LUẬN án TIẾN sĩ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU NÔNG sản ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước trên thế giới, nông nghiệp, nông
thôn là khu vực rất nhạy cảm và có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế
quốc dân. Vì vậy, chính sách đối với khu vực này, trong đó có chính sách
XKNS, luôn được chính phủ nhiều nước, từ các nước ĐPT đến các nước công
nghiệp phát triển quan tâm.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới, đồng thời tiến hành CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân với đặc trưng quan
trọng là một nước có cơ cấu còn nặng về nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp
Việt Nam trong thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu to lớn, đóng góp tích cực
cho thời kỳ đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trong thành tích chung đó,
phải kể tới đóng góp của chính sách XKNS Việt Nam. Tuy nhiên, sản xuất nông
nghiệp và XKNS Việt Nam hiện vẫn đang gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Nguyên
nhân của tình hình đó là do bản thân sự yếu kém của sản xuất và XKNS, do
những trở ngại từ chính sách của chính phủ nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt là
chính sách thương mại không công bằng mà chính phủ nhiều nước phát triển,
đứng đầu là Hoa Kỳ, đang áp dụng đối với hàng nông sản của các nước ĐPT,
cản trở XKNS của những nước này dưới nhiều hình thức. Đồng thời, họ còn áp
dụng các chính sách can thiệp vào thị trường lương thực thế giới, dùng lương
thực như một công cụ để chi phối nhiều quốc gia vì mục đích chính trị hơn là
kinh tế. Hơn nữa, những hạn chế trong chính sách XKNS hiện hành của ta, trong
nhiều trường hợp, cũng là nguyên nhân hạn chế sản xuất và XKNS phát triển
vững chắc.
Thực tế đó đòi hỏi Việt Nam phải có một chính sách XKNS ở thế chủ
động, linh hoạt, bảo đảm chuẩn bị tốt các điều kiện cho sản xuất nông nghiệp
Việt Nam chủ động hội nhập và phát triển một cách vững chắc trong điều kiện tự


quan ngành lúa gạo Việt Nam, Trung tâm Tin học - Bộ NN&PTNT, Hà Nội.


3

Hướng thứ hai, một số công trình nghiên cứu đối với hàng NSXK nói
chung và tìm giải pháp chung cho XKNS hoặc giải pháp cho xuất khẩu từng
mặt hàng. Có thể liệt kê một số công trình thuộc loại này như sau: Nguyễn
Hữu Khải (2000), Các giải pháp đẩy mạnh và khuyến khích sản xuất và xuất
khẩu một số sản phẩm cây công nghiệp chủ yếu của Việt Nam, Luận án tiến sĩ
Kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội; Hà Thị Ngọc Oanh (2003),
Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa trái cây xuất khẩu
của đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận
án tiến sĩ Kinh tế, Viện Nghiên cứu Thương mại, Hà Nội; PTS Nguyễn Đình
Long, PTS Nguyễn Tiến Mạnh, Nguyễn Võ Định (1999), Phát huy lợi thế,
nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội; Lê Văn Thanh (2002), Xuất khẩu hàng nông sản trong chiến
lược đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại
học Ngoại thương Hà Nội; Hoàng Thị Ngọc Loan (2004), Thị trường tiêu thụ
hàng nông sản của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập AFTA, Luận án tiến sĩ
Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Hướng thứ ba, một số tác giả tập trung phân tích ở một vài giải pháp
chuyên biệt cho sản xuất và XKNS nói chung. Chẳng hạn như các công trình:
Vũ Đức Nghiêu (3-2001), Hai yếu tố thúc đẩy tiêu thụ nông sản, Tạp chí
Thương mại, số 9, đề cập đến chính sách và giải pháp thị trường và chiến lược
sản phẩm nhằm tiêu thụ nông sản; Nguyễn Bảo Toàn (3-2001), Tổ chức sản
xuất hợp lý và đầu tư vào chế biến là hai nhân tố chủ yếu, lâu dài, giải quyết
đầu ra cho nông sản, Tạp chí Thương mại, số 8,...
Điểm chung trong các công trình thuộc nhóm này là đối tượng nghiên
cứu của các công trình là vấn đề sản xuất, XKNS hoặc năng lực cạnh tranh

