HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HỮU THỌ
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
KHUYẾN NGƯ NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Mã số
: 62.62.01.15
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2016
Luận án đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn: 1. PGS.TS. NGUYỄN NGUYÊN CỰ
2. TS. ĐINH VĂN ĐÃN
Phản biện 1:
PGS.TS. LÊ HỮU ẢNH
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phản biện 2:
PGS.TS. LÊ TRỌNG HÙNG
Nhằm thúc đẩy phát triển NTTS vùng ven biển, Nhà nước đã sử dụng nhiều
công cụ khác nhau, trong đó có chính sách khuyến ngư (KN).
Thời gian vừa qua, chính sách KN đã góp phần nâng cao hiệu quả NTTS
vùng ven biển Bắc Bộ. Tuy nhiên, do chính sách KN ban hành có phạm vi rộng
nên nhiều nội dung vẫn mang tính chung chung, thiếu cụ thể. Trong khi, đặc
điểm của NTTS ven biển Bắc Bộ lại có sự khác biệt rõ rệt cả về quy mô đầu tư,
hình thức nuôi và thời gian nuôi nên khi áp dụng khuôn khổ chính sách KN hiện
hành đã làm nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế tác động của KN đến NTTS.
Thời gian tới, định hướng của Nhà nước về KN sẽ có những thay đổi lớn.
KN sẽ chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa sang hoạt động theo chương trình, dự án
vận hành theo cơ chế thị trường; chuyển dần từ khu vực nhà nước sang khu vực
tư nhân; nâng cao hiệu quả đầu tư công và dịch vụ công. Hiện nay đã có một số
nghiên cứu về chính sách KN, nhưng chưa có nghiên cứu chuyên sâu về hoàn
thiện chính sách khuyến ngư NTTS vùng ven biển Bắc Bộ.
Xuất phát từ thực tiễn và định hướng trên cho thấy, việc thực hiện đề tài
luận án là cần thiết và có ý nghĩa.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách khuyến
ngư nhằm góp phần thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ven biển Bắc
Bộ trong giai đoạn tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và phát triển một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn
thiện chính sách khuyến ngư nuôi trồng thủy sản vùng ven biển;
1
- Đánh giá thực trạng hoạch định, tổ chức triển khai, mức độ tác động và
các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách khuyến ngư nuôi trồng thủy sản vùng ven
pháp phân tích cho nghiên cứu hoàn thiện chính sách khuyến ngư NTTS vùng
2
ven biển; (iii) đã mô hình hóa được các đặc điểm của khuyến ngư theo từng giai
đoạn phát triển của nuôi trồng thủy sản, từ đó chỉ ra rằng, hoàn thiện chính sách
khuyến ngư không chỉ để giải quyết những bất cập trước mắt mà còn định
hướng cho khuyến ngư vận hành theo mô hình khuyến ngư phù hợp với đặc
điểm của nuôi trồng thủy sản trong từng giai đoạn cụ thể.
Những đóng góp mới của luận án về thực tiễn, là: (i) đã thực hiện nghiên
cứu hoàn thiện chính sách khuyến ngư dựa trên một chu trình chính sách đầy đủ,
từ hoạch định chính sách, tổ chức triển khai chính sách, đánh giá tác động của
chính sách đến đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách; (ii) đã hoàn thiện chính
sách khuyến ngư cho một hoạt động thủy sản cụ thể, đó là nuôi trồng và cho một
vùng cụ thể, đó là vùng ven biển Bắc Bộ; (iii) đã hình thành nguồn thông tin
mới về thực trạng chính sách khuyến ngư và kết quả triển khai chính sách khuyến
ngư nuôi trồng thủy sản vùng ven biển Bắc Bộ để các cơ quan Trung ương, chính
quyền địa phương và các nhà nghiên cứu có thêm thông tin tham khảo.
PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH KHUYẾN NGƢ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VÙNG VEN BIỂN
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
KHUYẾN NGƢ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN
2.1.1. Một số khái niệm
Khuyến ngư, là hình thức giáo dục phi chính thức nhằm nâng cao hiểu biết
về NTTS cho các chủ thể và khuyến khích họ áp dụng để nâng cao hiệu quả
nuôi trồng. Chính sách KN, là tập hợp các định hướng, giải pháp của Nhà nước
để điều chỉnh các hoạt động KN theo mục tiêu đã định trước. Hoàn thiện chính
sách KN, là việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một hoặc một số định hướng, giải
chính sách. Những bất cập có thể nảy sinh ở nhiều khâu khác nhau trong chu
trình chính sách, nên nghiên cứu sẽ thực hiện đồng bộ 3 nội dung, gồm: i)
Nghiên cứu về hoạch định chính sách (số lượng chính sách đã ban hành, mục
tiêu, đối tượng và nội dung chính sách); ii) Nghiên cứu tổ chức triển khai chính
sách (biện pháp và kết quả sử dụng các biện pháp đưa chính sách phát huy tác
dụng trong thực tế); iii) Nghiên cứu kết quả triển khai và tác động của chính
sách (chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh mức độ bất cập và hạn chế của chính sách).
2.1.6. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chính sách khuyến ngƣ nuôi trồng thủy
sản vùng ven biển
Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách KN NTTS vùng ven biển được chia
làm 2 nhóm: (i) Nhóm ảnh hưởng đến hoạch định chính sách, như: quan điểm
của Nhà nước về KN, quy trình, nhân lực và kinh phí cho xây dựng chính sách.
4
(ii) Nhóm ảnh hưởng đến triển khai chính sách, như: sự phối hợp của các đơn vị
triển khai, chế độ cho cán bộ, khả năng đảm bảo kinh phí cho KN, đặc điểm đối
tượng thụ hưởng, sự biến động của môi trường kinh tế vĩ mô và tự nhiên.
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH KHUYẾN
NGƢ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN
Từ tổng kết kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn triển khai công tác khuyến
ngư ở một số vùng ven biển khác trong nước cho thấy, mỗi một giai đoạn phát
triển của NTTS đều có một mô hình KN đặc trưng. Mô hình KN là đặc trưng về
kiểu hình, về nội dung và cơ chế hoạt động của cả hệ thống KN, nó mang tính
quy luật của sự phát triển. Có thể tổng kết sự phát triển của KN thành 4 mô hình:
Mô hình dựa vào cung truyền thống, Mô hình dựa vào cầu có nhiều bên tham
gia, Mô hình tư nhân hóa và Mô hình kết hợp. Theo thời gian, NTTS càng phát
triển thì mô hình KN càng vận hành theo cơ chế thị trường. Các nước trên thế
giới, kể cả các nước phát triển (như Hà Lan, Phần Lan, Na Uy, Pháp) và các
của những bất cập làm cơ sở kiến nghị giải pháp hoàn thiện chính sách KN.
3.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các báo cáo và công trình nghiên cứu
của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã được công bố; các văn bản
chính sách của Nhà nước có liên quan.
- Số liệu sơ cấp: được thu thập thông qua điều tra trực tiếp. Tổng số đối
tượng đã điều tra là 470 đối tượng (phiếu), gồm: 22 cán bộ cấp Trung ương và
tỉnh; 28 cán bộ KN cấp huyện và xã; 420 hộ NTTS mặn lợ. Toàn bộ số hộ và
cán bộ cấp huyện, xã được lựa chọn tại 7 huyện ven biển của cả 5 tỉnh ven biển
Bắc Bộ (địa phương có nhiều diện tích NTTS chọn 2 huyện, ít chọn 1 huyện).
Thời gian điều tra: tháng 4 - 5/2015. Số liệu điều tra được xử lý bằng Excel.
3.3.2. Phƣơng pháp phân tích số liệu
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích mang tính truyền thống
trong nghiên cứu kinh tế, gồm: phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp
đánh giá tác động chính sách, phương pháp cho điểm, phương pháp dự báo,
phương pháp SWOT và phương pháp tham vấn chuyên gia.
3.4. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH
Số liệu điều tra được phân tổ thống kê theo 4 góc độ khác nhau: theo hình
thức nuôi trồng, theo quy mô đầu tư, theo địa phương và tổng thể. Sau khi đã
phân tổ, số liệu được xử lý theo 3 nhóm chỉ tiêu phân tích, gồm: Nhóm phản ánh
thực trạng hoạch định chính sách; Nhóm phản ảnh thực trạng tổ chức triển khai
chính sách; Nhóm phản ảnh tác động của chính sách đến kết quả NTTS.
