Ứng dụng mô hình CAMELS vào phân tích hoạt động và rủi ro tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam VIB - Pdf 39

GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Từ lâu, NH là một trong những ngành được chính phủ các nước đặc biệt quan
tâm và nhận được sự giám sát chặt chẽ trong nền kinh tế. Hệ thống NH lớn mạnh được
xem là nhân tố quan trọng kích thích nền kinh tế của quốc gia phát triển ổn định. Hoạt
động của NH có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực và nhiều đối tượng khác nhau
và là hoạt động chứa nhiều rủi ro. Rủi ro trong hoạt động NH là rủi ro mang tính hệ

uế

thống và có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kì rủi ro của loại hình

H

doanh nghiệp nào. Chính vì thế việc giám sát và phòng ngừa rủi ro của hệ thống NH là
việc làm tất yếu và cần thiết. Đặc biệt trong những năm gần đây, nhiều sự kiện kinh tế

tế

tài chính liên tiếp diễn ra, khiến những lo ngại về tình hình tài chính NH - ngành được
đánh giá là chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn và nhạy cảm - ngày càng tăng cao. Vấn đề

h

giám sát và phòng ngừa rủi ro trong hệ thống NH đang được quam tâm. Một mô hình

in

1


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

kinh doanh, VIB luôn định hướng lấy khách hàng (KH) làm trọng tâm, lấy chất lượng
dịch vụ và giải pháp sáng tạo làm phương châm kinh doanh với quyết tâm “trở thành
NH luôn sáng tạo và hướng đến KH nhất tại Việt Nam”. Do đó, hiện VIB đã và đang
tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, cùng Năng lực quản lý điều hành, tiếp tục chú trọng
phát triển mạng lưới NH bán lẻ và các sản phẩm mới… Trước yêu cầu thay đổi để
hoàn thiện hoạt động kinh doanh của NH, phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế
còn khó khăn và gặp nhiều thách thức, hơn ai hết, VIB quan tâm tới việc phân tích

uế

hoạt động kinh doanh và rủi ro NH.
NH cũng là một loại hình doanh nghiệp, tuy nhiên phân tích tài chính cũng như

H

đánh giá hoạt động của NH có nhiều điểm khác so với DN. Mô hình CAMELS được
nhiều nước trên thế giới công nhận và bắt đầu phổ biến ở Việt Nam trong thời gian gần

tế

đây. Đây là một hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình NH của Mỹ và được coi là
chuẩn mực đối với hầu hết các tổ chức trên toàn thế giới khi đánh giá hiệu quả, rủi ro


hệ thống văn bản pháp lý, quy định về phân tích hoạt động và rủi ro NH ở Việt Nam
hiện nay. Trong đó đi sâu tìm hiểu về mô hình CAMELS như một thước đo để đánh
giá độ an toàn về hoạt động NH.
Từ đó ứng dụng mô hình CAMELS vào phân tích hoạt động và rủi ro của VIB
trong năm 2012, dự báo về hoạt động kinh doanh và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị
nhằm cải thiện tình hình kinh doanh cho NH trong thời gian sắp tới.
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

2


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

Đề tài giải thích tầm quan trọng của mô hình CAMELS trong việc giám sát NH
thông qua phân tích hoạt động và rủi ro cũng như một số điểm chú ý khi sử dụng khi
sử dụng mô hình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động kinh doanh của VIB qua các quý của năm 2012 được thể hiện thông
qua mô hình CAMELS.

uế

Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian thực hiện đề tài bắt đầu từ ngày 02/02/2013 đến ngày 13/05/2013.

H


ại

quy định của Việt Nam hiện nay về đánh giá hoạt động của NH.
Tìm hiểu về môi trường kinh tế vĩ mô, tình hình hệ thống NH hiện nay, cũng như

môi trường kinh doanh của VIB từ internet, báo chí, truyền hình, các đề tài nghiên cứu…
Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các nhà phân tích về mô hình CAMELS, về

hệ thống NH, cũng như về VIB.
- Phương pháp thu thập số liệu:
Số liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu là số liệu thứ cấp được thu thập từ báo
cáo tài chính đã kiểm toán (bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh, thuyết minh báo cáo tài chính), báo cáo thường niên của NH năm 2012.

SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

3


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

Ngoài ra còn có các số liệu, thông tin lấy từ website chính thức của VIB, các
văn bản pháp luật có liên quan về đánh giá hoạt động NH…
- Phương pháp xử lý số liệu
+ Phương pháp tỷ số: Đây là một phương pháp truyền thống, được sử dụng phổ
biến trong hoạt động phân tích. Dựa trên số liệu thu thập được tiến hành tính toán các
chỉ tiêu tài chính của mô hình CAMELS. Sau đó nhận xét, đánh giá hoạt động, trên cơ
sở so sánh giữa các quý và các tỷ lệ tham chiếu.

sự cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới; tham chiếu

họ

với mức chất lượng của mô hình CAMELS, các quy định của NHNN.
Mô hình CAMELS bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, thông qua việc phân tích và

Đ
ại

xếp loại các chỉ tiêu này để có thể biết được hoạt động và rủi ro của NH. Mô hình này
là công cụ hỗ trợ cho cơ quan quản lý giám sát hoạt động của các NH từ xa. Theo R.
Alton Gilbert, giám sát từ xa hỗ trợ cho các cơ quan giám sát hoạt động của các NH.
Giám sát từ xa sử dụng dữ liệu tài chính hàng quý và các kết quả của kỳ giám sát
trước[20, tr.47]. Ngoài ra, do gặp khó khăn trong vấn đề tìm kiếm số liệu, đề tài tiến
hành tính toán và phân tích các chỉ tiêu theo các quý của năm 2012. Khi so sánh với
các NH tương đương, đề tài sử dụng kết quả tính toán của năm 2012.
+ Phương pháp tính toán chỉ số ngành: Do hạn chế của việc thu thập số liệu và
kiến thức, nên việc tính toán chỉ số ngành là một công việc khó khăn. Chính vì vậy, đề
tài chỉ tiến hành so sánh VIB với các NH tương đương. Các NH được lựa chọn dựa
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

4


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

theo quy mô tổng tài sản và vốn CSH tương đương với VIB và có địa bàn cũng như

DAB

69.278

5.000

1990

4.368

240

VPB

102.576

5.770

1993

4.000

200

H

uế

VIB



NH TMCP Quốc Tế Việt Nam.
Chương 3. Dự báo và giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh của NH

TMCP Quốc Tế Việt Nam.

SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

5


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc thù kinh doanh tiền tệ, đây cũng là
khu vực có hoạt động nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn tới cả nền kinh tế. Phân tích hoạt
động và rủi ro của NHTM có những đặc điểm riêng và thường được đánh giá dựa trên

uế

một mô hình cụ thể. Trên thế giới có nhiều mô hình để đánh giá hoạt động và rủi ro
NH. Mỗi mô hình có một thế mạnh và tùy bản thân NH, tình hình mỗi quốc gia mà áp

H

dụng mô hình nào hay có sự kết hợp giữa các mô hình. Hiện nay, hệ thống giám sát tại
Việt Nam đang thực hiện phương pháp giám sát theo mô hình CAMELS – một mô

và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Theo Đạo luật NH của Pháp (1941): “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà

nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác,
hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp
vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. [24]
Theo luật Các TCTD 2010 của Việt Nam, NHTM là loại hình NH được thực
hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của
Pháp luật. NHTM được thực hiện các hoạt động theo quy định tại Chương III Luật các
TCTD, Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật các TCTD, các quy định hiện hành
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

6


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

có liên quan của Chính phủ và NH Nhà nước, bao gồm việc kinh doanh, cung ứng
thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung
ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và một số hoạt động khác.
Rủi ro NHTM
Hoạt động NH là một trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro nhất. Rủi
ro được xem như là một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp, đặc biệt là các NHTM. Các nhà quản lý NH có thể quan tâm

uế

nhất tới việc nâng cao giá trị cổ phiếu và đẩy mạnh khả năng sinh lời nhưng không ai


