PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cà phê là cây công nghiệp quan trọng, nó không chỉ là cây trồng lợi thế
của vùng Tây Nguyên mà còn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1857, mãi đến đầu thế kỷ
XX mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Trải qua
uế
nhiều hình thức tổ chức sản xuất từ các đồn điền cà phê đến các nông trường
quốc doanh cà phê. Với một thời gian không dài chỉ trong vòng 26 năm, trong
H
một phần tư thế kỷ, kể từ sau năm 1975 ngành cà phê Việt Nam đã có những
bước phát triển vượt bậc với tốc độ kỷ lục so với nhiều nước trồng cà phê khác
tế
trên thế giới.
Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam đã có diện tích trồng cà phê trên
h
500.000 ha với sản lượng cà phê xuất khẩu hàng năm trên dưới 900.000 tấn với
in
kim ngạch xấp xỉ trên dưới 1,5 tỷ USD. Việt Nam là một nước sản xuất, xuất
xuất phát từ chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và chính
quyền Đắk Lắk mới có chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển và thâm
canh cây cà phê. Thực hiện chủ trương của Tỉnh, từ giữa những năm 80 của thế
kỷ XX các đơn vị làm công tác xuất nhập khẩu đã tìm đến từng hộ nông dân
với hình thức đầu tư ứng trước, nghĩa là “quốc doanh” ứng trước cho nông dân
uế
máy cày, phân bón, có cả lương thực và thu hồi vốn sau khi có cà phê nhân,
nông trường quốc doanh thì vận động bà con vào làm công nhân nhận khoán
H
trồng và chăm sóc cà phê.
Từ đó Đắk Lắk hình thành nhiều vùng chuyên canh cây cà phê, có đơn
tế
vị phấn đấu chỉ tiêu trong một mùa mưa trồng một nghìn ha như Công ty cà
phê Phước An, Thắng Lợi, Ea Tiêu, Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt - Đức. Bên
h
cạnh đó, Đắk Lắk còn liên doanh trồng cà phê với nước ngoài, cụ thể là Liên
in
doanh Việt-Xô, Việt - Đức. Vùng chuyên canh cà phê chiếm 86% diện tích sản
chiếm một vị trí mạnh (gần 80% diện tích cà phê của cả nước do các hộ tự quản
lý), ngược lại mô hình khoán chỉ chiếm khoảng gần (20% diện tích trồng cà
phê) do công ty và hộ nhận khoán hợp tác cùng quản lý.
uế
Chính những biến động và khó khăn đó sẽ làm cho hoạt động sản xuất
cà phê cũng như sự tồn tại của các hình thức khoán ở công ty cà phê Phước An
H
nói riêng mà cụ thể là những người dân nhận khoán của công ty ít nhiều sẽ bị
ảnh hưởng. Vì thế chúng tôi thiết nghĩ việc tìm hiểu, đánh giá kết quả đầu tư và
tế
hiệu quả sản xuất cà phê khoán tới hộ dân tại công ty cà phê Phước An là rất
cần thiết. Để từ đó tìm ra những giải pháp thích hợp nhằm phát triển hình thức
h
nhận khoán tới hộ một cách hiệu quả và bền vững.
in
Xuất phát từ những lý do trên trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại
cK
công ty cà phê Phước An thuộc Huyện Krông Pắk, Tỉnh Đắk Lắk tôi đã chọn
a) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng và nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài là những vấn đề
uế
kinh tế, kỹ thuật trong mối quan hệ với các vấn đề tổ chức quản lý hiệu quả sản
xuất cà phê của các hộ nhận khoán.
H
b) Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Do hạn chế về khả năng và thời gian nghiên cứu nên đề
tế
tài chỉ tập trung phản ánh tình hình sản xuất cà phê tại hai đội đại diện cho 2
hình thức khoán khác nhau: (có đầu tư – không có đầu tư của công ty), đồng
in
huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk.
h
thời là hai đội có diện tích cà phê lớn nhất trong công ty cà phê Phước An,
cK
Về thời gian: Qua khảo sát thực tế tại công ty Phước An, chúng tôi chỉ
Một truyền thuyết kể rằng: Một người chăn dê nhận thấy rằng đàn gia
súc của mình trở nên nghịch ngợm hơn bình thường sau khi ăn những quả màu
tế
đỏ từ bụi cây cà phê dại. Không lâu sau những thầy tu bắt đầu đun những
những hạt này và sử dụng chất lỏng này để thức suốt đêm trong các lễ hội.