dân chủ ở khu vực nông thôn) đến chính sách đất đai, chính sách thị trường,
chính sách thương mại, chính sách tín dụng, chính sách khoa học công nghệ
và khuyến nông, chính sách lâm nghiệp và các chương trình kinh tế - xã hội.
Như vậy, chính sách XKNS chỉ là một trong những chính sách được được đề
cập ở công trình này. Do vậy, những phân tích về chính sách XKNS chưa đủ


5

sâu sắc. Hơn nữa, phân tích này mới chỉ dừng ở việc trình bày tóm lược quá
trình ban hành chính sách XKNS từ 1980 - 2000 mà chưa phân tích tác động
của chính sách XKNS, cũng không có đề xuất giải pháp hoàn thiện cho chính
sách, chưa nói tới cơ sở lý luận của chính sách XKNS.
+ PTS Nguyễn Văn Bích, KS Chu Tiến Quang (1996), Chính sách
kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong công trình này, các tác giả
đã trình bày những vấn đề cơ bản về chính sách kinh tế đối với nông nghiệp,
nông thôn, quá trình đổi mới chủ trương chính sách kinh tế đối với khu vực
nông nghiệp, nông thôn từ 1981 đến 1994, đánh giá những tác động của chính
sách kinh tế đối với một số lĩnh vực cơ bản như sự tăng trưởng và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thu nhập, việc làm và đời sống
của dân cư nông thôn. Trên cơ sở đó, công trình đã nêu lên những vấn đề đặt
ra đối với kinh tế nông thôn và phương hướng hoàn thiện các chính sách và
giải pháp lớn. Tuy nhiên, các tác giả mới đề cập đến chính sách tổng hợp tác
động trực tiếp và gián tiếp tới người sản xuất nông sản, trong khi đó, nhiều
chính sách khác như thuế xuất khẩu, hạn ngạch xuất khẩu, tỷ giá... chưa được
đề cập tới. Hơn nữa, thực trạng tác động của các chính sách tới XKNS và giải
pháp hoàn thiện chúng cũng chưa được xem xét tới.
+ GS.TS Bùi Xuân Lưu (chủ biên) (2004), Bảo hộ hợp lý nông nghiệp
Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Thống kê, Hà Nội.

nhiên, đề tài mới chỉ dừng ở phân tích tác động của các chính sách đó đối với hai
mặt hàng nhạy cảm là mía đường và lúa gạo. Hơn nữa, những phân tích tác động
chính sách được giới hạn trong khoảng thời gian từ 1990 - 1997 và chủ yếu từ
1995 - 1997. Những giải pháp được đưa ra trong đề tài là giải pháp về cơ chế
phối hợp ban hành chính sách giữa Chính phủ và các cơ quan chức năng, bảo
đảm có sự ăn khớp, nhịp nhàng giữa các công cụ chính sách. Tuy nhiên, còn một
số vấn đề mà đề tài chưa đề cập tới hoặc chưa giải quyết. Đó là, chưa đưa ra giải
pháp hoàn thiện từng công cụ chính sách để hạn chế những tác động không
mong muốn của chúng; các giải pháp đưa ra ở đây nhằm mục đích điều tiết, ổn