Đ
ại

kiểm soát được. Trong thực tế người ta có thể kiểm soát chúng ở mức độ hạn chế
trên cơ sở dự báo… Một NH trong hoạt động kinh doanh thường chịu tác động của
KH hoặc các đối thủ từ nhiều phía, từ đó luôn nhận rất nhiều các tác động rủi ro, đây
được gọi là rủi ro môi trường cạnh tranh. Rủi ro đặc thù là rủi ro bản chất của ngành
hay lĩnh vực kinh doanh tạo ra. Trong hoạt động NH, rủi ro đặc thù thường bao gồm
các yếu tố: Rủi ro về quản lý; rủi ro cung cấp các dịch vụ tài chính; rủi ro thích ứng
vốn; rủi ro về tài sản thế chấp.[2]
Một cách tiếp cận khác là các NH quan tâm tới 6 loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi
ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thu nhập, rủi ro phá sản.
Các loại rủi ro có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

7


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

Ở nước ta vấn đề rủi ro trong kinh doanh NH và vấn đề quản lý rủi ro còn khá
mới mẻ. Với sự non yếu về nghiệp vụ NH, đồng thời hoạt động trong môi trường đầy
rủi ro, vấn đề quản lý rủi ro NH đang là vấn đề cấp bách trong hệ thống NH cả nước.
Bộ máy NH kém năng động, rủi ro càng dễ phát sinh khiến nó không thể hiện được
chức năng vốn có của mình, thiệt hại cho nền kinh tế có thể xảy ra. Theo ông Nguyễn
Văn Bình, nhiều TCTD vẫn lấy lợi nhuận làm mục tiêu chính mà chưa chú ý đến quản
trị rủi ro. Trong khi đó, Thanh tra NHNN chưa thực hiện hiệu quả việc cảnh báo sớm

họ

Phân tích hoạt động kinh doanh là việc làm tất yếu đối với từng NHTM. Trên
phạm vi vĩ mô, phân tích hoạt động của các NHTM giúp cho cơ quan lãnh đạo tiền tệ

Đ
ại

thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia, tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng kinh tế.
Để tiến hành phân tích hoạt động và rủi ro NHTM, có thể sử dụng các phương

pháp và các công cụ, mô hình cho phép xử lý các thông tin (thông tin nội bộ và thông
tin bên ngoài NHTM; thông tin số lượng và thông tin giá trị) nhằm đánh giá tình hình
tài chính của NHTM, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của
NHTM đó. Yêu cầu của phân tích hoạt động và rủi ro NHTM là đánh giá những điểm
mạnh và điểm yếu về tình hình tài chính, qua đó đánh giá tổng quát hoạt động cũng
như dự báo những bất ổn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

8


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

1.1.2. Vai trò của phân tích hoạt động và rủi ro NHTM
Kết quả phân tích cho ta hình dung được khá đầy đủ và chính xác quy mô hoạt
động, chất lượng kinh doanh của NH, đánh giá được tốc độ phát triển và tính bền vững

Phân tích hoạt động và rủi ro NHTM giúp cho các nhà quản lý đánh giá tình
hình tài chính hoạt động của các NH và có những định hướng , bước đi đúng đắn. Đây
là công cụ để cảnh báo sớm đối với các nhà quản trị NH thấy được những điểm mạnh,

họ

điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với hoạt động NH.
Với các cơ quan giám sát, phân tích hoạt động và rủi ro NHTM là công cụ để

Đ
ại

nắm rõ thực trạng tài chính và có biện pháp quản lý và điều chỉnh. Đây là một trong
những cách thức để các cơ quan giám sát thực hiện giám sát từ xa đối với hệ thống
NHTM. Thanh tra giám sát từ xa có thể thực hiện một khối lượng công việc lớn mà chỉ
cần một số ít các thanh tra với chi phí cho mỗi lần thanh tra tương đối thấp, thủ tục
đơn giản mà vẫn có thể đảm bảo hiệu quả công việc.
Kết quả phân tích cung cấp cho các nhà quản lý kinh tế tài chính vĩ mô cũng
như vi mô những tín hiệu cần thiết để quản lý, điều hành và đưa ra những quyết định
phù hợp.
Trong thời gian gần đây, khi mà việc công bố thông tin tài chính của các doanh
nghiệp, các NHTM được thực hiện tốt hơn và có quy chế giám sát chặc chẽ, không chỉ
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

9


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp


- Thông tin thu thập từ internet: nguồn thông tin tin cậy, có trích dẫn, có tổng

cK

hợp và chọn lựa.