h
Câu chuyện khác lại kể về một thầy tu Đạo Hồi - người đã bị kết tội bởi
in
kẻ thù của mình. Hình phạt là phải đi lang thang trong sa mạc và cuối cùng là
cK
chết đói. Trong cơn mê sảng, chàng trai trẻ đã nghe thấy âm thanh hướng dẫn
mình ăn những quả từ cây cà phê gần đó. Anh ta đã sống sót, khoẻ mạnh và
quay lại với cộng đồng của mình, công bố rộng rãi kinh nghiệm về công thức.
họ
Ban đầu, các bộ lạc phía đông châu Phi đã nghiền quả cà phê sau đó
trộn lẫn với mỡ động vật, vê lại thành những viên nhỏ. Sau đó vào khoảng năm
Đ
ại
trước ngày giải phóng, vào năm 1975 diện tích cà phê có khoảng 10.000 ha.
Diện tích trồng cà phê ở miềm Nam trong thời kỳ này chủ yếu là giống cà phê
in
trên dưới 1 tấn/ha.
h
vối (Canephora robusta). Năng suất cà phê vối trong thời kỳ này thường đạt
cK
Sau 1975, cà phê ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh Tây nguyên
nhờ có vốn từ các Hiệp định hợp tác liên Chính phủ với các nước: Liên xô cũ,
CHDC Đức, Bungary, Tiệp khắc và Ba lan, đến năm 1990 đã có 119.300 ha.
họ
Ngày nay trong cơ chế quản lý mới, được áp dụng đồng bộ các tiến bộ
kỹ thuật cho nên năng suất đã tăng lên rất nhanh. Đến nay, diện tích cà phê trên
Đ
ại
cả nước 521.000 ha và sản lượng khoảng trên 900.000 tấn và Việt Nam trở
thành nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới. Cà phê trồng ở nước ta
có bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90% diện tích, cà phê chè (Arabica)
10% và cà phê mít (Excelsa) 1%.
h
Được biết Ngành sản xuất cà phê Việt Nam là nguồn thu nhập quan
in
trọng của 600 nghìn lao động và hơn 1 triệu người sống nhờ vào các hoạt động
cK
sản xuất kinh doanh có liên quan đến cây cà phê.
1.1.3 Tác dụng của cây cà phê đối với chương trình xoá đói giảm nghèo
nông thôn cao nguyên và miền núi
họ
Khi nói đến vị trí của cây cà phê trong cơ cấu cây trồng ở miền núi cũng
như ở các khu vực khác thì thường nêu lên những giá trị kinh tế mà nó đem lại
Đ
ại
như: Góp phần định canh định cư cho đồng bào dân tộc ít người, tạo công ăn
việc làm, làm giàu cho kinh tế hộ, phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ môi
trường tạo cảnh quan xanh đẹp… và thực tế ở một số nơi đã thoát nghèo và làm
giàu từ chính cây cà phê đem lại.
Tuy nhiên không phải nơi nào, vùng đất nào, cũng có thể lấy cà phê làm
cây trồng chính để mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn. Người ta thường
ví Cà phê là cây của “người giàu”, nghĩa là khâu chăm sóc kỹ thuật rất quan
phương án hành động và được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau.
in
Hiệu quả tổng hợp là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện nhiều
cK
mục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi
phí để có được những kết quả đó.
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị
họ
chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ
thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp.
Đ
ại
Hiệu quả phân bổ là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí chi
thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến
các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu
quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là phần thu thêm trên một
đơn vị đầu tư thêm đạt được chỉ khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ là
tối đa, có nghĩa là cả yếu tố giá trị và hiện vật tính đến khi xem xét việc sử
dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Vậy muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì
tế
P2
C
h
R
0
cK
in
A
B
Q0
X1
họ
P1
Sơ đồ 1: Hiệu quả kinh tế, Hiệu quả kỹ thuật, Hiệu quả phân bổ
Từ sơ đồ trên ta thấy:
TE=OC/OD
Hiệu quả kỹ thuật
quyết định trong tính toán hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong việc sử dụng hai yếu tố cơ
H
bản trong sản xuất kinh doanh đó là yếu tố nguồn lực và giá trị trong việc sử
dụng các yếu tố nguồn lực.
tế
Yếu tố nguồn lực (yếu tố đầu vào): Chi phí trung gian, lao động sống,
khấu hao tài sản, thuế ...