6
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG
CHÍNH SÁCH KHUYẾN NGƢ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
7
4.2. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH KHUYẾN NGƢ NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
4.2.1. Quản lý nhà nƣớc về khuyến ngƣ
Thực hiện Nghị định 02/2010/NĐ-CP, đơn vị đầu mối thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về KN cấp quốc gia là Bộ NN và PTNT; cấp tỉnh là
UBND các tỉnh. Để thực hiện nhiệm vụ này, các đơn vị này đã giao cho nhiều
đơn vị trực thuộc để tham mưu, tư vấn thực hiện. Trong thời gian qua, các đơn
vị đã thực hiện được nhiều hoạt động cho KN. Tuy nhiên, việc giao cùng lúc cho
nhiều đơn vị, đặc biệt là cấp Trung ương đang làm nảy sinh một số bất cập trong
phối hợp công tác giữa các tỉnh ven biển với Bộ cũng như như giữa các đơn vị
trong Bộ với nhau; tạo nên sự chồng chéo, phân tán và khó thực hiện.
4.2.2. Chủ thể tổ chức các hoạt động khuyến ngƣ
- Nhóm chủ thể thuộc khu vực nhà nước: Nhóm này gồm có hệ thống KN
nhà nước, các đơn vị quản lý nhà nước, các đoàn thể - chính trị. Trong đó, hệ
thống KN nhà nước là chủ đạo. Thực hiện Nghị định 02/2010/NĐ-CP, hệ thống
KN nhà nước đã từng bước được kiện toàn. Trung bình mỗi Trung tâm KN tỉnh
có khoảng 32 cán bộ; Trạm KN huyện có khoảng 8 cán bộ; hầu hết các xã đều
có KN viên. Trong số đó, chỉ có 42,8% có trình độ từ cao đẳng trở lên; chỉ có
khoảng 8,2% có trình độ chuyên môn về thủy sản. Việc xây dựng hệ thống KN
nhà nước đã tạo cơ sở tốt cho tổ chức các hoạt động KN và hỗ trợ quản lý nhà
nước về KN. Tuy nhiên, nó đang làm nảy sinh một bất cập đó là, cơ cấu tổ chức
hiện nay được bố trí theo đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã; trong khi NTTS
mặn lợ lại phân bổ dọc theo hệ sinh thái ven biển nên vô hình chung đang tạo
nên tính nhỏ lẻ và manh mún cho khuyến ngư NTTS ven biển.
- Nhóm chủ thể thuộc khu vực tư nhân: Nhóm này chủ yếu là các doanh
nghiệp tư nhân, đại lý bán bẻ đầu vào sản xuất, các tổ chức nghiên cứu khoa học
và các NGO. Nhóm này được xem là lực lượng có khoa học kỹ thuật, có tiềm
máy), trong đó khoảng 16% là từ kinh phí Trung ương. Nếu so với các nước
trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipine, mức hỗ trợ này chỉ
bằng 10% - 20%.
4.2.5. Tuyên truyền, kiểm tra và giám sát khuyến ngƣ
- Về tuyên truyền: hệ thống chính sách KN được hình thành từ rất lâu nên
công tác tuyên truyền chính sách cho đối tượng tổ chức triển khai chính sách
tương đối thuận lợi, chủ yếu được thực hiện thông qua đường hành chính, công
văn. Đối với người thụ hưởng chính sách (chủ yếu là các hộ NTTS), đã có tới
93,5% hộ được hỏi đều biết có chính sách KN, nhưng trong số họ chỉ có 12%
biết rõ về nội dung chính sách.
- Về kiểm tra, giám sát: Thực hiện Nghị định 02/2010/NĐ-CP và các
thông tư hướng dẫn, các đơn vị cấp trên có trách nhiệm thực hiện các đợt kiểm
tra, đánh giá về tổ chức thực hiện chính sách KN cấp dưới. Tuy nhiên, có 61,9%
số cán bộ được phỏng vấn cho rằng, công tác kiểm tra, đánh giá về KN chưa
hiệu quả bởi vì địa bàn vùng ven biển đi lại khó khăn, hoạt động KN nhỏ lẻ
trong khi lực lượng cán bộ không nhiều và chế độ cho cán bộ lại thấp.