- Ý kiến chủ quan của người làm: Do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức, thông
tin, các nhận định, kết quả phân tích có thể chưa thực sự khách quan và chính xác.

họ

1.2. Một số mô hình phân tích hoạt động và rủi ro NHTM
Để phân tích hoạt động và rủi ro NHTM, có thể áp dụng nhiều mô hình khác

Đ
ại

nhau. Mỗi mô hình tập trung chú trọng vào một phương diện nào đó để tiến hành phân
tích. Dựa vào tình hình hiện tại của hệ thống NH và tiến trình phát triển của hệ thống
tài chính cũng như yêu cầu phân tích mà lựa chọn mô hình phù hợp. Sau đây là một số
mô hình phổ biến trên thế giới:
Mô hình CAMELS là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình NH của Mỹ và
được coi là chuẩn mực đối với hầu hết các tổ chức trên toàn thế giới khi đánh giá hiệu
quả hoạt động, rủi ro của các NH nói riêng và các TCTD nói chung.
Mô hình này chủ yếu dựa trên các yếu tố tài chính, thông qua thang điểm để
đưa ra kết quả xếp hạng các NH, từ đó cho nhà quản lý biết “tình hình sức khỏe của
các NH”. Các yếu tố đánh giá bao gồm: Mức độ an toàn Vốn (Capital Adequacy),
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan



h

thiếu vốn, và có biện pháp phòng ngừa phá sản cho nhóm “sức khỏe yếu” này.

in

Nhật Bản đã xây dựng Mô hình xếp hạng NH FIRST vào năm 2007 một cách

cK

đầy đủ và toàn diện hơn, xét trên 10 yếu tố thiên về quản lý (phi tài chính) như: Quản
lý kinh doanh, tuân thủ pháp luật, quản lý bảo vệ KH, quản lý rủi ro toàn diện, quản lý
vốn,… Mô hình FIRST với trọng tâm quản lý, xếp hạng TCTD về quản lý có tốt hay

quả hơn.

họ

không và mục đích là đưa ra các cơ chế để TCTD phấn đấu, làm tốt hơn, quản lý hiệu

Đ
ại

Mô hình CAMELS thiên về các yếu tố tài chính, tập trung vào phân tích, thanh
tra để đưa ra dự báo rõ ràng cho NH và biện pháp phòng ngừa. Trong khi đó mô hình
FIRST của Nhật Bản lại thiên về yếu tố phi tài chính mang tính khích lệ những nỗ lực
của NH để cải thiện công tác quản trị điều hành, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu cảnh
báo nêu ra.
Theo bà Sakamaki Tsuzuri - Chuyên gia tư vấn Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật


tế

bank risk assessment systems) hiện nay đang được áp dụng tại nhiều nước có thị
trường tài chính phát triển. [25]

h

Ngoài ra còn có một số mô hình khác như Mô hình PEARLS – giám sát hiệu

in

quả hoạt động tài chính đối với các tổ chức nhận tiền gửi, đặc biệt là các tổ chức tài

tỷ lệ tăng trưởng…

cK

chính có quy mô nhỏ. Mô hình này chủ yếu sử dụng các chỉ số định lượng và đánh giá

1.3. Mô hình CAMELS trong đánh giá hoạt động NH

họ

1.3.1. Sơ lược về mô hình CAMELS

Mô hình CAMELS là một phương pháp đánh giá sức khỏe được TCTD của

Đ
ại

quả và không thể thiếu với các các cá nhân tổ chức làm công tác điều tra giám sát”. Nó
đảm bảo 1 NH đang ở trong trạng thái hoạt động tốt trên cơ sở xem xét các khía cạnh

H

dựa trên các nguồn thông tin như trạng thái tài chính, nguồn ngân quỹ, dữ liệu kinh tế
vĩ mô, ngân sách và dòng tiền. Tuy nhiên Hirtle and Lopez (1999, p. 4) nhấn mạnh

tế

rằng hệ thống xếp hạng CAMELS của NH có tính bảo mật cao và chỉ những nhà quản
lí cao cấp mới được biết để phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh cũng như các bộ

h

phận liên quan. Sự đánh giá xếp hạng đó không bao giờ được công khai. Những đánh

in

giá này không được công bố rộng rãi mà chỉ để cho các nhà quản lý hàng đầu của NH

cK

dự báo, cảnh báo nhóm các NH có nguy cơ, và có biện pháp phòng ngừa phá sản cho
nhóm các NH này. [21]