h
Yếu tố giá trị (yếu tố đầu ra ): Số lượng, giá trị sản phẩm, giá trị sản
in
xuất, thu nhập, lợi nhuận, giá trị gia tăng…
cK
Bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh tương đối và
tuyệt đối giữa lượng kết quả thu được với lượng chi phí bỏ ra. Vì thế, việc xác
định các yếu tố đầu vào trong đánh giá hiệu quả kinh tế là gặp phải những khó
họ
khăn bởi nhưng yếu tố tư liệu sản xuất khi tham gia vào quá trình sản xuất và
vùng Nam Trung Bộ, vùng núi phía Bắc do các vùng này ở vùng cao hơn,
H
nhưng với diện tích và sản lượng rất khiêm tốn, tập trung nhiều ở các tỉnh
Quảng Trị, Sơn La và Điện Biên.
tế
Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các
năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là
h
48,5%, 45,8% và 33%). Tăng trưởng cà phê Việt Nam những năm đầu thập
in
niên 90 chủ yếu dựa trên tăng diện tích. Sau đó, tăng năng suất trở thành yếu tố
cK
chính đóng góp cho tăng trưởng sản lượng cà phê ở Việt Nam. Cùng với xu
hướng đó, cà phê dần trở thành mặt hàng nông sản quan trọng của Việt Nam
trong thập kỷ 90 chỉ trong vòng 7 năm, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu
họ
cà phê đứng thứ 2, sau Brazin với diện tích cà phê lên tới 520.000 ha đạt mức
sản lượng 900.000 tấn.
Niên vụ
2005/2006
2006/2007
2007/2008
2008/2009
uế
Chỉ tiêu
Tấn
775.458
1.200.000
1.077.375
954.000
Kim ngạch
Tỷ USD
1,40
xuất khẩu bình quân đạt 1.937 USD/tấn, tăng 16% so với niên vụ trước. Do giá
cà phê thế giới tăng cao nên giá bán cà phê trong nước đạt mức bình quân
Đ
ại
29.000-30.000đ/kg, có thời điểm đạt gần 40.000đ/kg. Với mức giá này, người
sản xuất bù đắp được chi phí và sản xuất có lãi. Điều đáng chú ý là trong niên
vụ này các doanh nghiệp đã phối hợp với nhau khá tốt, bán rải đều cà phê trong
suốt niên vụ nên không để xảy ra tình trạng đầu vụ bán và giao hàng ồ ạt gây
tác động xấu tới thị trường, tránh tình trạng bị khách hàng ép giá.
Mặc dù chịu ảnh hưởng của sản lượng thế giới tăng, cộng thêm tác động
xấu của thị trường tài chính thế giới và suy thoái của nền kinh tế Mỹ. Tuy vậy
niên vụ 2008/2009 vẫn xuất khẩu được 954.000 tấn, đạt kim ngạch 1,95 tỷ
USD (giảm 22,4% về lượng, nhưng tăng 2,1% về giá trị so với cùng kỳ năm
2007). Tính trung bình cả năm 2008, giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt
12
2.044 USD/tấn, tăng 31% so với năm 2007, trong đó có lúc lên đỉnh điểm là
2.240 USD/tấn.
Tuy nhiên, điều đáng buồn là giá cà phê xuất khẩu lại liên tục rớt mạnh,
đặc biệt là từ cuối quý I đầu quý II giá tụt thê thảm khiến mức giá trung bình
xuất khẩu của 11 tháng giảm khoảng 350 USD/tấn so với cùng kỳ. Nguyên
nhân giá cà phê xuống thấp, ngoài tác động của khủng hoảng tài chính và suy
uế
Nhìn lại tình hình Ngành cà phê Việt Nam những năm qua chúng ta thấy
rõ sự phát triển đạt tốc độ rất cao đáng ca ngợi, tự hào và thị trường xuất khẩu
Đ
ại
cà phê Việt Nam ra thế giới ngày càng mở rộng. Hiện nay, cả nước có khoảng
520.000 ha cà phê (riêng các tỉnh Tây Nguyên chiếm 90% diện tích). Hiệp hội
Cà phê - Ca cao Việt Nam dự báo, xuất khẩu cà phê Việt Nam trong năm 2009
ước đạt 980.000 tấn với giá trung bình khoảng 1.800 USD/Tấn, tương đương
với kim ngạch khoảng 1,764 tỷ USD, giảm 8,6% về lượng và giảm 17,4% về
trị giá so với năm 2008. Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam ngày càng
mở rộng, ngoài các nước ở châu Âu và Hoa Kỳ, cà phê Việt Nam còn xuất
khẩu sang vùng Trung Cận Đông, châu Phi, một số nước trong Hiệp hội
ASEAN và vùng Trung Mỹ. Trong đó phải kể đến 10 nước nhập khẩu hàng
đầu cà phê Việt Nam gồm: Bỉ, Đức, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Italia, Ba Lan,
13
Pháp, Hàn Quốc, Anh, Nhật Bản. Trong nhóm 10 nước này chiếm thị phần rất
lớn khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, trong 10 tháng đầu năm
2009 xuất khẩu cà phê của cả nước đạt 942.000 tấn với kim ngạch 1,39 tỷ
USD, tăng 17,4% về lượng nhưng vẫn giảm 17,1% về trị giá so với cùng kỳ
năm 2008. Những số liệu cho thấy nếu như năm 2008, Hoa Kỳ - thị trường giữ
uế
vị trí quán quân về thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam, thì sang năm
2009 và cụ thể là 10 tháng đầu năm 2009 đã nhường vị trí này cho thị trường
Đ
ại
Đáng chú ý trong 10 tháng đầu năm 2009, xuất khẩu cà phê của Việt
Nam sang thị trường Ấn Độ tăng mạnh, tăng 259,51% về lượng và 153,40% về
trị giá, với lượng xuất 12.094 tấn, trị giá 17.003 nghìn USD.