7

định thị trường nội địa, do vậy, mục tiêu kích thích xuất khẩu, bảo đảm xuất
khẩu gạo vững chắc không phải mục tiêu được ưu tiên; tác động của một số
công cụ chính sách khác tới XKNS như chính sách nghiên cứu khoa học, công
nghệ, chính sách khuyến nông,... chưa được đề cập tới; giải pháp hoàn thiện
các chính sách khác có tác động tới các NSXK nói chung cũng chưa được bàn
tới.
+ Vụ Giá Nông Lâm Thủy sản - Ban Vật giá Chính phủ (2001), Chính
sách giá vật tư, dịch vụ nông nghiệp và giá tiêu thụ một số sản phẩm nông
nghiệp chủ yếu ở nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, Đề tài cấp bộ. Công trình này chỉ nghiên cứu công cụ giá sàn thu mua
nông sản, giá vật tư dịch vụ sản xuất nông sản. Thực trạng tác động của các
chính sách này từ năm 1990 - 2001 đã được phân tích một cách khái quát.
Trên cơ sở đó, đề tài đã đề xuất một số giải pháp có tính nguyên tắc, định
hướng chung về các chính sách này cũng như một số giải pháp chính sách cụ
thể. Trong khi đó, đề tài đã bỏ qua nhiều chủ đề quan trọng, chẳng hạn như
những giải pháp hạn chế độc quyền cung ứng vật tư nông nghiệp và thu mua
nông sản, giải pháp bảo đảm những hỗ trợ của Nhà nước đến tay người sản

đẩy tăng trưởng xuất khẩu nông, thủy sản; đánh giá về một số chính sách của
Việt Nam đối với lĩnh vực nông, thủy sản như quy định và cơ chế cấp giấy
phép, những hỗ trợ trong công tác nghiên cứu - thông tin và tiếp thị đối với các
doanh nghiệp xuất khẩu nông, thủy sản, công tác nghiên cứu và phát triển nông
nghiệp và nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn, phân tích tác động của đột biến bên
ngoài đối với tỷ lệ trao đổi thương mại của Việt Nam; tác động ngắn hạn của
việc cải cách chính sách thương mại của Việt Nam thời kỳ 1997 - 2001; tác
động dài hạn của cơ chế chính sách thương mại 2001 của Việt Nam đối với
lĩnh vực nông và ngư nghiệp... Tuy nhiên, tài liệu chưa phân tích tác động của
từng công cụ chính sách và đưa ra giải pháp hoàn thiện chúng.


9

Tất cả các công trình đã điểm qua ở trên đều chưa đề cập một cách chi
tiết, có hệ thống về chính sách XKNS Việt Nam cũng như tác động của mỗi
công cụ chính sách đối với XKNS Việt Nam từ 1989 đến nay. Nói cách khác,
các công trình của các tác giả Việt Nam và nước ngoài chưa nghiên cứu một
cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn tác động của từng công cụ, biện pháp
cũng như tác động tổng thể của chính sách XKNS Việt Nam, để từ đó đưa ra
những giải pháp hoàn thiện cho từng công cụ chính sách, nhằm nâng cao hiệu
quả tác động của mỗi công cụ, hạn chế những tác động không mong đợi của
chúng, nhằm bảo đảm cho XKNS phát triển bền vững trong điều kiện tự do
hóa thương mại.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách
XKNS Việt Nam trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, tiến hành CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; đánh giá chính sách
XKNS của Việt Nam trong giai đoạn từ 1989 đến 2004. Trên cơ sở đó, đề xuất

trọt và chăn nuôi.
Hàng NSXK được khảo sát và dùng để minh họa cho những phân tích
trong luận án cũng là những hàng NSXK chủ yếu, là sản phẩm của ngành trồng
trọt và chăn nuôi, không bao gồm lâm sản và thủy sản. Đó là các mặt hàng gạo,
cà phê, chè, tiêu, điều, cao su, rau quả, thịt lợn,...
Về thời gian, luận án nghiên cứu chính sách XKNS của Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới từ 1989 đến nay (các số liệu cập nhật đến năm 2004).
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài các phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử là những phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu
khoa học nói chung, phương pháp trừu tượng hóa thường được sử dụng trong
nghiên cứu khoa học xã hội và kinh tế nói riêng, luận án còn chú trọng sử dụng


