1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Báo chí và văn học từ xưa đến nay vốn là hai hình thái ý thức xã hội
thuộc hai lĩnh vực khác nhau nhưng luôn tồn tại mối quan hệ tác động qua lại.
Thực tế cho thấy, các tác phẩm văn học từ cổ tích, thần thoại đến văn xuôi
hiện đại muốn thành công đều phải bám chắc thực tiễn và ngược lại các bài ký
sự, phóng sự muốn hấp dẫn thì rất cần đến sự phối hợp trong tư duy văn học.
Một đặc điểm chung dễ nhận thấy giữa báo chí và văn học đó chính là ngôn
ngữ. Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng luôn được coi trọng trong các tác phẩm
báo chí và văn học. Nó chính là gia vị hấp dẫn, gây ấn tượng và tạo ra tác
động lớn tới nhận thức và cảm xúc của người tiếp nhận. Chính bởi vậy, giữa
báo chí và văn học có sự trao đổi về mặt ngôn ngữ với nhau. Văn học chính là
một kho tàng ngôn ngữ phong phú giúp cho báo chí mở rộng vốn ngôn từ của
mình. Ngôn ngữ văn học được sử dụng trong các tác phẩm báo chí từ văn hoá,
giáo dục, giải trí đến kinh tế hay cả thể thao... Và bên cạnh đó, chính văn học
cũng đã cung cấp cả nguồn nhân lực cho báo chí. Một số nhà văn cũng là
những nhà báo nổi tiếng như: Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố, Tản Đà, Vũ Bằng,
Nguyên Hồng ...
Ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX, phóng sự bắt đầu xuất hiện
và nhanh chóng khẳng định được vị trí vừa là bức tranh sinh động về toàn
cảnh thông tin thời sự vừa là nơi sự ẩn chứa nghệ thuật sử dụng ngôn từ
phong phú, hấp dẫn. Có thể nói, thế mạnh về ngôn ngữ trong phóng sự đã
đem lại một luồng gió mới vào đời sống báo chí nói chung. Trong môi trường
báo chí cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, việc sử dụng các chất liệu văn học
vào tác phẩm phóng sự báo chí đã giúp cho các nhà báo tạo nên phong cách
riêng, ấn tượng và hấp dẫn.
2
Nhiều tác phẩm của loại hình truyền hình nói chung và thể loại phóng
cách triệt để có hiệu quả, đúng ý nghĩa và đem lại hiệu quả tác động to lớn?
Làm sao để việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ tránh được những sai sót, dùng
sai mục đích, tránh gây ra sự nhàm chán, phản cảm... ? Đó là những câu hỏi
cần được làm sáng tỏ.
Do vậy, việc “Sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền
hình” trở thành một vấn đề cấp thiết được tác giả chọn làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình với mong mỏi làm sang tỏ những câu hỏi nêu trên.
Trong điều kiện cho phép, luận văn thực hiện khảo sát các phóng sự
truyền hình trên kênh VTV1 thuộc Đài Truyền hình Việt Nam thời gian từ
tháng 5/2014 đến tháng 5/2015.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, còn ít đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng thành ngữ và
tục ngữ trong các phóng sự truyền hình. Hiện tại có một số tài liệu liên quan
và tác giả luận văn xin xếp thành 3 nhóm tài liệu như sau:
• Nhóm thứ nhất, bao gồm các cuốn sách có liên quan một phần đến
đề tài nghiên cứu:
− Trần Thị Trâm (chủ biên) (2008), “Phát huy ưu thế của văn học
trong sáng tạo tác phẩm báo chí”, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Cuốn sách đã mở ra một hướng tiếp nhận mới về mối quan hệ giữa
văn học và báo chí. Tuy nhiên cuốn sách chủ yếu đề cập đến ưu thế của văn
học trong sáng tạo tác phẩm báo chí nói chung chứ không tập chung chuyên
sâu vào một thể loại nào.
− Đức Dũng, (2004), Phóng sự báo chí hiện đại, NXB Thông Tấn,
Hà Nội.
Cuốn sách tập trung nói nhiều về đặc trưng và cách thức thực hiện
một tác phẩm phóng sự báo chí. Dung lượng để nói về việc sử dụng chất
4
liệu văn học nói chung, thành ngữ, tục ngữ nói riêng trong tác phẩm phóng
VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Mặc dù luận văn đã đi vào khai thác một loại hình cụ thể là phóng sự
truyền hình nhưng chỉ chủ yếu tập trung vào việc phân tích tình hình sử dụng
ngôn ngữ chung trong phóng sự truyền hình (ngôn ngữ hình ảnh và ngôn ngữ
âm thanh), chỉ ra những ưu, nhược điểm và biện pháp khắc phục tình trạng sử
dụng thiếu chính xác ngôn ngữ của đội ngũ phóng viên làm phóng sự thuộc
Bản tin tài chính - Kinh doanh trên kênh VTV1. Cách tiếp cận này còn chưa
đi sâu vào nghiên cứu việc sử dụng những thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự
truyền hình cũng như nêu lên những ưu, nhược điểm của chất liệu ngôn ngữ
văn học này.