Tuy nước ta có sản lượng xuất khẩu cà phê là lớn và có thị trường xuất
khẩu khá rộng trên thế giới, nhưng cà phê Việt Nam xuất khẩu mới chỉ ở dạng
xuất khẩu thô. Xuất khẩu cà phê thô chưa tinh chế chiếm tới 95% trong tổng
sản lượng xuất khẩu, do đó giá trị đem lại là không cao.
14
Bảng 2: Thị trường xuất khẩu cà phê trong tháng 10 và 10 tháng năm 2009
So với 10T/08
10T/09
(%)
Trị giá
Lượng
Trị giá
(Tấn)
147.828
24,07
-9,55
Italia
86.754
129.447
40,60
-0,26
Tây Ban Nha
67.622
99.083
13,41
-21,27
Nhật Bản
52.559
-9,75
-36,55
Pháp
22.898
33.753
23,55
-10,93
16.657
23.670
64,82
4,37
16.495
24.965
-23,26
-39,67
-20,40
Trung Quốc
12.998
18.992
12,64
-17,66
Singapore
12.412
18.263
-31,40
-51,90
Ấn độ
12.094
17.003
259,51
*
Đ
ại
Malaixia
Nguồn: Tổng cục thống kê 2009
Vì vậy mà ngành cà phê cần phải có biện pháp nhằm nâng cao sản xuất
cà phê tinh chế và xây dựng cho cà phê những thương hiệu vững chắc để có thể
đứng vững và cạnh tranh lâu dài trên thị trường thế giới.
15
1.2.2 Tình hình sản xuất cà phê trên địa bàn nghiên cứu
1.2.2.1 Tình hình sản xuất cà phê ở tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nguồn tài nguyên đất khá
dồi dào, trong đó có 311.000 héc-ta đất đỏ Bazan, chiếm 55,6% tổng diện tích
đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên, điều kiện sinh thái khá thuận lợi cho phát triển
các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu...
uế
Nhận thức được những tiềm năng, lợi thế đó từ sau ngày giải phóng, tỉnh Đắk
Lắk luôn chú trọng đến việc phát triển nhanh cây cà phê cả về quy mô, số
H
lượng cũng như chất lượng và xác định đây là cây công nghiệp chủ lực của địa
cK
Diện tích
Niên vụ
h
ĐVT
in
Chỉ tiêu
tế
Bảng 3: Diện tích và sản lượng thu hoạch cà phê của toàn Tỉnh
Nguồn: Tổng cục thống kê Đắk Lắk 2008
họ
Năm 1975, toàn Tỉnh chỉ có trên 3.700 ha cà phê, năm 1985 tăng lên
15.000 ha, năm 1990 là 76.000 ha. Có thể nói trong 6 năm trở lại đây khi giá cà
phê trên thị trường có chiều hướng tích cực thì diện tích cây cà phê ở trong
Đ
ại
Tỉnh cũng biến động theo chiều hướng gia tăng.