9
4.3. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
KHUYẾN NGƢ ĐẾN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VEN BIỂN BẮC BỘ
4.3.1. Đánh giá theo từng hoạt động khuyến ngƣ
a. Hoạt động thông tin tuyên truyền
- Tỷ lệ tiếp cận: 100% các hộ NTTS đều tiếp cận được với thông tin KN
qua phương tiện thông tin đại chúng.
- Chủ thể tổ chức: chưa thể xác định cụ thể theo từng loại. Tuy nhiên,
riêng KN nhà nước, trung bình mỗi tỉnh đã tổ chức được khoảng 13 buổi phát
thanh phát hình, đưa 105 tin bài trên báo, tạp chí và internet, in và phát 770 bản
tài liệu có nội dung liên quan đến NTTS cho ngư dân ven biển.
là 20,7%, số còn lại 44,2% là do gia đình tự tổ chức.
- Tỷ lệ áp dụng và tác động đến NTTS: Trong số hộ có đi thăm quan, có
tới 62,0% đã áp dụng kiến thức thăm quan vào thực tế có hiệu quả; hiệu quả là
làm tăng trung bình 5,8% lợi nhuận (khoảng 8,1 triệu đồng/hộ/năm).
d. Hoạt động tư vấn khuyến ngư: Hình thức cán bộ đến tư vấn
- Tỷ lệ tiếp cận: có 14,2% số hộ trong tổng số hộ điều tra đã được cán bộ
đến tận nhà (hoặc vùng nuôi) để tư vấn kiến thức NTTS; số còn lại là 85,8% là
chưa được cán bộ đến tư vấn.
- Nội dung thông tin: có đủ 10 nhóm thông tin được tư vấn, trong đó có 4
nhóm được tư vấn nhiều đó là: dịch bệnh, quy trình nuôi, thức ăn và các vấn đề
về chế độ chính sách.
- Chủ thể thực hiện: Trong số những hộ được cán bộ đến tư vấn, có 60,2%
là do cán bộ thuộc khu vực nhà nước, số còn lại 39,8% là do cán bộ khu vực tư
nhân. Cán bộ đến tư vấn chủ yếu là do họ tự nguyện.
- Tỷ lệ áp dụng và tác động đến NTTS: Trong số những hộ được cán bộ
đến tư vấn, chỉ có 32,2% đã áp dụng thông tin tư vấn vào nuôi trồng và có hiệu
quả; mức hiệu quả là làm tăng 4,9% lợi nhuận (tương đương khoảng 6,8 triệu
đồng/hộ/năm) so với trước khi áp dụng. Như vậy còn tới 67,8% số hộ được cán
bộ đến tư vấn nhưng không áp dụng hoặc áp dụng không hiệu quả.
e. Hoạt động tư vấn khuyến ngư: Hình thức đi tư vấn cán bộ
- Tỷ lệ tiếp cận: 13,9% trong tổng số hộ điều tra có đi tư vấn cán bộ,
những hộ đi tư vấn chủ yếu là những hộ nuôi quy mô lớn; số lần đi trung bình là
1,3 lần/năm/hộ.
- Nội dung thông tin: Cũng như các hình thức khác, vẫn tập trung nhiều
vào dịch bệnh, quy trình nuôi, con giống và thức ăn; nhưng đã có sự thay đổi,
nội dung có tập trung hơn vào vốn vay.
- Chủ thể tổ chức: Tỷ lệ hộ đi tư vấn cán bộ thuộc khu vực nhà nước là
50,5% (trong đó khuyến ngư nhà nước là 24,4%); số còn lại 49,5% là tư vấn cán
bộ khu vực tư nhân.
