Đánh giá hiệu quả hoạt động khuyến mãi đối với gói dịch vụ internet ADSL của công ty cổ phần viễn thông FPT CN huế - Pdf 39

Khóa luận tốt nghiệp

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài
Đi cùng với khủng hoảng kinh tế thế giới trong những năm qua là sự cạnh tranh
ngày càng khốc liệt của các doanh nghiệp kinh doanh. Các doanh nghiệp có thể là đối thủ
cạnh tranh trực tiếp, gián tiếp hay là đối thủ tiềm ẩn thì đều có tác động đến khả năng phát
triển và sinh tồn của các doanh ngiệp khác. Để tăng khả năng cạnh tranh của mình các
doanh nghiệp có nhiều chiến lược khác nhau để áp dụng nhưng các doanh nghiệp vẫn
thường lựa chọn chiến lược Marketing để có thể đạt hiệu quả tốt nhất. Chiến lược
Marketing thường áp dụng đó là sử dụng các chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu tiêu
dùng của khách hàng. Khuyến mãi làm tăng cầu, tác động rất lớn đến hoạt dộng kinh
doanh của bất kỳ một công ty nào.
Khuyến mãi ngày càng được các doanh nghiệp sử dụng nhiều hơn, bởi vì nó là
một công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động bán hàng. Mặc dù vậy vấn đề đo lường hiệu
quả của các chương trình khuyến mãi thì vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Nếu đo
lường được hiệu quả của chương trình khuyến mãi thì các doanh nghiệp sẽ có cái nhìn
chân thực hơn về mức độ thành công trong các hoạt động khuyến mãi của mình.
Khuyến mãi đang được sử dụng nhiều đặc biệt là dành cho các sản phẩm là hàng
hóa hữu hình, bên cạnh đó đối với hàng hóa vô hình là dịch vụ thì chưa được chú trọng
nhiều, đặc biệt là để đo lường được hiệu quả chương trình khuyến mãi đối với dịch vụ.
Dịch vụ internet ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, nó đóng một vai trò không thể
thiếu trong tất cả các hoạt động của đời sống xã hội. Đầu năm 2012 công ty cổ phần
viễn thông FPT CN Huế đã triển khai một số chương trình khuyến mãi dành cho khách
hàng, khi khách hàng tiến hành lắp đặt dịch vụ mạng internet đặc biệt là đối với dịch
vụ internet ADSL. Là một công ty đi sau trong ngành dịch vụ internet tại thị trường
Huế vì vậy các chương trình khuyến mãi của công ty được tiến hành một cách rầm rộ,
nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng cũng như đạt được doanh số bán hàng nhất
định. Mặc dù kết quả của chương trình khuyến mãi quý I năm 2012 đã có nhưng hiệu
quả đạt được như thế nào thì vẫn chưa được giải đáp cụ thể.

Lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả chương trình khuyến mãi của
công ty cổ phần viễn thông FPT – CN Huế.
b. Đối tượng khảo sát:
Các chương trình khuyến mãi của công ty, các khách hàng đang sử dụng các
chương trình khuyến mãi dành cho gói dịch vụ Internet ADSL của công ty cổ phần
viễn thông FPT – CN Huế đầu năm 2012.

SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

2


Khóa luận tốt nghiệp

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
a. Phạm vi không gian: Tỉnh Thừa Thiên Huế.
b. Phạm vi thời gian:
Số liệu thứ cấp chủ yếu được thu thập trong thời gian 3 năm 2009 – 2011 và đầu
năm 2012.
Số liệu sơ cấp: Được thực hiện trong thời gian thực tập tại công ty FPT, đầu năm
2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng
+ Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn một số nhân viên kinh doanh trong
công ty, từ đó tìm ra mô hình đánh giá hiệu quả hoạt động khuyến mãi. Soạn thảo bảng
hỏi và tiến hành điều tra thử 30 khách hàng để từ đó hiệu chỉnh thang đo nhằm đảm
bảo tính tin cậy của để tài.
+ Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu định lượng dùng kỹ thuật thu thập dữ liệu
và điều tra bảng hỏi được xác lập theo bước nghiên cứu định tính. Kết quả phân tích