0
tế
2003/2004 2006/2007 2008/2009
h
Biểu đồ 1: Biểu đồ diện tích và sản lượng cà phê tỉnh Đắk Lắk qua các
niên vụ
(2003/2004, 2006/2007, 2008/2009)
in
Đồng thời sản lượng cũng có phần tăng lên, nếu trong niên vụ
cK
2003/2004 là 284.000 tấn tiếp đến đầu năm 2006 giá cà phê thế giới tăng khá
nhanh cùng với thời tiết khá thuận lợi, mưa đều, không xảy ra hạn hán và sâu
bệnh. Nên năng suất và sản lượng cà phê của Đắk Lắk tính hết niên vụ
họ
2006/2007 tăng lên thành 450.000 tấn, đây được coi là niên vụ đạt cao nhất
của Đắk Lắk. Với giá thành sản xuất khoảng 10.000 đồng/kg cà phê nhân thì
Đ
ại
tế
phê xuất khẩu của tỉnh (tương đương với 228451 tấn) như: Nhật Bản trên 65,3
triệu USD, Đức 59,9 triệu USD, Italia 48,2 triệu USD,....
h
Sản xuất cà phê bền vững, cho chất lượng cao đang là mục tiêu mà các
in
doanh nghiệp và nhóm hộ nông dân ở Đắk Lắk hướng tới. Trong tổng số 30
cK
doanh nghiệp sản xuất cà phê trên địa bàn Đắk Lắk, hiện có 5 doanh nghiệp sản
xuất được cấp chứng chỉ “Sản xuất cà phê bền vững và có trách nhiệm” theo bộ
tiêu chuẩn UTZ, gồm các công ty cà phê: Ea Pốk, Thắng Lợi, Tháng Mười và
họ
Krông Ana, đặc biệt là công ty cà phê Phước An. Ngoài việc đẩy mạnh xuất
khẩu, các doanh nghiệp cà phê của Đắk Lắk còn chú trọng đến việc mở rộng thị
Đ
ại
trường tiêu thụ cà phê nội địa, theo tính toán của các doanh nghiệp thì trong
niên vụ vừa qua, tổng số lượng cà phê tiêu thụ nội địa của các doanh nghiệp
tỉnh Đắk Lắk đạt 77.662 tấn, tăng 61% so với niên vụ trước và chiếm khoảng
khác. Kinh tế Huyện chủ yếu là: trồng cây cà phê, hồ tiêu, cao su, đậu tương,
h
điều, lúa, cơ khí sửa chữa, vật liệu xây dựng và chế biến lâm sản. Huyện có
in
tuyến giao thông chính là quốc lộ 21 chạy qua.
cK
Krông Pắk có lịch sử trồng cà phê từ những năm đầu thế kỷ XX. Năm
1922 đã lập nhiều đồn điền cà phê tại Huyện, điển hình là đồn điền CaDa do
người Pháp xây dựng, đây là một trong những nơi đầu tiên được du nhập cây cà
họ
phê với diện tích 4.000 ha cà phê kinh doanh. Sau giải phóng 1954, số diện tích
cà phê đó được giao lại theo quyết định số 109/QĐ-UB về việc thành lập Nông
Đ
ại
trường quốc doanh địa phương, lấy tên là Nông trường Phước An huyện Krông
Pắk (hiện nay là Công ty cà phê Phước An). Đến nay cây cà phê vẫn chiếm một
vị thế quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các nông trường
quốc doanh.
Huyện Krông Pắk hôm nay đã phát triển theo chiều hướng đi lên. Hai
h
đổi đời sống tạo sự ổn định cho nhiều người dân ở địa phương.
in
1.3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CÀ PHÊ PHƯỚC AN,
cK
HUYỆN KRÔNG PẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty cà phê Phước An được xây dựng và phát triển trên vùng đất
họ
CADA. Với cao nguyên đất đỏ Bazan rộng lớn và khí hậu đặc trưng phù hợp
cho cây cà phê phát triển. Công ty cà phê Phước An tiền thân là Nông trường
Đ
ại
cà phê Phước An thành lập năm 1977 là Doanh nghiệp nhà nước được thành
lập theo quyết định số 649/QĐ-UB ngày 27/10/1992 của UBND Tỉnh Đắk Lắk,
Quyết định đổi tên doanh nghiệp số 1044/QĐ-UB ngày 05/6/1996 của UBND
Tỉnh Đắk Lắk.