- Tỷ lệ áp dụng và tác động đến NTTS: Trong số những hộ có đi tư vấn,
87,2
86,1
100
Chưa tiếp cận
Tiếp cận
35,3
Đại chúng
Tập huấn
12,8
14,2
13,9
Thăm quan
Đến tư vấn
Đi tư vấn
Đồ thị 4.1. Tỷ lệ hộ tiếp cận với khuyến ngƣ (%)
b. Chủ thể tổ chức các hoạt động khuyến ngư cho hộ
12
Khu vực
Hộ gia đình
tư nhân
Tổng
tự tổ chức đi
tổ chức
n/a
n/a
n/a
31,1
0,0
100
20,7
44,2
100
39,8
0,0
100
49,5
0,0
100
Ghi chú: n/a là chưa có thông tin
c. Loại hình thông tin khuyến ngư cung cấp cho hộ
Nội dung thông tin do KN cung cấp cho hộ NTTS tương đối đa dạng, có
tới 10 nhóm thông tin. Trong đó, có 4 nhóm được cung cấp nhiều nhất, như: các
vấn đề về con giống, thức ăn, quy trình nuôi và dịch bệnh. Đặc biệt có những
60,1
67,8
86,2
Không áp dụng hoặc
áp dụng không HQ
62,0
49,8
39,9
Áp dụng hiệu quả
32,2
13,8
Đại chúng
Tập huấn
Thăm quan Đến tư vấn
Đi tư vấn
Đồ thị 4.2. Tỷ lệ hộ áp dụng kiến thức khuyến ngƣ vào NTTS (%)
e. Tác động của khuyến ngư đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản
Mức độ tác động của từng hoạt động KN đến hiệu quả NTTS là có khác
8
83
Mức sinh lãi
tăng khi áp
dụng hiệu quả
(%)
4,5
5,3
5,8
4,9
4,2
Mức lãi
tăng quy
thành tiền
(triệu/hộ)
6,2
7,4
8,1
6,8
5,8
Tổng lãi do
KN mang
lại
(triệu đồng)
104,4
264,4
120,5
- Nhân lực cho xây dựng chính sách: Số lượng, trình độ chuyên môn và
trách nhiệm của đội ngũ nhân lực xây dựng chính sách khuyến ngư được đánh
giá là tương đối tốt. Tuy nhiên, kỹ năng xây dựng chính sách còn chưa được tốt
(có 57,9% cán bộ được hỏi thống nhất với nhận định này).
- Kinh phí cho xây dựng chính sách: Nhiều hoạt động khi xây dựng chính
sách phải cần đến kinh phí. Để có chất lượng chính sách tốt, kinh phí cho xây
dựng phải đảm bảo. Tuy nhiên, theo quy định, ngân sách chỉ cấp tối đa 40 triệu
đồng cho một dự thảo nghị định và 30 triệu đồng cho một dự thảo thông tư. Nên
có 100% cán bộ cho rằng định mức này là thấp. Không nhưng thế, 72,2% cho
rằng thủ tục quyết toán khó khăn, rải ngân không kịp thời.
4.4.2. Nhóm yếu tố ảnh hƣởng đến triển khai chính sách
- Sự phối hợp giữa các đơn vị trong triển khai: Hiện nay sự phối hợp giữa
các đơn vị, trong đó có những đơn vị cùng cấp, những đơn vị theo chiều dọc
(cấp trên - dưới) trong triển khai chính sách chưa tốt. Có 71,4% cán bộ được hỏi
cho rằng sự phối hợp giữa đơn vị cấp trên với cấp dưới chưa tốt, có 94,1% cho
rằng sự phối hợp giữa các tỉnh và giữa các huyện ven biển với nhau chưa tốt.
- Cán bộ và chế độ chính sách cho cán bộ: Hiện nay, số lượng, trình độ
cán bộ và chế độ chính sách cho cán bộ trong triển khai chính sách KN chưa tốt.
Theo kết quả điều tra, có trên 81,8% số cán bộ cả 4 cấp (xã, huyện, tỉnh và
Trung ương) khi được hỏi đều đồng ý với nhận định này.
- Khả năng bố trí kinh phí: Chính sách KN còn mang nặng tính hỗ trợ,
trong khi khả năng bố trí kinh phí cho triển khai chính sách còn gặp nhiều khó
khăn. Các địa phương chỉ mới bố trí được dưới 0,3% trong tổng chi ngân sách
hàng năm cho KN. Theo kết quả điều tra, 100% cán bộ tỉnh và Trung ương,
100% cán bộ địa phương cho rằng khả năng bố trí ngân sách như thế là chưa tốt;
các hộ NTTS cũng cho rằng, sự hỗ trợ như hiện nay mới ở mức trung bình so
với mong muốn của hộ (đạt 2,75 điểm, thang điểm Likert).