11

các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn; phương pháp phân
tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp; phương pháp hệ thống, so sánh, thống kê,
phương pháp phỏng vấn chuyên gia...
Về phương pháp tiếp cận, luận án nghiên cứu bắt đầu từ nhóm chính
sách tác động tới tiêu thụ NSXK, cụ thể bắt đầu từ chính sách thị trường,
chính sách mặt hàng… Sau đó, luận án nghiên cứu nhóm chính sách tác động
tới sản xuất NSXK. Các chính sách tác động tới sản xuất và tiêu thụ NSXK
được gộp chung với nhóm chính sách tác động tới sản xuất NSXK.
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án có một số đóng góp mới như sau: trên cơ sở kế thừa các quan
niệm về chính sách của nhiều tác giả và vận dụng vào lĩnh vực XKNS, luận
án đã đưa ra khái niệm chính sách XKNS; xác định và làm rõ năm đặc điểm
của chính sách XKNS Việt Nam; trình bày, phân tích chi tiết và có hệ thống
quá trình đổi mới từng công cụ của chính sách XKNS Việt Nam (khoảng hơn

XKNS của Việt Nam; d) xác định vai trò của chính sách XKNS đối với các
nước ĐPT như Việt Nam và đặc điểm của chính sách XKNS Việt Nam.
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU NÔNG SẢN

1.1.1. Khái niệm, phân loại chính sách xuất khẩu nông sản
1.1.1.1. Khái niệm chính sách XKNS
Chính sách XKNS thuộc nhóm chính sách của Nhà nước. Trước khi tìm
hiểu khái niệm chính sách XKNS, cần làm rõ khái niệm chính sách nói chung.
Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rất phổ biến. Song, chính sách
là gì lại là vấn đề gây nhiều tranh cãi và có nhiều cách hiểu khác nhau trong
khoa học xã hội.
James Anderson cho rằng: "Chính sách là một quá trình hành động có
mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các
vấn đề mà họ quan tâm" [91, tr. 37].
Một số tác giả khác cho rằng: "Chính sách là phương thức hành động
được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp
đi lặp lại" [131, tr. 20].
Phân tích các lập luận của các tác giả trên, chúng ta có thể thấy chính
sách có ba đặc trưng:
- Chính sách là hệ thống các hoạt động có mục đích của chủ thể quản
lý trong việc giải quyết một vấn đề nào đó của hệ thống, của tổ chức.


14

- Chính sách là một tập hợp các bước giải quyết những vấn đề của hệ
thống của tổ chức.
- Chính sách luôn gắn với mục tiêu do chủ thể quản lý đặt ra.
Như vậy, có thể coi chính sách là phương thức hành động mà chủ thể
quản lý lựa chọn thực hiện nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu mà họ xác

Điểm đáng chú ý là Frank Ellis cũng như nhiều nhà kinh tế khác đều cho
rằng, kể cả những quyết định không can thiệp vào nền kinh tế cũng thuộc
phạm vi chính sách. Mục tiêu chính sách cũng được coi là một trong những
yếu tố của chính sách.
Ở Việt Nam, chính sách công được sử dụng từ khi có sự xuất hiện Nhà
nước. Tuy nhiên, nghiên cứu học thuật về chính sách công còn ít được chú ý.
Quan điểm của các học giả Việt Nam về cơ bản cũng thống nhất với quan
điểm của các nhà khoa học nước ngoài, tuy nhiên, cũng có điểm khác biệt.
Điểm chung trong các cách định nghĩa chính sách cụ thể của các tác
giả Việt Nam là: chính sách công là sản phẩm của Nhà nước, được Nhà nước
sử dụng để quản lý, tác động, điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể nào đó của nền
kinh tế. Mục tiêu của chính sách là các mục tiêu cụ thể hóa các mục tiêu trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, trong một thời gian nhất
định. Mỗi chính sách luôn có một hoặc nhiều mục tiêu. Chính sách sẽ trở nên
vô nghĩa khi không có mục tiêu hoặc mục tiêu không rõ ràng. Mục tiêu thay
đổi, chính sách cũng thay đổi theo để phục vụ mục tiêu. Điểm khác nhau
trong quan niệm của các tác giả Việt Nam và các tác giả nước ngoài là ở chỗ,
các định nghĩa về chính sách công không hoàn toàn giống nhau khi xác định
yếu tố cấu thành chính sách. Chẳng hạn, có tác giả coi chiến lược, quan điểm
của Nhà nước [85, tr. 217; 239] cũng là bộ phận cấu thành chính sách. Song,
có tác giả lại không quan niệm như vậy [91, tr. 48]. Quan niệm về chủ thể của
chính sách công cũng còn nhiều ý kiến khác biệt.
Trên cơ sở nghiên cứu các quan niệm của các tác giả trong và ngoài
nước, có thể đưa ra các đặc trưng cơ bản sau đây về chính sách công :
- Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước;