Trong hơn 30 năm qua, Công ty luôn được sự quan tâm của lãnh đạo
Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Đắk Lắk và các ban ngành liên quan, cùng với sự nỗ lực
và quyết tâm của toàn thể CBCNV của công ty đã không ngừng vươn lên phấn
- Tên viết tắt: PhươcAnCoffee
in
- Cơ quan chủ quản: Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Fax: 0500.521.246
- Email: [email protected]
- Website: phuocancofee.com.vn
cK
- Điện thoại: 0500.521.665
1.3.2 Chức năng – Nhiệm vụ – Cơ cấu tổ chức của công ty
họ
1.3.2.1 Chức năng – Nhiệm vụ
- Công ty cà phê Phước An thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cà
Đ
ại
phê, theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước và Tỉnh.
- Tổ chức ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào trồng và chế biến,
TY
PHÒNG
XUẤT
NHẬP
KHẨU
cK
BAN
DỊCH VỤ
VÀ
ĐẦU TƯ
H
P.GIÁM ĐỐC
họ
CÁC ĐỘI SẢN XUẤT
PHÒNG
TÀI
CHÍNH
KẾ
TOÁN
VPĐD tại
TPHCM
+ Thực hiện các nghiệp vụ kinh tế và điều lệ tổ chức kế toán theo đúng
quy định nhà nước ban hành.
H
+ Theo dõi giá thành vật tư sản phẩm, sổ chi tiết giá thành và tập hợp chí
phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm. Thu hồi các khoản công nợ của công ty.
tế
- Phòng xuất nhập khẩu
+ Tổng hợp các thông tin thị trường trong và ngoài nước về tiêu thụ giá cả
h
+ Quản lý và theo dõi họp đồng khoán của nhà máy chế biến cà phê. Hợp
in
đồng kinh tế giao nhận, vận chuyển cà phê giữa công ty với các bên đối tác.
cK
- Phòng quản lý sản xuất
+ Quản lý toàn bộ tài sản như: Vườn cây cà phê, hệ thống vành đai chắn
gió, hồ đập nước, thiết bị ống máy phục vụ tưới nước, sản phẩm cà phê.
họ
diện tích theo từng số năm trồng khác nhau và hình thức khoán khác nhau.
Ngoài ra công ty phải đảm bảo hoàn thành việc thanh toán bảo hiểm đầy đủ
H
hàng tháng cho những công nhân đã đến tuổi nghỉ hưu.
- Về phía công nhân (người nhận khoán ): Sẽ phải tuân thủ kỹ thuật
tế
chăm sóc và thu hái theo quy định hợp đồng trong sổ khoán. Ngoài ra các hộ
nộp bảo hiểm.
in
Về sản lượng giao khoán
h
gia đình phải đóng 2% phí bảo vệ vườn cây, 1% Quỹ phúc lợi địa phương và
cK
+ Đối với hình thức khoán có đầu tư: Với mức sản lượng nộp khoán cao
hơn hộ khoán không đầu tư. Đặc biệt các hộ gia đình phải nộp toàn bộ sản
lượng tươi thu hoạch cho công ty bao gồm cả sản lượng vượt khoán. Việc
họ
Diện tích (ha)
Tên đội
Diện tích (ha)
Đội 2
99
Đội 19/5
Đội 3
67
Đội 19/8
Đội 10
103
Đội Buôn Jun
Đội 11
68
Đội 12
Diện tích của hai hình thức khoán tương đương nhau. Tại An Thuận có
tổng diện tích là 407 ha, Phước An có tổng diện tích là 440 ha. Số diện tích
họ
tương đương nhau nhưng số hộ nhận khoán có sự chênh lệch, ở Phước An với
tổng số hộ nhận khoán 539 hộ còn tại An Thuận tổng số hộ nhận khoán chỉ là
381 hộ ít hơn Phước An 158 hộ. Do Phước An được thành lập từ lâu nên dân
Đ
ại
cư ở vùng này từ các tỉnh ở khu vực phía Bắc vào làm ăn kinh tế tương đối
nhiều.
Tuy vậy, sản lượng mà cả hai hình thức khoán đem lại cho công ty thì
ngược lại với số diện tích và số hộ nhận khoán. Trong niên vụ vừa qua
2008/2009 tại An Thuận đóng góp với tổng sản lượng 7.206.247 tấn bao gồm
sản lượng khoán 3.558.477 tấn và vượt khoán 3.647.770 tấn. Còn tại Phước An
đạt là 1.498.294 tấn bao gồm sản lượng khoán 1.296.331 tấn và vượt 201.963
tấn.
Năm vừa qua tại cơ sở Phước An sản lượng đạt được thấp hơn nhiều so
với cơ sở An Thuận là 5.909.916 tấn. Lý do để giải thích cho sự chênh lệch đó
25