− Nguyễn Thị Hồng Thanh (2010), Luận văn Thạc sĩ “Sử dụng chất
liệu văn học trong sáng tạo tác phẩm báo chí thể thao”, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền.
Trong luận văn này, tác giả đã đi sâu khảo sát cách thức sử dụng chất
liệu văn học trong các thành phần cấu trúc nên một tác phẩm báo chí thể thao,
đưa ra số liệu thống kê về tần suất sử dụng trong Tít báo, Sapo, Mở - Thân Kết của một bài báo... Tuy nhiên, cách khai thác này chỉ tập trung chủ yếu
trên báo viết mà chưa khai thác đến báo truyền hình nói chung và thể loại
phóng sự truyền hình nói riêng.
• Nhóm thứ ba, bao gồm một số bài báo khoa học có những phân tích
liên quan gần đến đề tài nghiên cứu:
− Nguyễn Thị Tuyết Thu (2008), “Vận dụng chất liệu Văn học thế giới
vào báo chí Việt Nam thời hội nhập”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền
thông, số 10.
Trong đó có một mục nhỏ với tiêu đề “Chất liệu văn học thế giới
được lựa chọn phụ thuộc vào “gu” của từng nhà báo”. Trong bài báo khoa học
6
này tuy đã đề cập, khai thác đến chất liệu văn học được sử dụng trong báo chí
nhưng lại chỉ dừng lại ở việc vận dụng chất liệu văn học thế giới với những
gũi, thân thuộc với đời thường hơn?
Với mong muốn khám phá, giải thích một cách thấu đáo những câu hỏi kể
trên, với việc kế thừa những thành quả nghiên cứu trước đó, coi đó là nền tảng lý
luận và thực tiễn, tác giả luận văn sẽ đi sâu khảo sát tình trạng thực tiễn sử dụng
thành ngữ và tục ngữ trong phóng sự truyền hình trên kênh VTV1 - Đài Truyền
hình Việt Nam với mong muốn có một sự đóng góp cho việc phát triển thể loại
phóng sự truyền hình và cho sự kết nối văn học và báo chí.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua việc khảo sát các phóng sự được phát sóng trên kênh VTV1 của Đài
truyền hình Việt Nam trong thời gian từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015, ngoài
việc hệ thống hoá các lý luận liên quan, luận văn sẽ chỉ ra những ưu điểm và
hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong việc sử dụng thành ngữ, tục
ngữ trong phóng sự truyền hình thông qua các chương trình được chọn khảo
sát... ; từ đó đưa ra một số kiến nghị và đề xuất những giải pháp bước đầu
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong
phóng sự truyền hình trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam trong thời
gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về việc sử dụng thành ngữ,
tục ngữ trong phóng sự truyền hình như: Khái niệm, vai trò, thế mạnh, hạn
chế của truyền hình và việc khai thác, sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong
phóng sự truyền hình.
8
Hai là, tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích làm rõ thực trạng, thành
công, hạn chế trong việc khai thác, sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng
sự truyền hình trên kênh VTV1 hiện nay.
kênh VTV1 từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015.
Do điều kiện và thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu, khảo sát các đối tượng ở địa bàn Thủ đô Hà Nội với các nhóm
tuổi khác nhau.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cở sở phương pháp luận là các quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối của Đảng,
Nhà nước và các chủ trương, định hướng của các cơ quan ban ngành về báo
chí; một số lý thuyết về báo chí nói chung và báo chí truyền hình nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương
pháp sau đây:
− Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này được sử dụng nhằm khái quát, hệ thống hoá, bổ sung
về mặt lý thuyết về truyền hình nói chung, phóng sự trên truyền hình nói riêng
và đặc biệt là việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình.
Đây chính là những lý thuyết cơ sở để đánh giá các kết quả khảo sát thực tế
và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu.
− Phương pháp thống kê
Phương pháp này được dùng để xác định tần số xuất hiện, mức độ phát
triển, chất lượng, hiệu quả những chương trình có sử dụng thành ngữ, tục ngữ
trên kênh VTV1. Phương pháp này được thực hiện bằng cách tác giả phải lưu
10
giữ, xem lại các chương trình liên quan đến vấn đề khảo sát từ tháng 5/2014
đến tháng 5/2015.
