thể hiện trước hết là ở chỗ Đảng đề
ra đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đề ra đường lối đối nội và đối
ngoại; đề ra đường lối quân sự để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của nhân dân và quân đội;
xác định nội dung và phương hướng xây dựng các lực lượng vũ trang v.v...
7
V.I. Lênin còn chỉ rõ hai mặt hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa phải đan xen, xâm nhập vào nhau. Bất cứ hoạt động xây dựng nào cũng phải nhằm
tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc
không chỉ là chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc mà còn là sự tự bảo vệ trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội để phát triển vững chắc, ngăn chặn được các nguy cơ nội
chiến. Vì vậy, ông yêu cầu tất cả các hoạt động đối nội, đối ngoại, quân sự, chính trị, kinh
tế và khoa học phải nhằm tạo nên sức mạnh toàn diện của đất nước, đặc biệt là sức mạnh
quân sự để đẩy lùi, ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu lật đổ và vũ trang xâm lược của chủ
nghĩa đế quốc, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và
mọi thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội phát triển vững chắc. Nếu coi
nhẹ một trong hai mặt đó, hoặc tách rời giữa chúng thì chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh giá trị to lớn của bài học cách mạng phải
biết tự bảo vệ. Biết tự bảo vệ đòi hỏi vừa phải không ngừng gia tăng sức mạnh toàn
tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
ở Liên Xô, đã tác động lớn đến sự hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng
nước đi đôi với giữ nước. Không chỉ tiếp thu sâu sắc quan điểm lý luận của C. Mác,
Ph.ăngghen, V.I. Lênin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mà trong những
điều kiện lịch sử mới của đất nước và thời đại, Hồ Chí Minh đã phát triển và làm phong
phú thêm lý luận đó bằng những nguyên lý mới. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám
thành công, Hồ Chí Minh đã trực tiếp và chỉ đạo việc xây dựng Hiến pháp và các bộ luật
của Nhà nước ta. Người đã ra một loạt sắc lệnh về thiết lập hệ thống chính quyền các cấp,
tổ chức quân đội cách mạng, toà án nhân dân, thủ tiêu đặc quyền đặc lợi của thực dân,
phong kiến, xây dựng nền kinh tế mới, văn hoá giáo dục mới... nhằm thực hiện nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nổi lên trong tư tưởng dựng nước đi đôi với giữ nước của
Hồ Chí Minh có các nội dung cơ bản là:
9
Thứ nhất, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh và Đảng ta giương cao hơn bảy thập kỷ
qua đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, thu giang sơn về một mối, cả nước
đi lên chủ nghĩa xã hội. Nội dung cốt lõi, bao trùm nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về
dựng nước đi đôi với giữ nước là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy,
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không những thể hiện sự nhất
quán, trung thành với con đường mà dân tộc ta đã lựa chọn, mà còn là sự vận dụng đúng
đắn tư tưởng của Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước trong điều kiện mới.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự thể hiện tổng quát nhất, bao trùm nhất
tư tưởng dựng nước đi đôi với giữ nước của Hồ Chí Minh, đồng thời là sự phản ánh sâu
sắc tính chính trị - giai cấp trong tư tưởng của Người. Dựng nước đi đôi với giữ nước là
để cứu nước, cứu dân; là để xây dựng đất nước phồn vinh, giang sơn bền vững, trong đó
mọi người dân đều được tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự. Độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội là nhằm đạt đến mục tiêu đó. Tuy nhiên cần thấy rằng, con đường độc
đất để bồi dưỡng lực lượng nhân dân, đảm bảo kháng chiến thắng lợi. Phải đẩy mạnh
kháng chiến để bảo đảm cải cách thành công”8. Phát triển kinh tế - xã hội không chỉ tạo
điều kiện để tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước, mà còn phải tạo cơ sở cho
việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Quốc phòng, an
ninh gắn kết với kinh tế - xã hội trước hết là nhằm bảo vệ sự ổn định xã hội, sự phát triển
lành mạnh, bền vững và độc lập tự chủ về kinh tế, “phục vụ cho phát triển kinh tế - xã
hội. Mở rộng kinh tế đối ngoại”. Như vậy, quốc phòng, an ninh là phải bảo vệ và tạo điều
kiện thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ hoà
bình, ngăn chặn và đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh, làm thất bại mọi âm mưu và hành
7
ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội 1982, tr. 4
8
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 192.
11
động chống phá của các thế lực thù địch cả bên trong và bên ngoài, bảo đảm trật tự, an
toàn xã hội... là những nội dung cụ thể phản ánh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, nêu cao tinh thần độc lập tự chủ. Tư tưởng "đem sức ta mà giải phóng
cho ta", “dựa vào sức mình là chính”, “tự lực cánh sinh” của Hồ Chí Minh là tư tưởng cơ
bản chỉ đạo và tạo ra động lực to lớn làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại.
