Chuyên đề tổng quan đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn chính luận tiếng Việt(So sánh với diễn ngôn chính luận tiếng Anh) - Pdf 39

1


1. Dẫn nhập
Diễn ngôn được hiểu là một quá trình giao tiếp trong một hoàn cảnh xã
hội nhất định, sự giao tiếp đó có mục đích cụ thể rõ ràng và chịu sự chi phối của
ngữ cảnh, của thể loại. Tìm hiểu đề tài Đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn chính
luận tiếng Việt (So sánh với diễn ngôn chính luận tiếng Anh) chúng tôi muốn tìm
hiểu những nét khu biệt của diễn ngôn chính luận – một thể loại báo chí khá phổ
biến trong đời sống xã hội cũng như trong văn học. Trong phạm vi của chuyên
đề này, chúng tôi hướng tới việc tìm hiểu những nét tổng quan về tình hình
nghiên cứu liên quan đến đề tài như những nghiên cứu về báo chí, về phân tích
diễn ngôn. Đồng thời đặt ra hướng nghiên cứu chính của đề tài trên cơ sở điểm
luận những thành tựu nghiên cứu liên quan ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đặc điểm
ngôn ngữ của diễn ngôn chính luận tiếng Việt (So sánh với diễn ngôn chính
luận tiếng Anh)
2.1. Tình hình nghiên cứu về báo chí
Lịch sử báo chí đã chỉ ra rằng báo chí xuất hiện là do nhu cầu thông tin
kinh tế của con người. Điều dễ nhận thấy là rất nhiều các tác phẩm được đăng
tải trên báo và tạp chí có sử dụng văn chính luận. Tùy theo những trường hợp cụ
thể mà nhà báo dùng những hình thức và phương pháp khác nhau của văn chính
luận để phản ánh. Chính vì thế, trong phần tổng quan này, chúng tôi đặt ra một
phạm vi điểm luận rộng hơn thể loại chính luận là những nghiên cứu về báo chí
nói chung để có một cái nhìn toàn diện nhất.
2.1.1. Nghiên cứu về báo chí trên thế giới
Báo chí ra đời từ khá sớm và để tổng thuật về tình hình nghiên cứu về báo
chí trên thế giới, chúng tôi sẽ lần lượt tổng quan về thành tựu nghiên cứu ở một
số nước Tây Âu như Mĩ, Anh,…
Ở Mĩ, trong giai đoạn sơ khởi, những nghiên cứu về báo chí tập trung vào
hướng phân tích việc đưa tin tức, công tác tổ chức của báo chí và truyền hình, sự

xuất việc sản xuất tin theo hướng nhân chủng học, có nghĩa là những tin tức đưa
3


trên báo chí có thể đúng hoặc hơi thiên lệch nhưng phải tạo thành một thói quen
theo dõi tin tức của công chúng. Các phóng viên được xây dựng thành một mạng
lưới để săn tin và được phân loại theo nhóm ví dụ tin chính trị, tin giáo dục,…
Fishman (1980), trong công trình Manufacturing the news, University of
Texas Press, Austin nhấn mạnh đến việc “Theo dõi các diễn tiến, diễn dịch
chúng thành những sự kiện có ý nghĩa, điều tra bản chất sự thật của chúng và
ráp nối chúng thành những sự kiện có ý nghĩa, nối kết chúng thành những câu
chuyện” (tr 16).
Vào năm 2003, tại Hội nghị hàng năm của Hiệp hội giáo dục về báo chí
và truyền thông đại chúng lần thứ 86 đã tập trung rất nhiều chuyên đề xoay
quanh các vấn đề như: sự quan tâm của độc giả đến báo chí, các bài xã luận, vai
trò giáo dục của báo chí,…Hội nghị này đã đánh dấu sự phát triển toàn diện của
báo chí Mĩ.
Ở Anh, hầu hết các nghiên cứu về báo chí để tập trung xung quanh vấn đề
chính trị xã hội. Van Dijk cho rằng phần lớn các công trình nghiên cứu về báo
chí ở Anh chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa mác xít như ở Pháp; đồng thời chú
trọng đến tính giai cấp, ví dụ như những tin tức trên báo chí gắn liền với cuộc
đấu tranh giai cấp,…Mặc dù không phải tất cả những nhà xã hội học của người
Anh đều mang tính mác xít, chẳng hạn những trung tâm quan trọng như
Leicester, Birmingham, Glasgow, London có những quan điểm và tư tưởng
không đồng nhất nhưng tựu chung lại, xu hướng chung của hướng nghiên cứu
báo chí Anh là như thế.
Một công trình nghiên cứu có tính chính trị sâu sắc của nhóm Leicester
(1970) với các học giả tiêu biểu như Halleran, Elliott, Murdock đã làm một cuộc
khảo sát các loại bài báo như tin, phóng sự,.. xoay quanh cuộc biểu tình lớn ở
London về việc chống lại cuộc xâm lược của Hoa Kì ở Việt Nam. Cohen (1980)