Z2p(1-q)
n=
e2
Do tính chất p + q =1, vì vậy p*q sẽ lớn nhất khi p = q =0,5 nên p*q =0,25. Ta
tính kích cỡ mẫu với độ tin cậy là 95 % và sai số cho phép là e = 9%. Lúc đó mẫu ta
cần chọn sẽ có kích cỡ mẫu lớn nhất
1,962 x 0,5x0,5

2

Z p(1-q)
n =

=
e

2

= 118,5
0,092

Với toàn bộ khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ internet trong thời gian 3 tháng
đầu năm 2012. Số lượng là 636 khách hàng. Chọn 119 khách hàng bằng bước nhảy K
= 6 sao cho tỷ lệ khách hàng sử dụng các gói cước trong mẫu phù hợp với tỷ lệ của
tổng thể. Nghiên cứu tiến hành phát ra 130 bảng hỏi, thu về 130 bảng hỏi hợp lệ.
+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn bảng hỏi trực tiếp với khách hàng.
Sau khi tiến hành phỏng vấn thử 30 khách hàng để kiểm tra độ tin cậy của thang
đo cũng như để đánh giá sự phù hợp của mô hình mà đề tài nghiên cứu sử dụng, đảm
bảo độ chính xác cho việc nghiên cứu chính thức. Với 30 mẫu bảng hỏi đầu tiên , kết
quả kiểm định Cronbach’s anpha của 2 biến lớn hơn Cronbach apha của biến tổng,

bình của 2 nhóm phân theo biến định tính.
- Kiểm định One-way ANOVA dùng để kiểm định sự khác biệt giữ các trung
bình của các nhóm (từ 3 nhóm trở lên) được phân loại theo biến định tính.

SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

5


Khóa luận tốt nghiệp

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lý luận cơ bản về hoạt động khuyến mãi của doanh nghiệp
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về dịch vụ
1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ là những kết quả tạo nên để đáp ứng nhu cầu khách hàng bằng các hoạt
động giao dịch giữa người cung cấp và khách hàng và bằng các hoạt động nội bộ của
bên cung cấp.
Dịch vụ là một hoạt động, bao gồm các nhân tố không hiện hữu giải quyết các
mối quan hệ giữa khách hàng và/hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu.
Theo Philip Kotler (1999): Dịch vụ là một hoạt động hoặc một lợi ích mà một
bên có thể cung cấp cho phía bên kia mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sỡ
hữu cái gì cả.
Dịch vụ là những hoạt động kinh tế mà đầu ra của chúng không phải là một sản
phẩm hay công trình vật chất, thường được tiêu dùng ngay khi được sản xuất ra và
đem lại giá trị gia tăng dưới những hình thức vô hình.
1.1.1.2 Khái niệm dịch vụ viễn thông
Dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền đưa, thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết,

các mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối
chuyển gói dữ liệu(packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn
hóa (giao thức IP). Hệ thống này liên kết hàng triệu máy tính trên thế giới thông qua
cơ sở hạn tầng viễn thông.
Ngày nay “Internet” thường được hiểu là World Wide Web do sự phổ biến và
tính tiện dụng của dịch vụ này.
b. Sự ra đời của công nghệ băng thông rộng ADSL
+ Kênh thuê bao số (DSL)
DSL, hay Digital Subcriber Line (Kênh thuê bao số), là một họ những kỹ thuật
mà nó cung cấp kết nối kỹ thuật số thông qua cáp đồng của mạng điện thoại nội hạt.
Được bắt đầu từ năm 1988, các kỹ sư tại Bell Labs đã nghĩ ra cách thức truyền tải các
tín hiệu số thông qua phổ tần số không được dùng trong dịch vụ thoại lúc bấy giờ. Vì
vậy, trên đường dây điện thoại thông thường, người ta có thể đồng thời cung cấp dịch
vụ truyền tín hiệu số khác mà không làm gián đoạn dịch vụ thoại hiện tại. Tuy nhiên
giới lãnh đạo công ty không lấy làm nhiệt tình với khám phá mới mẽ này lắm, và rõ
ràng, với tầm nhìn thiễn cận thì việc cho khách hàng phải thuê thêm một kênh điện
thoại khi một kênh không đủ dùng mang lại lợi nhuận hơn việc phải tập trung cho việc
phát triễn kỹ thuật mới. Cho tận đến cuối thập niên 1990, khi các công ty viễn thông
nhắm đến thị trường internet băng thông rộng thì thay đổi mới thực sự xảy ra. Lúc đó
SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