16

- Chính sách là một hệ thống (một tập hợp) các hoạt động của chủ thể

Thứ ba, chính sách XKNS bao gồm nhiều yếu tố cấu thành. Đó là
quan điểm, chủ trương, chiến lược, quy hoạch, nguyên tắc, công cụ, biện pháp
được Nhà nước lựa chọn. Có tác giả coi chiến lược, quy hoạch không thuộc
phạm vi chính sách. Quan niệm chính sách như vậy có phạm vi hẹp hơn và
không mâu thuẫn với khái niệm chính sách được đề cập ở đây. Mặt khác,
chính sách XKNS là chính sách tổng hợp bao gồm nhiều chính sách bộ phận,
chính sách cụ thể hợp thành.
Thứ tư, đối tượng tác động của chính sách là lĩnh vực XKNS quốc gia.
Cụ thể hơn, đó là tổng thể những hoạt động kinh tế trong lĩnh vực liên quan trực
tiếp hoặc gián tiếp tới sản xuất và tiêu thụ NSXK. Phạm vi rộng hẹp của chính
sách tùy thuộc mục đích, phạm vi nghiên cứu. Có thể nghiên cứu chính sách
XKNS chỉ giới hạn tác động ở khâu tiêu thụ nông sản. Ở phạm vi này, chính
sách XKNS là một bộ phận của chính sách thương mại đối với hàng nông sản.
Trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường nông sản trong nước
và thị trường nông sản thế giới có quan hệ gắn bó, liên hệ mật thiết với nhau,
chính sách thương mại đối với hàng nông sản phải tác động đến cả NSXK ra
nước ngoài và nông sản tiêu thụ nội địa. Mặt khác, chính sách XKNS cũng có
thể được nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn, từ khâu sản xuất NSXK tới khâu tiêu
thụ NSXK. Nghiên cứu chính sách XKNS như vậy bảo đảm tính đồng bộ, toàn
diện của quá trình XKNS. Với phạm vi này, có thể coi chính sách XKNS là phần
"giao thoa" của chính sách nông nghiệp và chính sách thương mại đối với hàng
NSXK. Luận án này nghiên cứu chính sách XKNS theo phạm vi rộng, có nghĩa
là nghiên cứu tác động của chính sách tới cả quá trình sản xuất và quá trình tiêu
thụ NSXK. Đây là điểm khác biệt giữa chính sách XKNS với các chính sách
công khác.
Thứ năm, cũng như các chính sách khác, chính sách XKNS có mục
tiêu xác định và thay đổi theo sự thay đổi của mục tiêu. Chính sách và mục
tiêu gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng mục tiêu không có trong thành phần của
chính sách XKNS. Mục tiêu của chính sách XKNS là mục tiêu trung gian,