Thông qua việc phân tích những sự cố trong lễ hội của người Tây Ấn ở London,
các tác giả chỉ ra rằng chính cú pháp trong văn bản tin đã thể hiện các hành động
tích cực hay tiêu cực. Harley (1981) đưa ra hướng tiếp cân từ góc độ kí hiệu học
5


đối với tin tức trên báo chí thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ, hình ảnh trên
truyền hình và các phương tiện truyền thông. Sau này VanDicjjk đã tiếp nối
những nghiên cứu này qua các công trình như News as Discourse (1987) và
News Analysis: case studies of International anh national News, in the Press
(1988). Fowler (2005) với công trình Language in the news đặc biệt chú ý
nghiên cứu ngôn ngữ và vai trò của diễn ngôn trên báo chí.
Đối với các nước Tây Âu, Van Dijk đã đánh giá cao những nghiên cứu
trước đây ở Tây Đức. Ông cho rằng hướng tiếp cận của những ngiên cứu về báo
chí Đức gần với Anh và ngoài các phân tích về thuật ngữ, về các hàm ngôn kinh
tế xã hội người Đức còn chú trọng đến cả ý thức hệ của báo chí. Có thể kể đến
một số tác giả tiêu biểu như STrassner (1975) nghiên cứu bản chất liên ngành
của diễn ngôn qua các bản tin; Grice (1975) nghiên cứu việc xử lí ngữ nghĩa
trong thông điệp của các hãng thông tấn và phân tích về các thể loại diễn ngôn
thường xuất hiện trong các chương trình thời sự, Kniffka (1980) đã nghiên cứu
về lời đề dẫn trong các bài báo; Liiger (1983) phân tích diễn ngôn trong báo chí;
Bentele (1981) tập trung nghiên cứu về kí hiệu học. Ngoài ra còn có những học
giả khác như Schmidt (1977), Bechman, Bischoff, Maldner & Loop (1977),…
Có thể nói rằng những công trình nghiên cứu về báo chí cũng như diễn
ngôn trên báo chí của các tác giả Anh, Đức, Pháp, Hoa Kì đã cho chúng ta thấy
một bề dày lịch sử của những nghiên cứu về báo chí trên thế giới. Không thể
phủ nhận rằng những kết quả nghiên cứu của quốc tế đã ảnh hưởng không nhỏ
đến Việt Nam.
2.1.2. Nghiên cứu về báo chí ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, lịch sử báo chí được tính từ thế kỉ XX bởi vì từ đầu thế

của nguyễn Đình Lương bàn về tường thuật phát thanh; Các thể kí báo chí của
Đức Dũng, 1992, bàn về một số dạng của kí; Tác phẩm báo chí, tập 3, của
Nguyễn Thế Phiệt, 1995, bàn về các thể loại bình luận, chuyên luận, xã luận;
Các thể loại chính luận báo chí (200) và Làm báo – lí thuyết và thực hành
(2001) của Trần Quang, bàn về các thể loại chính luận như tiểu luận, phê bình và
7