7


Khóa luận tốt nghiệp

để truy cập internet băng thông rộng, người dùng thích một kết nối băng thông rộng
trên đường dây sẵn có hơn là sử dụng thêm một kết nối quay số thứ hai. Và Bell Labs
mới nhớ đến đề án trước đây hòng dành lấy thị phần của mình.
Đến năm 2005 DSL cùng với cable modems là hai kỹ thuật chính cạnh tranh


Khóa luận tốt nghiệp

phương thức quay số (Dial up). Khi truyền băng thông trên đường dây điện thoại được
tách ra làm 2 phần, 1 phần nhỏ dành cho các tín hiệu như Phone, Fax. Phần lớn còn lại
dùng cho truyền tải tín hiệu ADSL. Ý nghĩa của cụm từ “bất đối xứng” trong ADSL là
do lượng dữ liệu tải xuống và tải lên không bằng nhau, với dữ liệu chủ yếu là tải
xuống.
+ Những tiện ích của dịch vụ Internet ADSL
ADSL là giải pháp ít tốn kém nhất để cung cấp tất cả các ứng dụng mới này đến
một thị trường rộng lớn vì nó sử dụng hạ tầng mạng cáp đồng điện thoại hiện hữu , có
thể dùng chung một đôi cáp điện thoại cho dịch vụ điện thoại và truy cập Internet ,
LAN hay WAN.
Tốc độ truy nhập cao: Tốc độ dowload 1,5 – 8 Mbps (nhanh hơn Modem dial up
56Kbps 140 lần) và tốc độ upload: 64 – 640 Kbps.
Tối ưu cho truy nhập mạng WAN và Internet: Tốc độ chiều xuống cao hơn rất
nhiều lần so với tốc độ chiều lên. Vừa truy nhập Internet, vừa sử dụng điện thoại. Tín
hiệu truyền độc lập so với tín hiệu thoại /Fax do đó cho phép vừa truy cập Internet,
vừa sử dụng điện thoại.
Kết nối liên tục: Liên tục giữ kết nối (Always on), không tín hiệu bận không thời
gian chờ.
Không phải quay số truy nhập
Cước phí tùy vào chính sách của ISP
Thiết bị đầu cuối rẻ.
1.1.2 Lý luận về hoạt động khuyến mãi trong doanh nghiệp dịch vụ
1.1.2.1 Khái niệm về khuyến mãi
Khuyến mãi là một thành phần quan trọng trong chiến lược xúc tiến hỗn hợp của
một doanh nghiệp, cùng với quảng cáo, quan hệ công chúng và bán hàng cá nhân. Có
nhiều quan niệm về khuyến mãi như sau:
Theo hiệp hội tiếp thị Mỹ định nghĩa: Khuyến mãi là những hoạt động tiếp thị

Khuyến mãi là hoạt động dành cho khách hàng những lợi ich trực tiếp bằng cách
gia tăng các giá trị ngoài các giá trị vốn có của bản thân hàng hóa, dịch vụ mà khách
hàng mua tại một mức giá thông thường của hàng hóa, dịch vụ đó.
Các khuyến khích có được từ hoạt động khuyến mãi thường diễn ra đồng thời tại
thời điểm và nơi quyết định mua của khách hàng.
Theo Philip Kotler khuyến mãi có 3 đặc điểm phân biệt:
Truyền thông: Khuyến mãi tạo ra sự chú ý và cung cấp thông tin có để dẫn khách
hàng đến với sản phẩm.
Khuyến khích: Là sự kết hợp các hình thức nhượng bộ, khích lệ, đóng góp nhằm
mang lại lợi ích cho khách hàng.
SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