- Đặc điểm đối tượng thụ hưởng chính sách: Đặc điểm của đối tượng thụ
hưởng chính sách KN vùng ven biển Bắc Bộ là rất đa dạng, đa dạng cả về vùng
nuôi, hình thức nuôi, kinh nghiệm nuôi và quy mô đầu tư nuôi. Mức đầu tư
đề chính sách có tham vấn đánh giá của cán bộ (như: loại hình hoạt động KN,
định mức hỗ trợ, kinh phí , chế độ cho cán bộ), có tới 9 vấn đề được cho là chưa
phù hợp với đặc điểm của NTTS vùng ven biển Bắc Bộ (chiếm 71%).
- Mức độ khả thi của chính sách: Các chính sách cấu thành nên khuôn
khổ chính sách khuyến ngư hiện nay đều có tính khả thi. Tuy nhiên, vẫn còn một
số nội dung trong các chính sách có mức khả thi thấp, như: những quy định về
thu hút đầu tư, lập kế hoạch KN, đấu thầu cạnh tranh dự án KN.
- Mức độ hiệu quả của chính sách: Chính sách KN có 2 mục tiêu chủ đạo
và kết quả thực tế là: (i) Về mục tiêu kinh tế: Chính sách KN đang làm tăng lãi
NTTS cho mỗi hộ khoảng 1,38 triệu đồng/năm; tính ra, cứ 1 đồng đầu tư từ ngân
sách "làm mồi" cho KN sẽ làm tăng 8 đồng lãi cho NTTS. Như vậy là hiệu quả
16
cao. Tuy nhiên, mức lãi tăng thêm này lại chỉ bằng 1% so với tổng lời từ NTTS
(139,6 triệu đồng/hộ/năm). Điều đó cho thấy, mức tác động của KN còn hạn chế
đối với NTTS. Các hộ dân đánh giá mức tác động của KN đến NTTS chỉ ở mức
yếu (đạt 2,42 điểm, thang Likert). (ii) Về mục tiêu xã hội hóa, trong những hộ có
tiếp cận được với KN, mới có 20,7% đến 49,5% tiếp cận được với KN do khu
vực tư nhân tổ chức. Nhưng KN của khu vực tư nhân lại là do bản thân họ tự
thực hiện, không phải do chính sách Nhà nước; còn sự hỗ trợ của các nhà tài trợ
cho KN thì chưa huy động được nhiều, cả nước mới được khoảng 35 tỷ
đồng/năm cho tất cả khuyến nông, khuyến lâm và khuyến ngư.
Tóm lại, mức độ đồng bộ, ổn định, phù hợp, khả thi và hiệu quả của chính
sách khuyến ngư cho NTTS vùng ven biển Bắc Bộ còn thấp, rất cần phải hoàn
thiện. Phần lớn tổ chức và 86,3% cán bộ khi phỏng vấn đều kiến nghị điều
chỉnh, sửa đổi chính sách KN cho phù hợp với NTTS vùng ven biển Bắc Bộ.
4.5.2. Những bất cập và hạn chế
4.5.2.1. Bất cập trong hoạch định chính sách
NTTS vùng ven biển Bắc Bộ như đã nêu là do nhiều nguyên nhân khác nhau, có
cả từ phía khách quan và chủ quan. Trong đó, cơ bản là:
- Nhận thức về vai trò của NTTS vùng ven biển và KN chưa đúng tầm,
còn xem nhẹ; nhận thức về mô hình KN (cách vận hành của hệ thống KN) chưa
theo kịp với sự đổi mới về thể chế và sự phát triển của NTTS ven biển Bắc Bộ;
chưa xử lý tốt mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường trong cung cấp dịch vụ
công là khuyến ngư.
- Tổ chức hoạch định chính sách chưa được coi trọng đúng mức nên chưa
huy động được lực lượng chuyên gia giỏi; chưa bố trí đủ kinh phí; chưa chú
trọng đến tham vấn đối tượng thụ hưởng chính sách và các địa phương trong quá
trình xây dựng chính sách khuyến ngư.