19

* Phân loại theo chính sách tác động ở từng công đoạn của quá trình
XKNS, có nhóm chính sách tác động tới tiêu thụ NSXK (chính sách định
hướng XKNS như chính sách thị trường, chính sách mặt hàng, chính sách
XTTM đối với hàng nông sản; chính sách điều tiết XKNS như thuế XK, các
công cụ phi thuế quan…; chính sách hỗ trợ XKNS như trợ cấp xuất khẩu, tín
dụng xuất khẩu…); nhóm chính sách tác động tới sản xuất NSXK (chiến lược,
quy hoạch sản xuất NSXK, trợ giá đầu ra, hỗ trợ đầu vào, tín dụng cho người
sản xuất…); nhóm chính sách tác động tới sản xuất và tiêu thụ NSXK (chính
sách tạo mối liên kết giữa người sản xuất, doanh nghiệp, nhà nghiên cứu,
ngân hàng; chính sách tỷ giá…).
* Phân loại theo mức độ quan trọng của mục tiêu cần đạt tới của
chính sách, có chính sách XKNS phục vụ mục tiêu cơ bản, mục tiêu thứ yếu,
mục tiêu tổng hợp.
* Phân loại theo thời gian của mục tiêu cần đạt tới, có chính sách
XKNS trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn..
* Phân loại theo ba khâu trong sản xuất và phân phối. Cách phân loại
này dựa trên cơ sở cách phân loại chính sách nông nghiệp của David Colman
và Trevor Young [70, tr. 319].
- Chính sách tác động ở khâu sản xuất NSXK bao gồm các chính sách
tác động trực tiếp tới người sản xuất NSXK, làm thay đổi (điều chỉnh) quy
mô, phương hướng sản xuất, kinh doanh trong những điều kiện cụ thể với thời
gian nhất định. Thuộc nhóm này có các chính sách như chính sách trợ giá sản
phẩm NSXK, chính sách tín dụng có mục tiêu đối với các yếu tố đầu vào của
sản xuất NSXK, chính sách trợ cấp vốn đầu tư vào máy móc, hệ thống nước
tưới, chính sách chuyển hướng sử dụng đất, chính sách khuyến nông...
- Chính sách tác động ở khâu tiêu thụ tại thị trường nội địa bao gồm

nông nghiệp, nông thôn, có thu nhập thấp. Do vậy, ở các nước ĐPT, chính sách
đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chính sách XKNS, không
chỉ có tầm quan trọng đối với khu vực này mà còn có ý nghĩa lớn đối với sự phát


21

triển của quốc gia. Ở các nước ĐPT, chính sách XKNS có những vai trò chính
sau:
1.1.2.1. Chính sách XKNS góp phần khai thác và phát huy tiềm năng,
lợi thế về nông nghiệp cho tăng trưởng khu vực nông nghiệp nói riêng và
toàn bộ nền kinh tế nói chung
Ngày nay, sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước ĐPT đang ở thời
kỳ chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất nông nghiệp đa dạng hóa
sản phẩm. Mặt khác, các nước ĐPT thường có nguồn lực đất đai, lao động dồi
dào và có các điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho sản xuất nông
nghiệp. Trong khi đó, vốn và khoa học công nghệ là những nguồn lực khan
hiếm ở những nước này. Vai trò của chính sách XKNS ở các nước ĐPT, trước
hết, thể hiện ở chỗ nó giúp khai thác nguồn lực đất đai, lao động dồi dào,
chưa được sử dụng hết, khai thác những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp. Đó là sự tác động nhằm khai thác nguồn lực theo chiều
rộng. Qua đó, góp phần tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, đặc biệt cho tăng
trưởng kinh tế nông nghiệp. Chẳng hạn, việc áp dụng chính sách tự do hóa thị
trường có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ các hộ nông dân sản xuất nông sản cho
thị trường, đặc biệt cho xuất khẩu, thay vì sản xuất cho nhu cầu tiêu dùng của
gia đình họ trước đây. Đến lượt nó, động lực sản xuất NSXK khiến cho những
vùng đất bỏ hoang được khai khẩn, cải tạo, tận dụng để sản xuất NSXK,
ruộng đất được tích tụ để mở rộng quy mô sản xuất NSXK, tạo điều kiện ứng
dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp mới hiện đại, tăng hiệu quả sử dụng
đất. Chính sách thúc đẩy sản xuất NSXK buộc người nông dân phải gắn sản

làm tăng sản lượng nông nghiệp của Việt Nam: 87% của sự gia tăng sản
lượng nông nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 1998 là do tác động của
tăng lao động và vốn. Diện tích canh tác tăng chỉ làm tăng sản lượng thêm
9%. Còn sản lượng tăng thêm do cải tiến kỹ thuật cũng chỉ chiếm 4% [98, tr.
48].
Đánh giá tổng thể, những đổi mới chính sách XKNS của Việt Nam đã
góp phần vào tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của sản xuất nông
nghiệp Việt Nam từ 4%-5%. Năm 1991, kim ngạch XKNS đạt 738,2 triệu
USD (khoảng 7.118 tỷ VND), góp phần vào 41.892,6 tỷ đồng GDP nông