10


Khóa luận tốt nghiệp

Lời mời: Khuyến mãi bao gồm một lời mời tham gia vào các giao dịch ngay lập
tức.
1.1.2.3 Lợi ích và hạn chế của hoạt động khuyến mãi
Khuyến mãi đưa lại những lợi ích như sau:
- Thu hút được những người sử dụng mới và khuyến khích sử dụng lại sản phẩm.
- Khuyến khích dùng nhiều và dùng thường xuyên hơn.
- Giới thiệu dịch vụ mới hoặc dịch vụ được cải tiến.
- Chống lại các hoạt động cạnh tranh
- Định giá, trưng bày hoặc các hoạt động hỗ trợ thương mại khác
- Tranh thủ các lợi thế theo mùa, theo khu vực địa lý hay lợi thế sáng tạo
- Dẫn dụ để có được các hợp đồng có quy mô lớn, dài hạn hơn
- Giảm hoặc tăng tồn kho của hệ thống phân phối hàng
- Mở rộng hoặc tăng cường hệ thống phân phối.

Được xem là phương pháp phổ biến nhất, được tiến hành bằng cách xem xét kỷ
những số liệu về mức độ tiêu thụ trước, trong và sau khi áp dụng biện pháp khuyến mãi.
Nói chung các biện pháp kích thích tiêu thụ tác động tốt nhất khi chúng lôi kéo được
khách hàng của đối thủ cạnh tranh chuyển sang dùng sản phẩm dịch vụ tốt hơn từ doanh
nghiệp. Nếu sản phẩm của công ty không tốt hơn, chắc hẳn thị phấn của nhãn hiệu đó sẽ
trở lại mức trước khi đợt khuyến mãi, khuyến mãi chỉ làm thay đổi tạm thời dạng nhu cầu
chứ không thay đổi tổng mức cầu.
- Số liệu về nhóm đại diện người tiêu thụ
Số liệu về nhóm người này sẽ cho thấy các bộ phận khách hàng đáp ứng cho đợt
khuyến mãi. Xem xét những phản hồi của họ về hoạt động khuyến mãi.
- Thăm dò người tiêu thụ
Có thể tiến hành tìm hiểu người sử dụng các sản phẩm dịch vụ của công ty trong
thời gian chương trình khuyến mãi được tiến hành đề xem xét xem họ có hài lòng với
chương trình khuyến mãi hay không, họ kỳ vọng nhận được hình thức khuyến mãi nào
và họ đang được nhận hình thức khuyến mãi nào. Khuyến mãi ảnh hưởng như thế nào
đến hành vi lựa chọn gói cước của khách hàng.
- Các cuộc thực nghiệm
Công ty cũng có thể đánh giá các chương trình khuyến mãi thông qua các cuộc
thử nghiệm thay đổi theo tính chất như giá trị khích lệ, hay giá trị phần thưởng, thời
gian kéo dài và phương tiện phân phát khác nhau.
1.2 Lý luận về hiệu quả của chương trình khuyến mãi
1.2.1 Sự cần thiết phải đo lường hiệu quả của chương trình khuyến mãi
Hiệu quả là mức độ đạt được khi so sánh kết quả đầu vào so với kết quả đầu ra.
Hiệu quả cũng là mức độ mà một hoạt động đáp ứng đúng mục đích hoặc chức năng.
SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

12


Khóa luận tốt nghiệp

SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

13


Khóa luận tốt nghiệp

Về khía cạnh doanh nghiệp, việc đo lường hiệu quả của chương trình khuyến mãi
dựa trên tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) hoặc tỷ lệ chi phí trên doanh thu, doanh số bán
hàng và sự nhận thức thương hiệu của khách hàng.