Tư tưởng ấy tiếp tục được thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ấy, tuy có sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả
của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, cũng như sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà
bình trên thế giới, nhưng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn xác định tư
tưởng cơ bản chỉ đạo của cuộc kháng chiến là: “Nâng cao tư tưởng trường kỳ kháng
miền Nam, thống nhất nước nhà...
Tư tưởng dựng nước đi đôi với giữ nước của Hồ Chí Minh là một bộ phận quan
trọng trong di sản tư tưởng của Người, đã trở thành nền tảng lý luận trực tiếp và là kim
chỉ nam cho Đảng ta trong việc đề ra đường lối cách mạng qua các thời kỳ lịch sử và nhờ
đó Đảng đã lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong quá trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã quán triệt tư tưởng dựng nước đi đôi với giữ
nước của Hồ Chí Minh và đã giành thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trước những biến động của thế
giới những năm qua, trước những thử thách và vận hội, đặc biệt là trước những âm mưu
của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, chúng ta phải nắm vững, vận dụng
sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước đi đôi với giữ nước. Theo đó
phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa
chọn; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với
củng cố quốc phòng - an ninh, kết hợp xây dựng và bảo vệ trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội; giữ vững độc lập tự chủ, bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình chủ động
hội nhập kinh tế thế giới và mở rộng quan hệ quốc tế. Thiết nghĩ nhận thức và giải quyết
13
đúng những vấn đề cơ bản đó là vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về
dựng nước đi đôi với giữ nước trong giai đoạn mới của cách mạng.
2. Vận dụng tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết
tự bảo vệ” của Lênin vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay
2.1. Một số vấn đề đặt ra trong vận dụng tư tưởng “Một cuộc cách mạng
chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ” vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ở nước ta
hiện nay
Nhân loại đang sống trong một thế giới đầy biến động với những diễn biến
phức tạp, mau lẹ, bất trắc và khó lường. Những hoạt động kinh tế, thương mại, đầu
tư, trao đổi, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các khu vực, các nhóm nước diễn ra
chủ quyền quốc gia trở nên mong manh và bị đặt lên bàn cân tính toán. Những va
chạm, xung đột, tranh chấp về lợi ích ngày càng trở nên khó kiểm soát, khó phân biệt
rạch ròi đúng - sai, chính - tà, vì thế, việc xử lý những tranh chấp đó cũng hết sức
phức tạp, kéo dài.
Tính chất phức tạp, hai chiều thuận - nghịch đan xen trong quan hệ quốc tế
càng cho thấy rõ, đất nước không thể phát triển nếu không có chiến lược phát triển
phù hợp, không hội nhập, hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng
cũng không thể yên ổn hợp tác, hội nhập nếu không có sức mạnh nội lực và không
biết tự bảo vệ mình. Quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong tình hình đầy biến
động ấy làm cho vấn đề bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi
ích quốc gia dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta tuy có những thuận
lợi, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức phức tạp. Quá say sưa tìm kiếm sự
tăng trưởng kinh tế mà lơi là, không quan tâm đúng mức đến vấn đề quốc phòng, an
ninh trong chiến lược phát triển là một hành động tự làm suy yếu khả năng tự bảo vệ,
có nguy cơ dẫn đến những hậu quả nguy hại. Tinh thần cảnh giác, ý thức tự bảo vệ
của Đảng và nhân dân ta không chỉ làm phá sản những mưu toan chống phá của các
15
thế lực thù địch, mà còn tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho bạn bè quốc tế, cho
những đối tác trong quá trình hợp tác, đầu tư với Việt Nam.
Trong bối cảnh lịch sử mới, thấm nhuần bài học cách mạng phải biết tự bảo
vệ mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã chỉ ra, chúng ta cần gia tăng hơn nữa sức
mạnh, khả năng và trình độ tự bảo vệ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống. Hội nhập quốc tế nhưng vẫn giữ được mình;
bảo vệ độc lập, chủ quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa và giữ vững môi trường hòa bình,
ổn định, củng cố mối quan hệ hợp tác với các nước; tập trung phát triển kinh tế và
chú trọng cả nhiệm vụ “trọng yếu thường xuyên” quốc phòng, an ninh; gia tăng sức
mạnh quốc phòng, an ninh còn phải tạo điều kiện cho đất nước phát triển..., là những
vấn đề lớn đặt ra đòi hỏi phải nhận thức đúng và giải quyết tốt trong tình hình mới.
khả năng để có thể đứng vững trước sự lay động của sóng gió, không còn đủ sức tự
bảo vệ mình.