23

nghiệp và 76.707 tỷ VND GDP của Việt Nam. Các số liệu tương ứng của năm
2002 là 2.800 triệu USD (khoảng 11.720 tỷ VND), 150.281 tỷ VND và
535.672 tỷ VND (các số liệu trên đều tính theo giá hiện hành) [99], [122].
1.1.2.2. Chính sách xuất khẩu nông sản góp phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp, nông thôn nói riêng
theo hướng có hiệu quả
Theo lý thuyết tân cổ điển, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, với
những điều kiện chặt chẽ, nền kinh tế sẽ đạt hiệu quả Pareto. Theo đó, nguồn lực
được di chuyển phân bổ thông qua các lực lượng thị trường, hình thành một
cơ cấu kinh tế hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó chỉ ra một thị trường
cạnh tranh hoàn hảo thuần túy với đầy đủ những đặc trưng lý thuyết. Thực tế,
"cơ chế cạnh tranh hoàn hảo và tuyệt đối hiệu quả không bao giờ tồn tại", như
Paul A. Samuelson và Wiliam D. Nordhaus (1996) đã nhận định [106, tr.
565]. Tuy nhiên, lý luận về thị trường cạnh tranh với hiệu quả Pareto vẫn là
một điểm tựa lý thuyết để các nước có nền KTTT hoạch định các chính sách
không can thiệp vào thị trường, chính sách khuyến khích cạnh tranh, tự do
kinh doanh để đảm bảo có nhiều nguồn lực được sử dụng có hiệu quả thông

thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiệu quả. Vai trò của chính sách XKNS đối với
việc hình thành cơ cấu kinh tế được thể hiện ở chỗ nó tác động thúc đẩy thương
mại nông sản, từ đó, sẽ tạo điều kiện cho thị trường nông sản hình thành, phát
triển và hoàn thiện dần, tăng cường được khâu tổ chức thị trường. Chính nhờ thị
trường và cùng với thị trường, chính sách XKNS của Nhà nước có tác động lôi
kéo thêm các nguồn tài nguyên chưa được sử dụng vào sản xuất và phân bổ
hữu hiệu các yếu tố sản xuất chưa được sử dụng tốt. Do đó, làm tăng năng suất
của các yếu tố, hình thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiệu quả hơn [70, tr.
277].
Mặt khác, ở những nơi thị trường nông nghiệp đã phát triển, các quy
luật thị trường hoạt động khá mạnh, người ta thấy xuất hiện những thất bại
vốn có của thị trường nói chung. Những thất bại đó phản ánh tình trạng nền
KTTT không phân bổ được các tài nguyên một cách có hiệu quả [106, tr. 41].
Trong điều kiện đó, chính sách XKNS góp phần vào việc khắc phục phân bổ
sai lệch nguồn lực của thị trường hay làm cho nguồn lực được phân bổ một


25

cách có hiệu quả hơn bằng cách góp phần khắc phục các thất bại của thị
trường.
Ở đây, chúng ta có thể thấy rằng, tác động thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp của chính sách XKNS sẽ lan tỏa thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn. Một bộ phận lao động nông nghiệp sẽ được chuyển sang các ngành
nghề phi nông nghiệp khác ở nông thôn như chế biến NSXK, thủ công xuất khẩu,
công nghiệp và dịch vụ, hạn chế dòng di dân nông thôn ra thành thị, một hiện
tượng khá phổ biến ở các nước ĐPT. Mặt khác, chính sách XKNS kích thích
đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp cho xuất khẩu, tăng thu nhập cho nông
dân, bảo đảm an ninh lương thực, hạn chế những tổn thương cho nông dân do
tác động của thị trường, thiên tai và dịch bệnh... Thu nhập của dân cư nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status