giới thiệu tác phẩm, điều tra, bài phản ánh, thư từ trên báo, kí, ghi nhanh, phóng
sự, các thể loại có tính trào phúng. Một công trình có tính chuyên sâu hơn là Thể
loại báo chí của tập thể tác giả năm 2005 của khoa Báo chí - trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm 2005, Trần
Quang xuất bản cuốn Kĩ thuật viết tin đề cập đến phần lí luận và thao tác nghiệp
vụ trong công tác báo chí đối với ba thể loại là tin, tường thuật và phỏng vấn.
Ngoài ra có thể kể đến một số tác giả khác đã nghiên cứu về một số khía cạnh
khác nhau của báo chí, có thể kể đến Vũ Quang Hào (2001), Dương Văn Quảng
(2002), Hoàng Anh (2003), Nguyễn Tri Niên (2004), Nguyễn Đức Dân (2007),
… Trong đó các tác giả đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ báo chí nói chung và đặc
điểm ngôn ngữ báo viết, báo hình nói riêng; cấu trúc của một bản tin và phóng
sự thể hiện cụ thể của cấu trúc đó qua những bộ phận khuôn tin, tiêu đề, đề
dẫn…;thông tin chùm trong báo chí và kĩ thuật xây dựng thông tin chùm bằng
những thao tác ngôn ngữ cụ thể; ngôn từ của nhà báo và những yêu cầu về logic
diễn đạt trong báo chí…
Bên cạnh các bài viết trên tạp chí, các công trình chuyên luận, cũng có rất
nhiều luận án bàn về các khía cạnh khác nhau của báo chí. Ví dụ như: Nguyễn
Hòa (2009) Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng
Anh và tiếng Việt hiện đại, Nguyễn Thị Thanh Hương (2003) Luận án Đối chiếu
ngôn ngữ phóng sự trong báo in tiếng Anh và tiếng Việt, Nguyễn Hữu Đức
(2007), luận án Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản in tiếng Việt (so sánh với văn
bản tin tiếng Anh đã khai thác tính văn bản của các bản văn tin Tiếng Việt so

(Broun, Bernsnein, Gumperz, Bright…). Dưới ánh sáng của ngôn ngữ học mới,
đối tượng của diễn ngôn – phân tích được mở rộng sang lĩnh vực nghiên cứu
phong cách văn hoá, nghệ thuật lời nói, các hình thức chỉ dẫn, nghiên cứu bối
cảnh xã hội và bối cảnh văn hoá của các dạng giao tiếp khác nhau: đàm thoại,
quảng cáo, bản tin (Halliday, Leech, Crystall).
9


Theo Van Dijk, đến giai đoạn 1972 – 1974, diễn ngôn – phân tích đạt tới
vị thế của một khoa học độc lập. Vào những năm 1970, thấy xuất hiện những
chuyên luận đầu tiên và những công trình tập thể dành hoàn toàn hoặc một phần
cho diễn ngôn – phân tích như một lĩnh vực tri thức liên ngành. Có thể kể đến
diễn ngôn đàm thoại (Labov, Sacs, Schegloff, Jefferson), lí thuyết hành vi lời nói
(Austin, Grice, Searle), diễn ngôn thường nhật (Goffman, Garfinkel…). Ngôn
ngữ tự nhiên trong giao tiếp đời thường bắt đầu được nghiên cứu qua lăng kính
của ngữ dụng và các tình huống xã hội, ví như hội thoại của học sinh các lớp
trong nhà trường phổ thông (Sinclair và Coulthard).
Van Dijk đưa ra nguyên tắc phân loại là hướng tiếp cận khoa học – nguồn
gốc. Hướng tiếp cận này cho phép tiến hành phân chia các lí thuyết diễn ngôn,
với điểm xuất phát là công cụ phương pháp luận của bộ môn khoa học nào đó có
ảnh hưởng nhiều nhất tới sự phát triển của diễn ngôn – phân tích ở một lát cắt
thời gian cụ thể.
Thứ hai là sự phân loại của Jacop Torfing được tập trung trong cuốn Jacob
Torfing.- Discourse Theory: Archivments, Arguments, and Chellengers //
Discourse Theory in European Politics. Identity, Policy and Governance.
Palgrave Vacmillan. 2005
Theo Jacop Torfing lí thuyết diễn ngôn xuất hiện vào cuối những năm
1970 và hậu cấu trúc luận đặt nền tảng cho sự kiến giải về diễn ngôn – lí thuyết.
Jacop Torfing phân biệt ba thế hệ lí thuyết diễn ngôn như sau:
Thế hệ thứ nhất phân tích diễn ngôn đóng khung trong ý nghĩa ngôn ngữ