Chống tham nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên thực sự là nội dung, yêu cầu đặc biệt quan
trọng, là mũi “đột phá” của vấn đề tự bảo vệ, của việc xây dựng, củng cố, tăng cường
sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, trong khi tăng cường sức mạnh tổng hợp, nâng cao
khả năng tự bảo vệ, thì đồng thời phải kiên quyết đẩy mạnh cuộc chiến chống tham
nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong
cán bộ, đảng viên. Mũi “đột phá” này là một lời giải cơ bản của bài học tự bảo vệ đối
với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đó là vấn đề rất khó, nhưng khó mấy
cũng cần phải làm và làm thật tốt. Quyết tâm chính trị này đã được Đảng ta nhấn mạnh tại
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa XI và cần được triển khai thực hiện
có hiệu quả trong thực tế.
Thứ hai, biết cách tự bảo vệ. V.I.Lê-nin từng chỉ giáo, những người cộng sản
phải thể hiện là người “có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy
mình”10. Biết tự bảo vệ đòi hỏi chúng ta phải thấm nhuần và vận dụng sáng tạo lời
10
V.I.Lê-nin: Sđd, t.38, tr. 165 - 166
17
chỉ giáo ấy trong thực tiễn. Trong tình hình mới, chúng ta phải biết “tự tổ chức, huy
động hết thảy” để tự bảo vệ, có nghĩa là, phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp, sức
mạnh của chế độ, nội lực đất nước, kết hợp với sức mạnh thời đại, sức mạnh bên
ngoài; kết hợp bảo vệ với xây dựng, lấy xây dựng để bảo vệ; kết hợp kinh tế với quốc
phòng, an ninh và đối ngoại; thực hiện nội dung và phương thức đấu tranh, tự bảo vệ
phù hợp, hiệu quả. Tập trung giải quyết tốt hai nội dung cơ bản, cấp thiết, quan hệ chặt
chẽ, không tách rời nhau: Một là, giữ vững hoà bình, ổn định để thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; hai là, tăng cường sức mạnh, khả
nước và nhân dân ta thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo bài học và nguyên lý
phát triển đó trong thực tiễn cách mạng, trong thực tiễn xây dựng Đảng, thực tiễn bảo
vệ Tổ quốc.
2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới
"Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" được Hội nghị lần thứ tám
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX) đề ra và đã đi vào
cuộc sống. Nội dung của Chiến lược đã phản ánh một cách tập trung những tư duy
mới của Đảng ta về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Đó là kết tinh trí tuệ sáng tạo của toàn
Đảng qua nhiều kỳ Đại hội, đặc biệt là sự kế thừa và phát triển những tư duy mới về
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ các Đại hội lần thứ VII, VIII và IX. Chiến lược đã xác
định đường lối và những quan điểm cơ bản về BVTQ Việt Nam XHCN của Đảng
trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với những thuận lợi và
thách thức đan xen. Trong quá trình thực hiện, đã đạt được những kết quả nổi bật là:
nhận thức của cán bộ, đảng viên, LLVT và nhân dân đối với nhiệm vụ BVTQ từng
bước được nâng lên; công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh
cho các đối tượng được đẩy mạnh, đi vào nền nếp; việc kết hợp phát triển kinh tế - xã
hội với tăng cường QP-AN và đối ngoại trên địa bàn ngày càng chặt chẽ, hiệu quả.
19
Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng toàn diện; tiềm lực, lực lượng và thế trận
QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân được tăng cường. Khu vực phòng thủ các
tỉnh (thành phố) được xây dựng theo chiều sâu ngày càng vững chắc. Việc xây dựng,
điều chỉnh lực lượng, phương án tác chiến, bố trí thế trận phòng thủ có sự phát triển
phù hợp với tình hình, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ địa bàn, nhất là trên tuyến
biên giới, ven biển và ngoài biển, đảo. Chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn
sàng chiến đấu của LLVT không ngừng được nâng lên, đủ sức làm nòng cốt trong
thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng , góp phần quan trọng bảo vệ vững chắc
một bộ phận nhân dân, nhất là thanh niên đã bị các thế lực bên ngoài kích động chạy
theo vấn đề bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử mà sao nhãng và xem nhẹ việc
bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội; từ đó, rơi vào âm mưu thâm độc của chiến
lược "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch giăng ra, hòng lợi dụng các vấn đề
nhạy cảm về chủ quyền, lãnh thổ mà lịch sử để lại để hạ bệ vai trò lãnh đạo của
Đảng, lật đổ chế độ chính trị XHCN một cách êm thấm, không cần tới chiến tranh.