Đây là công cụ được Chính phủ Hoa Kỳ sử dụng để đối phó với cuộc Khủng

họ


đảm bảo chất lượng quản lý rủi ro, gắn liền với một mức độ giám sát ít nhất. Xếp hạng
5 là mức xếp hạng xấu nhất, tức là TCTD này có hoạt động yếu kém, không đảm bảo
khả năng quản lý rủi ro và đòi hỏi hoạt động giám sát cao nhất cho TCTD này. Mức

của việc xếp hạng cho từng mức như sau:[22]

uế

xếp hạng 1 và 2 được coi là an toàn, các mức còn lại được coi là cần chú ý. Ý nghĩa

H

Xếp hạng 1 – NH thuộc nhóm này về cơ bản là có hoạt động mạnh và an toàn
trên mọi khía cạnh, nhìn chung các hạng mục đều được xếp ở mức 1 hoặc 2. NH có thể

tế

đối phó tốt với những thay đổi về kinh tế và tài chính và có khả năng đối phó tốt hơn
với những thay đổi thất thường về điều kiện kinh doanh so với những NH có chỉ số

h

xếp hạng thấp hơn. Tuân thủ các quy định và pháp luật. Do đó, những NH này chưa

in

cần phải giám sát.

cK


Khóa luận tốt nghiệp

Xếp hạng 4 – Các NH thuộc nhóm này có quá nhiều yếu kém nghiêm trọng về
tài chính hoặc là cả những yếu kém về tài chính và những yếu tố khác đều không đạt
yêu cầu. Các vấn đề nghiêm trọng hoặc chủ yếu hoặc tình hình không lành mạnh và
không an toàn có thể không giải quyết được. Trừ khi có những biện pháp hữu hiệu
được thực hiện để khắc phục, những khiếm khuyết này có thể phát triển đến mức độ có
thể làm suy yếu khả năng tồn tại trong tương lai và đe dọa đến các KH gửi tiền, các
chủ nợ hoặc các cổ đông. Khả năng cao về phá sản đang hiện hữu tuy nhiên chưa xảy

uế

ra hoặc chưa được thông báo. Những NH thuộc nhóm này cần sự kiểm soát chặt chẽ
và giám sát về tài chính cũng những kế hoạch để khắc phục.

H

Xếp hạng 5 – Những NH thuộc nhóm này là những NH có khả năng phá sản rất
cao. Số lượng và mức độ yếu kém hoặc tình hình không lành mạnh và yếu kém ở mức

tế

độ khẩn cấp cần sự giúp đỡ kịp thời của các cổ đông hoặc các nguồn tài chính khác từ
khu vực tư nhân hoặc nhà nước. Nếu thiếu các biện pháp khắc phục kịp thời và kiên

h

quyết tình hình sẽ trở nên trầm trọng hơn ví dụ như phá sản hoặc mất khả năng thanh

in

15


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

 Mức độ an toàn vốn nên được xếp hạng dựa trên những yếu tố đánh giá sau
- Mức vốn, chất lượng vốn và khả năng tài chính tổng thể của NH.
- Tỷ lệ an toàn vốn cao hơn mức tối thiểu quy định.
- Khả năng quản lý để có thể xác định những nhu cầu cho nguồn vốn bổ sung.
- Khả năng tiếp cận với thị trường vốn và các nguồn vốn khác bao gồm cả sự
hỗ trợ vốn của Nhà nước, các cổ đông hiện tại và cổ đông triển vọng trong tương lai.
Theo quy định của NH Thanh toán Quốc tế (Bank for International Settlement –

uế

BIS), tỷ lệ CAR tối thiểu là 8%[21]. Tuy nhiên con số này có thể thay đổi tùy thuộc

Trong bài đề cập tới các chỉ tiêu sau đây:
- Quy mô vốn điều lệ, vốn CSH.