- Tổ chức thực hiện chính sách còn chưa quyết liệt; kiểm tra giám sát thực
thi chính sách KN còn buông lõng; việc thể chế hóa chính sách cho phù hợp với
đặc điểm của từng địa phương chưa được chú trọng; năng lực tài chính các tỉnh
còn yếu; chế độ chính sách cho cán bộ KN chưa đủ hấp dẫn.
- Bối cảnh kinh tế vĩ mô và môi trường tự nhiên giai đoạn vừa qua có
nhiều diễn biến khó lường bắt nguồn từ khủng khoảng và suy thoái nền kinh tế
toàn cầu, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, nó gây nhiều hệ lụy đến quản lý,
điều hành và tổ chức sản xuất nông nghiệp, NTTS và hoạt động KN.
PHẦN 5. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH KHUYẾN NGƢ NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
5.1. BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN KHUYẾN NGƢ
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
5.1.1. Bối cảnh thế giới
Trong giai đoạn 2016 - 2020, trên thế giới sẽ có nhiều sự thay đổi có tác
động đến sự phát triển NTTS và công tác KN, trong đó có một số xu hướng nổi
bật như: tiêu dùng thủy sản mặn lợ sẽ tăng ngày một rõ nét; hội nhập kinh tế
mô hình KN "Tư nhân hóa". Vì thế, cần điều chỉnh để hoạt động KN hướng theo
mô hình này, từng bước vận hành theo cơ chế thị trường đầy đủ.
- Khuyến ngư nhà nước cần tập trung vào quản lý và điều hành (tạo luật
chơi và kiểm soát cuộc chơi), chỉ thực hiện một số hoạt động KN mà khu vực tư
nhân không làm hoặc làm không hiệu quả; từng bước tư nhân hóa.
- Làm cho khuyến ngư trở thành một yếu tố đầu vào quan trọng và hiệu
quả trong NTTS mặn lợ ven biển Bắc Bộ.
19
5.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH KHUYẾN NGƯ
NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
5.3.1. Nhóm giải pháp cho hoạch định chính sách
a. Quản lý nhà nước về khuyến ngư
Chính sách sẽ quy định theo hướng là chỉ giao duy nhất một đơn vị có
chức năng quản lý nhà nước về KN, cụ thể là giao Tổng cục Thủy sản. Tổng cục
Thủy sản sẽ tự chịu trách nhiệm toàn diện trước Bộ trưởng Bộ NN và PTNT về
khuyến ngư; các tỉnh cũng chỉ giao duy nhất Sở Nông nghiệp và PTNT.
Hiện thực hóa giải pháp này, cần sửa đổi Thông tư 49/2015/TTBNNPTNT ngày 30/12/2015.
b. Chủ thể tổ chức các hoạt động khuyến ngư
Chính sách sẽ làm rõ vai trò của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân,
thu hút nhiều hơn sự tham gia của khu vực tư nhân. KN nhà nước tập trung vào
chức năng quản lý, định hướng và điều hành; chỉ thực hiện các hoạt động KN
khi tư nhân không làm hoặc làm không hiệu quả. Các đơn vị khác của nhà nước
không trực tiếp tổ chức các hoạt động KN, chỉ cử chuyên viên tham gia với tư
cách là tư vấn. Khi đó, khu vực tư nhân sẽ được khuyến khích hoạt động qua 3
hình thức: (i) Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí và đào tạo chuyên môn KN cho
các doanh nghiệp, đại lý khi họ tự tổ chức các hoạt động KN doanh nghiệp; (ii)
sẵn lòng chi trả phí khi tham gia các hoạt động KN (mức trả trung bình là 1,4
triệu đồng/hộ/năm); và thực tế có tới 33% trong những hộ có đi thăm quan đã tự
bỏ tiền cá nhân cho thăm quan (mức chi TB là 1,9 triệu/chuyến/người). Điều đó
cho thấy, thực hiện cơ chế thu phí là có cơ sở thành công.