(Trong bản dịch tiếng Nga, cuốn sách được xuất bản với nhan đề: Diễn ngôn phân tích. Lí luận và phương pháp, Kharkov, Nxb. Trung tâm Nhân văn học,
2004). Việc phân loại các lí thuyết diễn ngôn được thực hiện thông qua sự so
sánh ba quan điểm lí thuyết – phương pháp luận phân tích diễn ngôn mà theo
các tác giả có thể xếp chung vào cùng một lĩnh vực khoa học liên ngành: diễn
ngôn - phân tích kiến tạo - xã hội. Ba cách tiếp cận phân tích diễn ngôn theo
quan điểm kiến tạo xã hội là: 1. Lí luận diễn ngôn của Laclau và Mouffe; 2.
11


Diễn ngôn – phân tích phê bình và 3. Tâm lí học diễn ngôn. M. Jorgensen và L.
Phillips cho rằng ca ba cách tiếp cận này đều có chung một nguồn gốc từ chủ
nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc luận. Bên cạnh M. Jorgensen và L. Phillips,
những học giả tiêu biểu của xu hướng này là Laclau và Mouffe.
2.2.2. Nghiên cứu về phân tích diễn ngôn ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam không quá phức tạp như
trên thế giới. Nói một cách khái quát, diễn ngôn là một địa hạt được nhiều nhà
Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu. Chúng tôi xin điểm luận những nét chính về
nghiên cứu diễn ngôn ở Việt Nam như sau:
Nghiên cứu về ngữ pháp diễn ngôn, có thể kể đến Chu Thị Thanh Tâm
(1995), Ngữ pháp hội thoại và việc nghiên cứu đề tài diễn ngôn, Tạp chí Ngôn
ngữ số 4. Tác giả đặt ra vấn đề nghiên cứu diễn ngôn trong các cuộc hội thoại và
kết luận rằng: ngữ pháp hội thoại đem đến một cái nhìn tổng quát về cấu trúc và
chức năng của các hành vi hội thoại, dựa vào đó cúng tôi nghiên cứu các cuộc
hội thoại với những đề tài diễn ngôn nhất định”. Tôn Nữ Mỹ Nhật (2003),
(2006) Cấu trúc đề - thuyết với thực tiễn phân tích diễn ngôn, Tạp chí Ngôn ngữ
số 2/2003 và Cấu trúc và cấu trúc chức năng Tạp chí Ngôn ngữ số 8/2006
nghiên cứu về mô hình lí thuyết ngữ pháp chức năng và diễn ngôn trong giao
tiếp thực – ngôn ngữ hành chức trong những môi trường văn hóa xã hội cụ thể,
với những mục đích giao tiếp cụ thể.
Nghiên cứu về diễn ngôn và việc phân tích diễn ngôn cũng như đưa ra

Tác giả viết “Cùng với tiêu đề văn bản, dẫn đề (A: Lead, P: Chapeau) nói chung,
dẫn đề báo chí nói riêng, là yếu tố ngôn ngữ có một vai trò đặc biệt chẳng những
đối với người tạo lập văn bản mà cả đối với người nhận hiểu nó”. Cũng nghiên
cứu về vấn đề này, ở Việt Nam tuy mức độ nông sâu khác nhau, các tác giả sau
đây có đề cập đến dẫn đề: Nguyễn Hòa 2002; Vũ Quang Hào 2004; Nguyễn Đức
Dân 2007; Trịnh Sâm 1998…
Nghiên cứu về các yếu tố trong diễn ngôn như cấu trúc, các yếu tố thể
hiện màu sắc tình thái trong diễn ngôn có thể kể đến những tác giải sau: Vũ Văn
13