H

vào quy định các nước khác nhau.

tế

- Tỷ lệ an toàn vốn (CAR): Hầu hết các nước trên thế giới, CAR tối thiểu là
8%. Đối với Việt Nam, theo thông tư 13/2010/TT-NHNN tỷ lệ này phải duy trì ở mức

Nguyên tắc cơ bản của Chất lượng tài sản có
Tài sản có là phần sử dụng nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì khả năng
thanh toán của NH. Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

16


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời, năng lực quản lý và phần lớn rủi ro trong
hoạt động kinh doanh tiền tệ. Trong tài sản có, chất lượng khoản cho vay và đầu tư là
yếu tố quyết định đến chất lượng tài sản có của NH. Tổn thất trong cho vay lớn sẽ dẫn
đên thua lỗ, làm giảm vốn tự có, làm ảnh hưởng đến khả năng chi trả và đây là biểu
hiện của năng lực quản lý. [22]
Theo Grier (2007), "chất lượng tài sản kém là nguyên nhân chính của hầu hết
các NH thất bại".[21] Một loại tài sản quan trọng nhất là danh mục cho vay, rủi ro lớn

uế

nhất mà các NH phải đối mặt là rủi ro từ các khoản cho vay quá hạn. Các nhà phân
tích tín dụng phải thực hiện việc đánh giá chất lượng tài sản có bằng cách thực hiện

H

việc quản lý rủi ro tín dụng và đánh giá chất lượng danh mục cho vay. Đo lường chất
lượng tài sản có là công việc khó khăn bởi vì nó chủ yếu xuất phát từ chủ quan của nhà


Chất lượng tài sản có được xếp hạng dựa trên những yếu tố đánh giá sau
- Danh mục cho vay đa dạng giúp NH giảm thiểu rủi ro.
- tốc độ tăng trưởng tín dụng: NH có tốc độ tăng trưởng tín dụng hợp lý cũng
như phát triển các loại hình cho vay, hay khả năng tăng trưởng tín dụng hạn chế do
cạnh tranh trên thị trường.
- Nợ xấu: số lượng, tỷ lệ giữa các nhóm nợ, nguyên nhân nào dẫn đến sự tăng
hay giảm của các nhóm nợ.
- Tỷ lệ trích lập dự phòng
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

17


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

- Tỷ lệ cho vay công ty con, công ty trực thuộc,…
Trong bài đề cập tới những chỉ tiêu sau đây:
Cơ cấu tài sản
- Các khoản đầu tư: Cơ cấu các khoản đầu tư trên tổng tài sản.
- Tổng dư nợ trên tổng tài sản: Nếu cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài
sản tức là NH có mức độ tập trung tín dụng lớn. Ngược lại, có thể thiếu KH vay vốn
hoặc đa dạng hóa danh mục đầu tư.

uế

- Cơ cấu tài sản nội bảng: Cơ cấu tỷ trọng giữa tài sản sinh lời và không sinh
lời của NH. Tỷ lệ này càng cao, NH duy trì khả năng sinh lời tốt.


Đ
ại

- Tỷ lệ chi phí dự phòng (Allowance for loan loss ratio): Tỷ lệ giữa chi phí dự
phòng và tổng dư nợ.
Xếp hạng

Mỗi yếu tố trong Mô hình CAMELS được xếp hạng từ 1-5. Đối với thành phần

chất lượng tài sản có, hạng 1 cho thấy một chất lượng tài sản có mạnh và danh mục
đầu tư có rủi ro tối thiểu. Mặt khác, hạng 5 phản ánh chất lượng tài sản có cực kỳ quan
thiếu mà trình bày một mối đe dọa sắp xảy ra khả năng tồn tại của tổ chức. 5 Một đánh
giá của 5 đại diện cho chất lượng tài sản có vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng tới việc
duy trì và đảm bảo mức vốn của ngân, đe dọa đến năng lực hoạt động của các NH.

SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

18


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp
1.3.3.3. M- Management (Năng lực quản lý)
Nguyên tắc cơ bản của Năng lực quản lý

Năng lực quản lý về cơ bản là năng lực của ban giám đốc và quản lý trong việc
xác định, đo lường và kiểm soát rủi ro của một tổ chức và đảm bảo cho tổ chức đó
hoạt động an toàn, hiệu quả và phù hợp với pháp luật cũng như các quy định hiện
hành.[22]

- Khả năng đưa ra và thích ứng với những chính sách nội bộ và kiểm soát hoạt
động kinh doanh cũng như rủi ro của những hoạt động chư yếu.

họ

- Tính chính xác kịp thời và hiệu quả của hệ thống thông tin quản lý và hệ
thống kiểm soát rủi ro tương ứng với quy mô sự phức tạp và rủi ro của NH.