− Phương pháp phân tích, tổng hợp
Thực hiện phương pháp này nhằm mục đích phân tích, khảo sát việc
ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình hiện nay.
− Giả thuyết thứ hai: Việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự
truyền hình trên kênh VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam dù đã được quan
tâm hơn nhưng hiệu quả đem lại còn chưa cao. Bên cạnh những điểm sáng
đáng khích lệ thì vẫn còn tồn tại những hạn chế. Nếu không có những khảo
sát, phân tích khoa học, khách quan thực trạng đang diễn ra, để từ đó chỉ ra
những điểm mạnh, điểm yếu, hạn chế, thành công đồng thời đưa ra giải pháp
hợp lý thì hoạt động sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình
trên kênh VTV1 sẽ khó phát huy hết hiệu quả có thể đạt được.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
− Về mặt lý luận - nhận thức
Luận văn hệ thống hoá và phân tích cụ thể về vai trò của việc sử
dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng sự truyền hình được phát sóng trên kênh
VTV1 hiện nay. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên
cứu và cơ sở đào tạo báo chí, thông qua việc đưa ra những phân tích cụ thể về
thực trạng và giải pháp nâng cao việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong phóng
sự truyền hình.
− Về mặt thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cho thấy một cái nhìn cụ thể, chỉ ra sự
cần thiết của việc sử dụng kết hợp thành ngư, tục ngữ vào ngôn ngữ phóng sự,
đây là một việc làm cần được phổ biến rộng hơn. Từ đó gợi mở giúp các nhà
quản lý đưa ra được những tiêu chí để có thể sản xuất các phóng sự truyền
hình có nội dung hấp dẫn hơn, phù hợp hơn với khán giả. Đồng thời, đặt ra
12
những yêu cầu với các nhà báo trong việc tìm tòi, khai thác, sử dụng sao cho
linh hoạt các thành ngữ, tục ngữ vào tác phẩm phóng sự của mình. Không
ngừng mở rộng và trau dồi vốn hiểu biết, tạo phong cách riêng và nâng cao uy
tín của cơ quan báo chí.
lượng chữ làm nên cụm từ và câu.
Không chỉ dừng lại nhận định về thành ngữ như trên, tác giả Nguyễn
Văn Tu trong cuốn Cuốn "Từ vựng học tiếng Việt hiện đại" đã nghiên cứu sâu
hơn, nâng tầm và chỉ ra khái niệm thành ngữ ở góc độ ngữ nghĩa của các từ
làm nên cấu trúc thành ngữ đó. Cụ thể theo tác giả cuốn sách: “Thành ngữ là
những cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một
trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh.
14
Nghĩa của chúng không phải nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra.Những
thành ngữ này cũng có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có.Nghĩa của
chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ
nguyên học. Một số thành ngữ trong tiếng Việt có tính chất kiểu điển tích,
điển cố nhưng nghĩa điển cố, điển tích ấy không còn được nhớ lại nữa thậm
chí là những người dùng hiện nay không cần biết lai lịch của những thành
ngữ ấy.”[22; tr. 185-186].
Đồng quan điểm như trên, tác giả Đái
Xuân Ninh trong cuốn “Hoạt động của từ
tiếng Việt”cũng cho rằng:“Thành ngữ là
một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành
đã mất tính độc lập ở cái mức nào đó và kết
hợp lại thành một khối tương đối vững chắc
và hoàn chỉnh. Ví dụ: thành ngữ “Mẹtròn
con vuông" không thể đổi thành "Mẹ cũng
tròn con cũng vuông” hay là "Mẹ tròn lắm
con vuông lắm”... [5; tr. 212]
Cùng quan điểm về góc độ ngữ nghĩa từ làm nên thành ngữ, tác giả
Nguyễn Thiện Giáptrong “Từ và nhận diện từ tiếng Việt”đã nghiên cứu và
16
chỉnh về nghĩa vừa hàm ẩn chứa đựng một hình tượng sinh động và độc
đáo”.