Đại (2002), Phân tích cấu trúc danh ngữ tiếng Việt trong diễn ngôn, Tạp chí
Ngôn ngữ số 13 đã phân tích những biến đổi về cấu trúc diễn ngôn trong diễn
ngôn cho thấy chức năng ngữ pháp của yếu tố ngôn ngữ có thể thay đổi tùy
thuộc vào những thông tin liên quan đến sự vật đã có ở ngữ cảnh trước, vào việc
phát ngôn ở trong tình huống hay ngoài tình huống. Vũ Xuân Đoàn (2003,
Những yếu tố ngôn ngữ thẻ hiện sắc thái chủ quan hoặc khách quan trong diễn
ngôn, Tạp chí Ngôn ngữ số 3 đã khẳng định răng “Các tác phẩm báo chí nằm ở
giữa và có thể dao động chút ít về hai phía: nặng về tính khách quan hoặc có pha
trộn nhiều tính chủ quan”. Nguyễn Hòa (2002), Ngữ cảnh trong lí luận phân
tích diễn ngôn, Tạp chí ngôn ngữ số 11 cho rằng “ngữ cảnh là đối tượng có liên
quan đến giao tiếp ngôn ngữ trong một tam giác: ngôn ngữ - giao tiếp – ngữ
cảnh”.
Có thể nhận thấy rằng, những nghiên cứu về diễn ngôn ở Việt Nam cũng
khá đa dạng và ở nhiều góc độ từ phạm vi nghiên cứu của diễn ngôn, ngữ pháp
diễn ngôn, cấu trúc diễn ngôn đến các yếu tố chi phối diễn ngôn…Tất cả cho
thấy một bức tranh khá toàn cảnh về việc tình hình nghiên cứu diễn ngôn ở Việt
Nam.
Nói tóm lại, trên cơ sở điểm luận những thành tựu nghiên cứu về báo chí
về diễn ngôn ở Việt Nam cũng như trên thế giới, chúng tôi nhận thấy rằng: mặc


анализ-

Екатеринбург: Издательский Дом “Дискурс-Пи”, 2006). Cuốn sách tập hợp
công trình nghiên cứu của các học giả nổi tiếng Bỉ, Hà lan, Úc và Nga; nội dung
tập trung vào hai bình diện chính: thứ nhất: Lí thuyết diễn ngôn của các khuynh
hướng, trường phái Âu – Mĩ và Nga; thứ hai: Phân tích các loại diễn ngôn, như
diễn ngôn hậu hiện đại, diễn ngôn dân chủ, công dân, công lí, diễn ngôn nhân
quyền, thủ đoạn chính trị, diễn ngôn kì thị xã hội, bản sắc vùng miền... Đây là
Quyển “I” của bộ sách đồ sộ gồm nhiều tập lấy nhan đề “Diễn ngôn học” do
Viện Nghiên cứu – khoa học, Chi nhánh Ural thuộc Viện Hàn lâm Khoa học
Liên Bang Nga tổ chức biên soạn và xuất bản.
Teun Adrianus Van Dijk định nghĩa “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn
ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động
giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào
đó. Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận
hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời”.

15


Jacob Torfing cho rằng Diễn ngôn là kết quả của những cách đọc bá
quyền mà mục đích của chúng là xác lập vai trò lãnh tụ về mặt chính trị, cũng
như đạo đức-trí tuệ”.
Roland Barthes cho rằng “Như mọi thứ diễn ngôn có tham vọng trở thành
“hiện thực”, diễn ngôn lịch sử trong tưởng tượng của nó chỉ biết mỗi sơ đồ ngữ
nghĩa hai thành phần: sự phản ánh và cái biểu đạt”.
Muara Chimombo và Robert L.Rozberi định nghĩa rằng: “Diễn ngôn là
một tiến trình phức hợp đặc biệt bao gồm vô số thành phần phụ thuộc lẫn nhau.
Nó phát sinh từ những tiến trình tinh thần giao cắt với các bình diện, ví như,