Đ
ại

- Tính hợp lý của kiểm toán và kiểm soát nội bộ nhằm tạo động lực cho các
hoạt động của NH được hiệu quả và đảm bảo tính tin cậy cho các báo cáo tài chính và
báo cáo thanh tra, các tài sản đảm bảo, đồng thời cũng đảm bảo sự tuân thủ với các
quyết định, chỉ thị và hướng dẫn của thanh tra và các chính sách nội bộ.
- Mức độ thực hiện và tuân thủ với các quyết định và chỉ thị và khả năng đáp
ứng với các khuyến nghị của kiểm toán viên và các thanh tra viên có thẩm quyền.
- Kết quả và sự thành công của các nhà lãnh đạo cao cấp.
- Mức độ mà ban quản lý và hội đồng quản trị phải chịu sự chi phối, tác động
và kiểm soát của CSH chính.

SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

19


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp



cK

của thu nhập, mà còn xét đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính bền vững, chất lượng của
thu nhập : rủi ro tín dụng, năng lực quản lý, mức độ rủi ro thị trường, tác động của thuế, các
chi phí dự phòng… Thu nhập trong tương lai có thể bị ảnh hưởng bởi NH không có khả năng

họ

dự báo và kiểm soát chi phí, không thực hiện đúng các chiến lược kinh doanh đặt ra hoặc thực
hiện các chiến lược kinh doanh thiếu khôn ngoan…

Đ
ại

Việc xếp hạng thu nhập được xếp hạng dựa trên những yếu tố đánh giá sau:
- Mức thu nhập, bao gồm cả xu hướng tăng trưởng và mức độ ổn định
- Khả năng đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng vốn từ nguồn lợi nhuận để lại.
- Chất lượng và các nguồn của thu nhập, cũng như mức chi phí gắn liền với

các hoạt động kinh doanh.
- Khả năng đảm bảo ngân quỹ và những tac nghiệp dự tính và hệ thống thông
tin quản lý
- Khả năng đảm bảo dự phòng mất nợ và các dự phòng tài sản khác.
- Những rủi ro tiềm ẩn đối với biến động lãi suất, tỷ giá.

SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

20


Xếp hạng

in

trong những năm gần đây.

h

thu từ phí, mặc dù tỷ lệ thu từ phí trong tổng các nguồn thu của NH đã tăng rất nhanh

Mỗi yếu tố trong mô hình CAMEL được xếp hạng từ 1 tới 5. Đối với thu nhập,
xếp hạng 1 phản ánh thu nhập đủ lớn, đủ để hỗ trợ hoạt động và duy trì đủ vốn và dự

họ

phòng đầy đủ cho các khoản mất nợ sau khi xem xét đến chất lượng tài sản, tăng
trưởng, và các yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng, số lượng, và xu hướng của thu

Đ
ại

nhập. Mặt khác, xếp hạng 5 khi thu nhập của NH quá thấp hoặc đang chịu những
khoản mất nợ lớn. Những khoản nợ mất này có thể gây ra những nguy cơ cho khả
năng hoạt động của NH đồng thời với sự mất vốn. [22]
1.3.3.5. L- Liquidity (Khả năng thanh khoản)
Nguyên tắc cơ bản của khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản được đánh giá ở khả năng NH có thể duy trì một mức độ
thanh khoản đủ để đáp ứng kịp thời khả năng thanh toán khi có dòng tiền rút ra. Khả
năng thanh khoản của NH còn được đánh giá ở khả năng của tổ chức trong việc ứng
phó với những thay đổi của thị trường có ảnh hưởng đến khả năng chuyển đổi tài sản


cân đối tài sản

- Mức độ phụ thuộc vào các nguồn vốn ngắn hạn, các nguồn vốn dễ biến động,

in

cho các tài sản có kỳ hạn dài hơn.

h

bao gồm các nguồn vốn vay, các khoản tiền gửi lớn nhạy cảm với lãi suất, để sử dụng

cK

- Xu hướng và tình ổn định của các khoản tiền gửi.
- Khả năng của ban lãnh đạo NH trong việc xác định, đo lường, giám sát và
kiểm soát tình hình thanh khoản của đơn vị mình, bao gồm cả mức độ hiệu quả của các

họ

chiến lược quản lý vốn,các chính sách về thanh khoản hệ thống thông tin quản lý và kế
hoạch dự phòng vốn.