Điểm khác giữa thành ngữ Việt Nam và thành ngữ nước ngoài là nó
bằng tiếng Việt, do người Việt sáng tạo ra. Vì vậy, nó thể hiện những nét
riêng về văn hóa, cách dùng ngôn từ của người Việt.Qua nghiên cứu cho thấy,
thành ngữ Việt phong phú hơn thành ngữ của nhiều nước về số lượng, kèm
theo đó là những biến thể trong thành ngữ. Ví dụ: chúng ta nói "dày gió dạn
sương", nhưng cũng có thể nói "gió sương dày dạn "; chúng ta nói "dễ như trở
bàn tay", nhưng cũng có thể nói "dễ như lật bàn tay". Trật tự của các từ trong
nhóm có thể thay đổi, thậm chí từ cũng có thể thay thế, miễn là nói lên được
nguyên ý. Ví dụ: Thành ngữ được dùng để chê kẻ hết sức ngu dốt: “dốt đặc
cán mai”, “dốt dài cán thuổng”.
1.1.2.Tục ngữ
Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội phản ánh lối nói, lối nghĩ và
lối sống của nhân dân trải qua bao thời đại, lưu giữ một kho tàng tri thức, kinh
nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã
hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian".Trí
khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng
ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục
ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời
sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói
và khuyên răn.
Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản
xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra
từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học
17
12].
Như vậy nghiên cứu cho thấy có nhiều quan niệm khác nhau về thuật
ngữ này, tuy nhiên điểm chung có thể chỉ ra là tục ngữ xuất hiện từ rất sớm,
gắn với đời sống lao động của con người, để diễn đạt các kinh nghiệm của
con người. Quan niệm của nhóm tác giả của cuốn sách “Tục ngữ Việt Nam”
nói trên tương đối bao quát, rõ ràng. Tác giả luận văn xin được kế thừa khái
niệm này để phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Trong một bài viết trên tạp chí Ngôn ngữ, tác giả Nguyễn Văn Mệnh đã
khẳng định: “Giữa thành ngữ và tục ngữ có thể tìm ra được những đặc điểm
khác biệt rõ ràng ở cả hai phương diện nội dung và hình thức”. Từ nhận xét:
“Về nội dung thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng
thái, một tính cách, một thái độ” còn tục ngữ “đi đến một nhận định cụ thể
một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài
học về tư tưởng, đạo đức” và tác giả đã kết luận: “Có thể nói nội dung của
thành ngữ mang tính chất hiện tượng còn nội dung của tục ngữ mang tính
chất quy luật. Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về
hình thức ngữ pháp.“Mồi câu” của thành ngữ chỉ là một cụm từ chưa phải là
một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì khác hẳn, mỗi tục ngữ tối thiểu là một
câu."[25; tr. 3].
Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như: ca dao, truyện
cổ tích... đều là các thông báo. Nó thông báo một nhận định, một kết luận về
một phương diện nào đó của thế giới khách quan. Do vậy, mọi tục ngữ đọc
lên là “một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng...” [25; tr.41].
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” các tác giả đã định
nghĩa: Tục ngữ là “Câu ngắn gọn, có cấu trúc tương đối ổn định, đúc kết kinh
19
nghiệm sống, đạo đức, tri thức của một dân tộc. Khác với thành ngữ, tục ngữ
không bao hàm ý nghĩa khuyên răn trực tiếp. Ví dụ: Thuốc đắng dã tật, Uống
1.1.3. Lời bình của phóng sự truyền hình
- Phóng sự truyền hình:
Trong tác phẩm "Báo chí truyền hình", các tác giả G.V.Cudonhetxop,
X.L.Xvich, A.La.Iuropxki có viết: "Phóng sự là thể loại báo chí thông tin
nhanh chóng trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình về một sự kiện nào đó
mà phóng viên đã chứng kiến, can dự vào" [36, tr.59]. Với quan niệm này các
tác giả nhấn mạnh đến tính thời sự, nhanh chóng của phóng sự.
Còn tác giả Phạm Thành Hưng trong “Thuật ngữ báo chí – truyền
thông"đã định nghĩa: "Phóng sự là thể loại trần thuật diễn biến của những sự
kiện có ý nghĩa xã hội quan trọng mà tác giả đã chứng kiến, trải nghiệm ít
nhiều, với những ấn tượng, cảm xúc sống động, được trình bày dưới hình
thức văn viết, lời kể, băng ghi âm, hình ảnh truyền hình. Tác phẩm phóng sự
thường thống hợp hai yếu tố có tác động tương hỗ: thông tin về sự kiện khách
quan và quan điểm chủ kiến của tác giả" [26, tr.35].
Trong cuốn sách "Công chúng truyền hình", tác giả Trần Bảo Khánh,
có viết: "Phóng sự truyền hình là thể loại báo chí phản ánh sự kiện, hiện
tượng, vấn đề theo logíc khách quan trong quá trình phát sinh, phát triển
bằng ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh. Những thông tin này bao gồm sự kiện,
vấn đề và cả quan điểm, thái độ của nhà báo trước sự kiện, vấn đề đó". [31,
tr.59].