Để khắc phục hạn chế đó, vấn đề đặt ra hiện nay là các cấp, các ngành phải đẩy mạnh
công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, nhằm quán triệt có hiệu quả hơn trong các
tầng lớp nhân dân về 6 nội dung trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Chiến
lược đã nêu: "Một là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ; hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; ba là, bảo vệ sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bốn là, bảo vệ lợi ích quốc
gia, dân tộc; năm là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn
hóa; sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước
theo định hướng XHCN". Điều quan trọng là phải làm cho mọi người dân hiểu rõ
hơn mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa các nội dung trong nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
(CNXH); khẳng định rõ: bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay là bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN; từ đó thường xuyên nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chăm lo xây
21
dựng và củng cố tinh thần yêu nước XHCN, kiên quyết đập tan mọi âm mưu thâm độc
trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ công cuộc đổi mới theo
định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hai là, cần nâng cao nhận thức của nhân dân về những phát triển mới trong
phương thức bảo vệ Tổ quốc hiện nay; làm cho mọi người dân thấy rõ vai trò ngày
càng nổi bật của biện pháp phi vũ trang, vấn đề kết hợp giữa xây dựng và bảo vệ, vấn
đề tự bảo vệ của mỗi cá nhân, tổ chức và bảo vệ Tổ quốc từ xa đang đòi hỏi tính chủ
kiện hệ thống XHCN thế giới không còn, thì sức mạnh bên trong của đất nước, sức
mạnh của chế độ chính trị, sự vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị, sự trong
sạch của đội ngũ cán bộ, đảng viên và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là
nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong vấn đề này, cần
sớm khắc phục những nhận thức phiến diện của một bộ phận cán bộ, đảng viên và
nhân dân khi cho rằng: tập trung làm cho kinh tế mạnh, thì tự khắc quốc phòng sẽ
mạnh. Từ đó, trong hành động thực tiễn, họ chú trọng nhiều hơn đến mục tiêu kinh
tế, mà chưa quan tâm đúng mức đến mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chưa chú ý
kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh.
Bên cạnh đó, trên cơ sở nhận thức đúng đắn về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc hiện nay,
cần làm chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của mọi tầng lớp nhân
dân về vai trò của các lực lượng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay; mà ở đó,
lực lượng vũ trang chỉ làm nòng cốt trong đấu tranh vũ trang, còn trong điều kiện đấu
tranh phi vũ trang đang nổi lên như là phương thức đấu tranh chủ yếu để bảo vệ Tổ
quốc, thì vai trò của toàn dân phải được đặt lên hàng đầu. Theo đó, mỗi người dân,
trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước XHCN, với những phương tiện mà khoa học - công
nghệ của thời đại đem lại, hoàn toàn có thể và cần phải chủ động, tự giác tham gia
bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cơ quan, đơn vị và ngành mình bằng những việc làm và hình
thức phù hợp với chức năng của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng như chức trách,
23
nghề nghiệp và phương tiện của mỗi người dân. Như thế, sẽ tạo nên sức mạnh tổng
hợp quốc gia và cũng chính là biểu hiện của hành động bảo vệ Tổ quốc từ xa, bảo vệ
Tổ quốc từ cơ sở. Cùng với tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân và Công an
nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có quy mô hợp lý, trong
điều kiện hiện nay, cần chú trọng xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực
lượng dân quân tự vệ "vững mạnh, rộng khắp", nhất là trong các doanh nghiệp tư nhân,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Bốn là, quán triệt sâu sắc hơn nữa trong mọi tầng lớp nhân dân tư duy biện
xâm lược. Theo đó, cần nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành trong tham gia
xây dựng nền quốc phòng toàn dân (cả về lực lượng và thế trận), nhất là thực hiện sự
kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh, trong
xây dựng và tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) và trong xây dựng
"thế trận lòng dân" của khu vực phòng thủ; bảo đảm việc tổ chức diễn tập khu vực
phòng thủ có sự tham gia đầy đủ hơn của các ban, ngành Trung ương, sự phối hợp
chặt chẽ của các lực lượng quân đội, công an, biên phòng (nếu có) trong khu vực
phòng thủ, nhằm nâng cao khả năng vận hành cơ chế hoạt động khu vực phòng thủ
theo tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị. Cùng với đó, tiếp tục đổi
mới nhận thức về mối quan hệ giữa quốc phòng với an ninh và đối ngoại trong điều
kiện nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; bổ sung, hoàn thiện
quy chế phối hợp giữa ba lĩnh vực này, làm rõ cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy,
quản lý sự phối hợp trong điều kiện thực hiện các cam kết quốc tế; đồng thời, tích
cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp phối hợp, kết hợp các hoạt động đối
ngoại quân sự, quốc phòng, an ninh với đối ngoại của Đảng, Nhà nước và đối ngoại
nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; nghiên cứu xây dựng Chiến lược
quốc phòng - an ninh - đối ngoại và kết hợp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân
11
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa IX, Nxb CTQG, H. 2003, tr 44
25
với thế trận an ninh nhân dân và đối ngoại nhân dân trong một chiến lược thống nhất
về bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng - an
ninh toàn dân và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh, xem đó là biện pháp cơ
bản, có tính chất nền tảng để nâng cao trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành và mọi
người dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.
KẾT LUẬN