nối tiếp có mục đích chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện về các phương diện như
ngữ nghĩa, ngữ pháp, mạch lạc, liên kết…trong đó và mỗi một bài chính luận mà
chúng tôi lựa chọn khảo sát sẽ là một văn bản. Quan điểm này cũng phù hợp với
đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là diễn ngôn chính luận.
* Cấu trúc diễn ngôn
Khái niệm cấu trúc có vị trí quan trọng trong lí thuyết phân tích diễn
ngôn. O.I. Moskalskja cho rằng: “Thật vậy, trước hết nó (cấu truc) được sử dụng
trong lí thuyết chung về văn bản, lí thuyết này đã đưa ra dấu hiệu tính định hình
kết cấu như là một trong những tiêu chí khu biệt văn bản với những chuỗi câu
ngẫu nhiên không tạo thành văn bản: trong khi văn bản có một kết cấu nhất định
thì chuỗi câu ngẫu nhiên không được định hình về mặt kết cấu” [6, tr113]. Cấu
trúc diễn ngôn được nhìn nhận ở hai phương diện là cách thức tổ chức và liên
kết mạch lạc.
Thứ nhất cách thức tổ chức hay còn gọi là bố cục hoặc kết cấu của văn
bản. Đỗ Hữu Châu cho rằng “…kết cấu còn là một nghệ thuật trình bày các yếu
tố nội dung mang tính chủ quan của người viết. trong kết cấu người viết có thay
đổi trật tự” [3, tr26].
Van Dijk gọi là “Siêu cấu trúc sơ đồ - schematic superstructures- và coi
đó là “dạng thức chung của diễn ngôn và các quy ước mà theo đó người ta có

17


thể tạo lập ra một loại văn bản nào đó và nhờ vậy mà người đọc có được sự chỉ
dẫn khi xử lí văn bản” [10, tr124].
Có thể thấy rằng cấu trúc diễn ngôn là cách tổ chức các yếu tố nội dung
theo những cách thức hay trật tự nhất định. Ví dụ trong diễn ngôn cổ tích, có
một mô-típ cấu trúc quen thuộc về không gian thời gian thể hiện ở chỗ bất kì câu
chuyện nào cũng bắt đầu bằng “ngày xửa, ngày xưa,…có một…”.
Thứ hai, liên kết và mạch lạc diễn ngôn là một nét đặc trưng rất tiêu biểu.

Theo Trần Quang trong công trình Các thể loại báo chí chính luận, Nxb
Đại học quốc gia hà Nội, thì “căn cứ vào thực tiễn báo chí Việt Nam hiện nay, ta
có thể chia một cách ước lệ thành ba nhóm chính:
(1). Thể loại báo chí thông tấn gồm: tin, phỏng vấn, tường thuật, bài phản
ánh, điểm báo. Đặc điểm của thể loại này là đòi hỏi tính thời sự cao.
(2). Thể loại báo chí chính luận nghệ thuật gồm: ký, phóng sự, tiểu phẩm,
ghi nhanh, điều tra, câu chuyện báo chí ...Đặc điểm: kết hợp yếu tố chính luận
(tư liệu, sự kiện, lý lẽ, hùng biện ...) với yếu tố nghệ thuật (hình ảnh, cảm xúc,
thái độ, khái quát ...) để phản ánh và lý giải vấn đề. Các sự kiện, hiện tượng, quá
trình có thật của đời sống xã hội được phản ánh một cách sinh động hấp dẫn
bằng cách sử dụng hình ảnh, cảm xúc, và các thế mạnh khác của ngôn từ (ẩn dụ,
ngoa dụ, tính ngữ, so sánh ...), tạo cho người viết có điều kiện tiếp cận các yếu
tố văn học, nghệ thuật, thể hiện cách viết sinh động, mềm dẻo, hấp dẫn đối với
công chúng. Thông tin sự kiện, lý lẽ và thẩm mỹ là tính trội của thể loại này.
(3). Thể loại báo chí chính luận (nghị luận) gồm: xã luận, bình luận,
chuyên luận, bài phê bình. Đặc điểm: trên cơ sở các tư liệu, sự kiện, hiện tượng,
quá trình có hệ thống để phân tích, đánh giá, bình luận một vấn đề nào đó theo ý
đồ và mục đích nhất định. Có thể nói, mục đích của việc vận dụng thể loại này là
thuyết phục công chúng, giúp công chúng hiểu sự thật bằng luận cứ, luận chứng
và lý lẽ. Nói cách khác, thông tin lý lẽ là tính trội của thể loại này.
Phong cách chính luận được định nghĩa là “khuôn mẫu thích hợp để xây
dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh
19