Hiện thực hóa giải pháp này, cần sửa đổi, bổ sung: Nghị định
02/2010/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN và Thông tư
49/2015/TT-BNNPTNT.
e. Thay đổi cách xây dựng chính sách và ban hành chính sách
Khi xây dựng chính sách nên quy định cụ thể và chi tiết cho từng nội
dung, tránh quy định chung chung, mang tính "luật khung, luật ống". Đề nghị
Bộ NN và PTNT đưa nhiệm vụ xây dựng dự thảo chính sách vào danh mục các
đề tài khoa học Cấp bộ (có đề cương, có đấu thấu, có kinh phí và nghiệm thu) để
có nâng cao chất lượng dự thảo chính sách. Sau khi nghiệm thu, Bộ sẽ tổ chức
hoàn thiện lại dự thảo để ký hoặc trình cấp trên ký ban hành.
5.3.2. Nhóm giải pháp cho tổ chức triển khai chính sách
Khuyến ngư NTTS vùng ven biển Bắc Bộ chỉ là một bộ phận nhỏ trong
tổng thể các hoạt động khuyến nông của cả nước. Vì thế, việc hoàn thiện theo
các giải pháp như đã nêu ở phần hoạch định chính sách chỉ là có hạn và không
thể toàn diện được. Vì thế, để tiếp tục nâng cao hiệu quả KN NTTS vùng ven
biển Bắc Bộ, trong khâu tổ chức triển khai chính sách, các địa phương cần thực
hiện thêm một số giải pháp sau:
a. Thiết lập liên kết vùng trong tổ chức khuyến ngư
Các tỉnh ven biển nên thiết lập liên kết vùng trong quản lý và tổ chức các
hoạt động KN NTTS ven biển thông qua việc thành lập "Trung tâm Điều phối
KN ven biển Bắc Bộ". Khi tham vấn ý kiến cán bộ khuyến ngư ven biển, 100%
21
ý kiến cho rằng việc thành lập trung tâm như thế là hiệu quả và rất hiệu quả.
tính hiệu quả của khuyến ngư đó là chủ thể tổ chức các hoạt động khuyến ngư,
loại hình hoạt động khuyến ngư và kinh phí cho khuyến ngư. Phương pháp phổ
biến sử dụng trong nghiên cứu hoàn thiện chính sách khuyến ngư là thống kê
kinh tế, đánh giá tác động chính sách, cho điểm, dự báo kinh tế và SWOT.
22
2) Hiện nay có khoảng 14 văn bản quy phạm pháp luật tạo nên khuôn khổ
chính sách khuyến ngư NTTS ven biển Bắc Bộ. Chính sách khuyến ngư đã tạo
hành lang pháp lý và cung cấp những hỗ trợ cần thiết để khuyến ngư hoạt động,
từ đó đã tạo điều kiện cho 100% hộ NTTS vùng ven biển tiếp cận được với
thông tin khuyến ngư qua các phương tiện thông tin đại chúng và khoảng 12,8%
đến 35,3% trong số họ còn được tiếp cận thêm với các hình thức khuyến ngư
mang tính chuyên sâu như đào tạo tập huấn, thăm quan hoặc tư vấn khuyến ngư.
Chính sách khuyến ngư đã có tác động làm tăng hiệu quả kinh tế NTTS; những
hộ áp dụng khuyến ngư tốt, hiệu quả kinh tế NTTS có thể tăng thêm trung bình
4,9% (khoảng 6,9 triệu đồng/hộ/năm), tương đương với 1,38 triệu đồng/hộ/năm
nếu suy rộng ra tổng thể.
3) Bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách khuyến ngư NTTS ven
biển Bắc Bộ đang chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và bộc lộ một số bất cập.
Những bất cập ở khâu hoạch định chính sách là: nhiều đơn vị quản lý khuyến
ngư nên gây chồng chéo; định mức hỗ trợ thấp; chưa có cơ chế ưu đãi thu hút
khu vực tư nhân; công tác ban hành chính sách còn chậm và chưa hiệu quả.
Những bất cập ở khâu triển khai chính sách là: thiếu liên kết vùng, khó bố trí
kinh phí; chế độ chính sách cho cán bộ chưa đảm bảo; chưa có sự phân định rõ
ràng đối tượng chính sách. Những bất cập này xuất phát từ nhiều nguyên nhân
khác nhau, cả khách quan và chủ quan. Nó đang làm cho mức độ đồng bộ, phù
hợp, khả thi và hiệu quả của chính sách khuyến ngư chưa tốt. Hiện có tới 71%
số nội dung trong chính sách chưa phù hợp với NTTS vùng ven biển Bắc Bộ.