ĐÁNH GIÁ CỦA
KHÁCH HÀNG VỀ
CTKM

SỰ HÀI LÒNG
CỦA KHÁCH
HÀNG VỀ CTKM

SỰ LỰA CHỌN
GÓI CƯỚC CỦA
KHÁCH HÀNG
TRONG CTKM

ROI

HIỆU QUẢ
CỦA
CHƯƠNG
TRÌNH

Đánh giá của khách hàng về chương trình khuyến mãi
Đánh giá của khách hàng về chương trình khuyến mãi thể hiện ở các yếu tố như
mức độ hấp dẫn của chương trình khuyến mãi, sự tiết kiệm chi phí, gia tăng lợi ích,
chất lượng dịch vụ khuyến mãi, và chương trình khuyến mãi có đem lại sự tiện lợi, có
phù hợp với mong muốn của khách hàng. Để kiểm tra mối quan hệ giữa đánh giá của
khách hàng về chương trình khuyến mãi chúng ta có thể dựa vào nhận định sau: Có
mối quan hệ cùng chiều giữa hiệu quả của chương trình khuyến mãi và đánh giá của
khách hàng về chương trình khuyến mãi.
Sự hài lòng của khách hàng
Sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so
sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó.
Mức độ của sự thõa mãn là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận được và sự kỳ
vọng. Khách hàng có thể cảm nhận được một trong ba mức độ thõa mãn sau. Nếu kết
quả thực tế kém hơn so với mức độ kỳ vọng thì khách hàng sẽ không hài lòng. Nếu kết
quả tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng. Nếu kết quả thực tế vượt qua
sự mong đợi thì khách hàng rất hài lòng, vui sướng và thích thú.
Có mối quan hệ cùng chiều giữa sự hài lòng khách hàng về chương trình khuyến
mãi và hiệu quả của chương trình khuyến mãi.
Thang đo lường hiệu quả của chương trình khuyến mãi trên khía cạnh khách hàng

SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

15


Khóa luận tốt nghiệp

Bảng 1.1: Các biến đo lường hiệu quả hoạt động khuyến mãi của công ty dựa trên
khía cạnh khách hàng
STT

5

Sản phẩm, dịch vụ khuyến mãi đem lại cho tôi sự tiện lợi

Q5

6

Chương trình khuyến mãi phù hợp với mong muốn của tôi.

Q6

7

Tôi chọn FPT là nhà cung cấp dịch vụ internet ADSL vì CTKM

Q7

8

Tôi rất hài lòng về chương trình khuyến mãi của FPT.

Q8

Đo lường hiệu quả chương trình khuyến mãi trên khía cạnh doanh nghiệp
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (Return on Invenstment: ROI) Hoặc tỷ lệ chi phí trên
doanh thu
Sự hoàn vốn đầu tư là một biện pháp dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư hoặc để
so sánh hiệu quả của một số khoản đầu tư khác nhau.
Về cơ bản, ROI là một phương tiện so sánh khoản thu về từ đồng tiền công ty đã

sự hoàn vốn đầu tư.
Để kiểm tra hiệu quả của các chương trình khuyến mãi thông qua việc xem xét tỷ số
hoàn vốn của hoạt động khuyến mãi chúng ta có thể dựa theo nhận định sau:
Hệ số hoàn vốn đầu tư của các chương trình khuyến mãi và hiệu quả của chương
trình khuyến mãi có mối quan hệ cùng chiều
Hoặc: Tỷ lệ chi phí trên doanh thu của chương trình khuyến mãi có mối quan hệ
ngược chiều với hiệu quả của chương trình khuyến mãi.
Doanh số bán hàng
Chương trình khuyến mãi thành công là khi nó gia tăng doanh số trong ngắn hạn.
Nhưng nó cũng có thể mang lại doanh số đáng kể trong dài hạn nếu như nó hiệu quả.
Nếu mục tiêu của doanh nghiệp là gia tăng doanh số, gia tăng số lượng khách hàng thì
cần phải kiểm tra sự hiệu quả của chương trình dựa vào sự gia tăng doanh số và số
lượng khách hàng. Điều này được thể hiện bằng số lượng khách hàng tăng lên, tăng
doanh số bán, tăng thị phần và doanh nghiệp sẵn lòng xúc tiến các chương trình hàng
năm. Cả 3 khía cạnh trên cần phải được kiểm tra bởi vì những nhân tố này ảnh hưởng
trực tiếp đến khuyến mãi. Đánh giá hiệu quả của chương trình khuyến mãi có thể dựa

SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

17


Khóa luận tốt nghiệp

theo nhận định sau: Chương trình khuyến mãi làm tăng doanh số bán của doanh
nghiện.
Nhận thức thương hiệu
Một chương trình khuyến mãi hiệu quả sẽ làm tăng nhận thức thương hiệu. Điều
này có thể bao gồm mức độ nhận biết thương hiệu trong khu vực diễn ra chương trình
khuyến mãi và tỷ kệ dịch chuyển khách hàng mục tiêu từ nhà cung cấp khách chuyển


giải sự tụt giảm này, Viettel cho biết họ đã chuyển hướng chiến lược sang phát triển
mạng Internet băng rộng không dây trên mạng 3G. Hiện dịch vụ này đang phát triển
rất khả quan và đã có số thuê bao vượt số thuê bao ADSL của doanh nghiệp này.
Như vậy, sự chuyển hướng chiến lược của Viettel đã vô tình đẩy FPT Telecom
lên vị trí thứ 2 trên thị trường ADSL. Xét về mặt hiệu quả kinh doanh thì FPT đang là
doanh nghiệp đứng vị trí số một trên thị trường hiện nay, vượt qua cả hai doanh nghiệp
lớn VNPT và Viettel.
Năm 2009 được đánh giá là năm bứt phá mạnh mẽ về số thuê bao ADSL của
VNPT với con số thị phần cao nhất từ trước đến nay – Khoảng 75%. Năm 2009,
VNPT cũng đã có trong tay hơn 2,5 triệu thuê bao ADSL. Thế nhưng, đến năm 2010
có vẻ như VNPT đã chững lại trong việc phát triển thuê bao ADSL. Năm 2010, VNPT
đặt mục tiêu cán đích 2,8 Triệu thuê bao ADSL nhưng đến hết năm VNPT mới đạt gần
2,6 tiệu thuê bao. Như vậy, VNPT mới chỉ đạt con số phát triển thuê bao ADSL tương
đương với FPT Telecom.
Trong khi đó, VNPT có quá nhiều ưu thế hơn đối thủ như ưu thế về mạng lưới
rộng khắp đã và đang được đầu tư mạnh đến 1 tỷ USD, chất lượng dịch vụ được đánh
giá tốt nhất hiện nay. Với con số này, VNPT vẫn là nhà cung cấp dịch vụ ADSL có thị
phần lớn nhất hiện nay. Tuy nhiên, nếu số thuê bao ADSL của Viettel và FPT Telecom
chính xác như đã công bố, chắc chắn VNPT sẽ bị tụt thị phần xuống dưới 70%. Như
vậy có thể tạm chia thứ hạng trên thị trường này đứng đầu là VNPT, kế đến là FPT
Telecom và Viettel lùi về vị trí thứ ba.
Đặc điểm khá nổi bật của thị trường ADSL trong năm 2010 là các thuê bao
ADSL thay nhà mạng “như thay áo”. Liên tục trong năm, các nhà cung cấp dịch vụ
ADSL chèo khéo khách hàng bằng các chương trình khuyến mãi nặng ký như tặng
modem, miễn cước vài tháng.
Nếu nhìn vào con số luỹ kế thuê bao ADSL của VNPT cho thấy, năm 2010,
VNPT chỉ tăng thêm được gần 200.000 thuê bao và FPT Telecom mới tăng khoảng
100.000 thuê bao. Trên thực tế VNPT đã phát triển mới được khoảng 500.000 thuê
bao. Như vậy, số thuê bao ADSL rời mạng của VNPT không hề nhỏ. Viettel Telecom

cung cấp dịch vụ vẫn còn cao.
Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, tính đến cuối tháng 3/2012, số thuê bao
Internet trên cả nước ước tính đạt 4,2 triệu thuê bao, tăng 17,5%; số người sử dụng
Internet đạt 32,1 triệu người, tăng 15,3% so với cùng thời điểm năm trước. Tuy nhiên,
cũng theo số liệu trước đó của Tổng cục Thống kê thì so với thời điểm cuối tháng
2/2012, số người sử dụng Internet tháng 3 đã giảm đi nửa triệu người (từ 32,6 triệu
người dùng của tháng 2) và số lượng thuê bao Internet cũng giảm khoảng 0,1 triệu
SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

20


Khóa luận tốt nghiệp

thuê bao (từ 4,3 triệu thuê bao). So với tháng 1, số người sử dụng Internet tháng 2
cũng giảm 800 nghìn người trong khi số lượng thuê bao giữ nguyên ở mức 4,3 triệu.
Đầu năm 2012 loại hình ADSL đang cho mức tăng trưởng âm. Vì vậy mà các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh trên loại hình ADSL cần có sự thay đổi
chính sách xúc tiến sao cho phù hợp hơn để có thể tiến hành kích cầu tiêu dùng một
cách nhanh chóng, đảm bảo sự thành công cho doanh nghiệp mình.

SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

21


Khóa luận tốt nghiệp

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MÃI ĐỐI VỚI
GÓI DỊCH VỤ INTERNET ADSL CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

22


Khóa luận tốt nghiệp

Trụ sở chính:
CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN THÔNG FPT
48 Vạn Bảo, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Tel: (84-4) 7300 8888 Fax: (84-4) 7300 8889
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1997
- 31/01/1997 thành lập Trung tâm dịch vụ trực tuyến (FPT Online Exchange) với
nhiệm vụ xây dựng và phát triển mạng Trí Tuệ Việt Nam (TTVN)
- Đổi tên thành FPT Internet với các chức năng, hoạt động chính:
+ Cung cấp dịch vụ Internet (Internet Service Provider)
+ Cung cấp thông tin trên Internet (Internet Content Provider)
+ Duy trì & phát triển mạng Trí Tuệ Việt Nam (TTVN)
Năm 1998 - Là nhà cung cấp dịch vụ Internet đứng thứ 2 tại Việt Nam với 31%
thị phần
Năm 1999 - Phát triển mới 13.000 thuê bao Internet
Năm 2001 - Ra đời trang Tin nhanh Việt nam VnExpress.net
Năm 2002
- Chính thức trở thành Nhà cung cấp dịch vụ cổng kết nối Internet (IXP)
- Báo điện tử VnExpress được cấp giấy phép hoạt động báo chí
Năm 2003
- Được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ Internet Phone
- Báo điện tử VnExpress được tạp chí PC World bình chọn là báo điện tử tiếng
Việt được ưa chuộng nhất trên mạng Internet và được các nhà báo CNTT bầu chọn là
1 trong 10 sự kiện CNTT Việt Nam 2003
- Thành lập Công ty Truyền thông FPT trên cơ sở sáp nhập FPT Internet Hà Nội

Năm 2008
- Ngày 29/01/2008, FPT Telecom chính thức trở thành thành viên của Liên minh
AAG (Asia – American Gateway), cùng tham gia đầu tư vào tuyến cáp quang biển
quốc tế trên biển Thái Bình Dương.
- Tiếp tục được cấp phép kinh doanh dịch vụ VoIP, FPT Telecom có đầy đủ cơ sở
để chủ động triển khai đồng bộ các loại dịch vụ viễn thông trên cùng 1 hạ tầng theo
đúng mục tiêu đã đề ra: “Mọi dịch vụ trên một kết nối”
- 01/04/2008, FPT Telecom chính thức hoạt động theo mô hình Tổng công ty với
9 công ty thành viên được thành lập mới.
- Tháng 8/2008, FPT Telecom và công ty TNHH PCCW Global (chi nhánh của
nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông hàng đầu HongKong) chính thức ký thỏa thuận hợp
tác kết nối mạng. Với sự hợp tác này, PCCW Global có thể cung cấp dịch vụ với nhiều
cấp độ khác nhau cho các khách hàng tại Việt Nam nhằm tối đa hóa việc sử dụng băng
SVTH: Lê Phương Nam – K42 TM

24


Khóa luận tốt nghiệp

thông sử dụng công nghệ chuyển mạch đa nhãn (MPLS). Riêng FPT Telecom, ngoài
các dịch vụ truyền số liệu nội hạt, liên tỉnh, kênh thuê riêng Internet, FPT sẽ cung cấp
các dịch vụ cao cấp hơn như thuê kênh Quốc tế, mạng riêng ảo VPN Quốc tế, Kênh IP
Quốc tế (MPLS).
Năm 2009
- Tháng 2/2009, FPT Telecom đã triển khai thành công dự án thử nghiệm công
nghệ WiMAX di động với tần số 2,3 Ghz tại trụ sở FPT Telecom. Kết quả này đã mở
ra cho FPT Telecom nhiều cơ hội trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ viễn
thông sử dụng công nghệ WiMAX di động.
- Từ tháng 3/2009, FPT Telecom chính thức triển khai gói cước mới: Triple Play


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status