vực chính trị xã hội. Nói cụ thể hơn, đó là vai của nhà lãnh đạo, nhà hoạt động
chính trị xã hội, đảng viên, đoàn viên, hội viên…tất cả những ai tham gia hoạt
động động viên tuyên truyền giáo dịc về mặt chính trị xã hội. Phong cách chính
luận dựa chủ yếu trên kiểu ngôn ngữ viết – phi nghệ thuật, nhưng có thể bao
gồm rộng rãi những cấu trúc của các kiểu viết và miệng – nghệ thuật của lời nói.

vấn đề đưa ra cũng như những bình luận phải xác đáng, kết luận phải thể hiện
được bản chất của vấn đề, sự kiện. Diễn ngôn chính luận báo chí vì thế cũng có
tính liên kết cao và tính mạch lạc rõ ràng. Ví dụ, một bài chính luận về tình hình
động đất có thể khiến cho người đọc xúc động nhưng một bài chính luận về tội
ác chiến tranh có thể khiến cho người đọc khơi dậy lòng căm thù. Vì thế thể loại
chính luận có khả năng tác động đến tư tưởng, tình cảm của người đọc rất mạnh
mẽ. Diễn ngôn chính luận báo chí sẽ mang những đặc trưng riêng trong rất nhiều
thể loại báo chí nói chung.
3.2. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc của luận án gồm 4 chương. Dự
kiến đề cương chi tiết luận án như sau:
Chương1: Cơ sở lý luận
Đây là bộ khung lý thuyết luận án sẽ dùng làm cơ sở để nghiên cứu những
vấn đề cụ thể ở các chương tiếp theo. Chương này luận án sẽ đề cập đến những
vấn đề sau:
1.1.

Diễn ngôn chính luận và phong cách học

1.2.

Diễn ngôn chính luận và diễn ngôn chính trị

1.3.

Diễn ngôn chính luận trong tiếng Việt và trong tiếng Anh

1.4.

Lý thuyết về phân tích diễn ngôn và thể loại diễn ngôn


3.

Một số mô hình lập luận của diễn ngôn

4.

Liên kết trong diễn ngôn

5.

Tính chất ẩn dụ ngữ pháp trong diễn ngôn

6.

Trường từ vựng có chức năng tác động trong diễn ngôn
B. Về ngữ nghĩa
Chấp nhận lý thuyết về ba siêu chức năng của Halliday M.A.K, chúng tôi
dự kiến sẽ khảo sát các phần sau đây:
1. Phân loại, miêu tả và nhận xét về nghĩa kinh nghiệm của diễn ngôn
2. Phân loại, miêu tả và nhận xét về nghĩa liên nhân của diễn ngôn
3. Phân loại, miêu tả và nhận xét về nghĩa văn bản của diễn ngôn
Chương 3: Đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của diễn ngôn chính luận
tiếng Anh
Trọng tâm của chương này là khảo sát các đặc điểm có tính chất hình thức
và ngữ nghĩa của diễn ngôn tiếng Anh. Dự kiến chương này sẽ khảo sát các chủ
đề sau đây
A. Về hình thức
1. Bố cục diễn ngôn
2. Các bước thoại của diễn ngôn

chúng tôi có những bước tiến quan trọng tiếp theo.

23


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] [2] [3] [4] [5] [8] [11] [6] [12]
A. TIẾNG VIỆT
1.

Diệp Quang Ban (2007), Tìm hiểu phân tích diễn ngôn phê bình, TC
Ngôn ngữ, Số 8.

2.

Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản,
NXB Giáo dục Việt Nam.

3.

Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Ngọc Diệu (1996), Giản yếu về ngữ pháp văn
bản, NXB Giáo dục.

4.

Vũ Văn Đại (2002), Phân tích cấu trúc danh ngữ tiếng Việt trong diễn
ngôn, TC Ngôn ngữ, Số 13.

5.


Method, New York and London.

12.

2006 Современные теории дискурса: мультидисциплинарный анализ
(Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Phân tích đa ngành) - Екатеринбург:
Издательский Дом “Дискурс-Пи”.
24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status