Cũng đồng quan điểm với các tác giả của các cuốn sách nêu trên, tác
giả Nguyễn Ngọc Oanh trong cuốn: "Phóng sự truyền hình, lý thuyết và kỹ
năng" định nghĩa: "Phóng sự truyền hình là thể loại đặc trưng của truyền
21
hình. Nó chuyển tải một nội dung thông tin nóng hổi, sinh động đến công
chúng ở thời hiện tại. Nội dung thông tin được bộc lộ theo trình tự logíc diễn
biến của sự kiện, vấn đề... qua dòng hình ảnh và âm thanh của hiện thực mà
phóng viên lựa chọn, sắp xếp. Chính kiến, thái độ và cảm xúc của phóng viên
dùng vào việc ghi chép, học tập. Nếu như khai thác là hành động số một - là
sự tìm kiếm và sử dụng là hành động tiếp theo thứ hai, là việc dùng những thứ
đã khai thác được vào một công việc, một tình huống cụ thể một cách có mục
đích để đạt hiệu quả tốt nhất. Khai thác luôn hướng tới việc là tìm kiếm mong
sao đem về (cho mình, cho đơn vị mình) những sản phẩm, vật phẩm, thông
tin… càng nhiều càng tốt thì sử dụng lại hướng tới việc dùng có chủ đích
những cái “kiếm được” đó với mong muốn sao có hiệu quả nhất.
Vậy, từ sự phân tích đó, kết hợp với những khái niệm nêu trên có thể
quan niệm:“Sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong lời bình của phóng sự truyền
hình là việc xen kẽ vào lời bình một số thành ngữ, tục ngữ hợp với nội dung
tác phẩm nhằm thay thế những câu văn xuôi diễn đạt dài dòng giúp cho tác
phẩm thêm dễ hiểu và tăng phần cảm xúc trong tiếp nhận.”. Sử dụng thành
ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng sự truyền hình là một xu thế của báo chí nói
chung và của truyền hình nói riêng. Cách đưa thành ngữ, tục ngữ vào lời bình
phóng sự truyền hình được các phóng viên, biên tập viên sử dụng từ rất lâu và
nhằm đưa ra những lời bình sâu sắc, dễ cảm nhận nhất cho người xem. Bằng
cách đưa thành ngữ, tục ngữ; lời bình phóng sự truyền hìnhvừa mang phong
cách hiện đại, vừa dí dỏm, hàm súc, gây ấn tượng cho người đọc. Do vậy, nếu
nhà báo biết vận dụng thành ngữ, tục ngữ một cách thích hợp với sự kiện thì
24
bài viết sẽ trở nên độc đáo, cô đọng, hấp dẫn hơn so với cách thể hiện thông
thường.
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng
thành ngữ, tục ngữ trong lời bình phóng
sự truyền hình
- Làm cho phóng sự trở nên “mềm mại”, giàu thông tin, cảm xúc và dễ
tiếp nhận
– Góp phần làm nên phong cách riêng của tác giả
Với đặc trưng ngắn gọn, có vần, có nhịp; thành ngữ, tục ngữ trong lời
bình phóng sự truyền hình giúp bài báo tạo ra cách nói hàm súc, gây bất ngờ,
hứng thú với bạn đọc. Việc sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo và thuần
thục làm cho câu văn có tính cân đối và nó diễn tả một nội dung sâu sắc, dễ đi
vào lòng người đọc.Nhất là với các thành ngữ, tục ngữ được sử dụng sáng tạo
như: hoán đổi vị trí các yếu tố, cải biên các yếu tố, chơi chữ…Các thành ngữ,
tục ngữ này tạo cách truyền tải thông tin cô đúc, ngắn gọn, hấp dẫn, dễ dàng
góp phần tạo nên phong cách riêng của mỗi cây bút.
Mỗi nhà báo đều có đặc trưng, phong cách riêng trong lời trần thuật của
mình. Phong cách viết cũng như phong cách ngôn ngữ của một tác giả thấm
sâu vào mọi thành tố, mọi tế bào của tác phẩm.Câu văn - đơn vị có thể chứa
tục ngữ, thành ngữ - cũng là thành tố thể hiện phong cách. Chọn hoặc sáng
tạo được câu tục ngữ thể hiện phong cách riêng của nhà báo sẽ làm hình ảnh
nhà báo còn mãi trong tâm hồn người xem truyền hình.
Trước một vấn đề, nhà báo có thể tận dụng vốn thành ngữ, tục ngữ của
dân tộc để “kể”, để “nâng tầm”, để làm sâu sắc, sâu lắng câu chuyện. Nếu biết