Đ
ại

Trong bài đề cập tới những chỉ tiêu sau đây:
- Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động: Tỷ lệ này phản ánh tương quan


H

cầu rút tiền và các nghĩa vụ nợ đến hạn. [22]

1.3.3.6. S- Sensitivity to Market risk (Độ nhạy cảm đối với rủi ro thị trường)

tế

Nguyên tắc cơ bản của Độ nhạy cảm đối với rủi ro thị trường

h

Mức độ nhạy cảm đối với rủi ro phản ánh mức độ tại đó những thay đổi về

in

lãi suất, tỉ giá hối đoái, giá tiêu dùng hoặc giá vốn có thể ảnh hưởng đến thu nhập
hoặc vốn của một NH. Khi đánh giá yếu tố này, nên xem xét cả các vấn đề sau: khả

cK

năng của ban lãnh đạo NH trong việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi
ro thị trường; quy mô NH; bản chất và mức độ phức tạp về các hoạt động kinh

họ

doanh của NH; và mức độ đầy đủ về vốn và thu nhập liên quan đến mức độ rủi ro
thị trường. Đối với nhiều NH, các rủi ro thị trường chủ yếu xuất phát từ trạng thái

Đ


ảnh hưởng bất lợi. Xếp hạng 5 chỉ ra rằng vấn đề quản lý rủi ro của NH không tốt và
mức độ rủi ro thị trường có khả năng đe dọa đến khả năng tồn tại của NH. [22]

H

1.3.4. Cách thức xếp loại

tế

Cơ sở pháp lý của các điều kiện

- Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN ngày 12/03/2008 ban hành quy định xếp loại

h

NH TMCP.

in

- Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 quy định về các tỷ lệ bảo
đảm an toàn trong hoạt động của TCTD.

cK

- Thông tư số 15/2010/TT-NHNN ngày 10/06/2010 quy định về phân loại nợ,
trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vay trong hoạt động của tổ chức tài

họ


SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

24


GVHD: Th.S Đoàn Như Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp

Bảng 1.2. Các chỉ tiêu đánh giá
Nhóm
CAR
C

Vốn CSH/Tổng TS

Vốn tự có/Tài sản "Có" rủi ro

≥ 9%

13/2010/TTNHNN

≥75%

06/2008/QĐNHNN

uế

(Dư nợ CK-Dư nợ ĐK)/Dư nợ
ĐK

for loan loss ratio

Dự phòng rủi ro/Tổng dư nợ

h

Dự phòng rủi ro/NPLs

in

Đ
ại

NNIM

họ

NIM

cK

ROA
ROE

tế

Tỷ lệ nợ xấu - NPLs to total loans
ratio

Khả năng bù đắp nợ xấu Provision

Lợi nhuận ròng/Tổng tài sản
BQ

Lợi nhuận ròng/Vốn CSH BQ
tổng thu nhập lãi ròng từ cho
vay và đầu tư/tổng tài sản có
sinh lời BQ
(Thu nhập ngoài lãi – Chi phí
ngoài lãi) / Tổng tài sản Có
sinh lời BQ

Việc đánh giá các yếu tố của CAMELS và mối liên hệ giữa chúng là cơ sở để
đưa ra đánh giá tổng hợp. Mặc dù thứ tự các yếu tố của CAMELS thường có liên hệ
rất gần với đánh giá chỉ số tổng hợp nhưng không có nghĩa là chỉ số tổng hợp được
tính toán bằng cách lấy giá trị trung bình của các yếu tố CAMELS. Ví dụ, có thể một
NH vẫn hoạt động với một đội ngũ quản lý, mức thu nhập và thanh khoản có thể chấp
nhận được nhưng chất lượng tài sản không tốt. Như vậy chỉ số tổng hợp ở mức 3 có
SVTH: Nguyễn Thị Tâm Đan

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status