CẢM THỤ VĂN HỌC VÀ VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HSTH - Pdf 39

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ CẢM THỤ VĂN HỌC VÀ VIỆC
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HSTH
1.1. Khái quát về cảm thụ văn học
1.1.1. Khái niệm cảm thụ văn học
1.1.1.1. Cảm thụ văn học là gì?
“Cảm thụ văn học là một quá trình tiếp nhận, hiểu, cảm được văn chương, tính
hình tượng của văn chương, đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng phản ánh nghệ
thuật của văn chương” (Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học, Nxb Đại học
Quốc gia, Hà Nội, 1999).
“Cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế
nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài thơ…)
hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ… thậm chí một từ ngữ có giá trị
trong câu văn, câu thơ)” (Luyện tập về cảm thụ văn học, Nxb Giáo dục, 2003).
Cảm thụ văn học (CTVH) là hoạt động thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của
tác phẩm văn học bằng nhiều năng lực tinh thần: tri giác, xúc cảm, liên tưởng, tưởng
tượng... nhằm phát hiện, khám phá, chiếm lĩnh bản chất thẩm mĩ của văn chương, tạo
được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc.
- Cấu trúc của CTVH: Là sự đan xen phức tạp các yếu tố: tri giác, lí giải, xúc
cảm, liên tưởng, tưởng tượng...
- Mục đích của CTVH: Cảm nhận, phát hiện, khám phá và chiếm lĩnh bản chất
thẩm mĩ của văn chương, nhằm bồi dưỡng mĩ cảm phong phú, tinh tế cho độc giả.
- Yêu cầu của CTVH:
+ Phải có xúc cảm, suy ngẫm, tưởng tượng, thực sự gần gũi, "nhập thân" vào
thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học
+ Cảm nhận được những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ
nhất của văn học thể hiện trong tác phẩm hay một bộ phận của tác phẩm.
+ Phương thức chiếm lĩnh đối tượng chủ yếu là bằng tình cảm, những xúc động
mang tính trực quan, trực cảm, những liên tưởng, suy luận...
+ Cảm thụ đặc biệt cần đến sự tinh tế, nhạy cảm, sâu sắc của tâm hồn, cần đến
vốn sống, vốn văn hoá, sự trải nghiệm của con người.

- Đọc hiểu tất cả các loại văn bản.

- Cảm thụ văn bản nghệ thuật.

- Mối quan hệ giữa đọc - hiểu và cảm thụ văn học:
Đọc - hiểu và cảm thụ đều là những hoạt động thâm nhập vào tác phẩm văn
chương. Chúng có sự tác động qua lại, thống nhất nhưng không đồng nhất. Có thể nói
từ đọc - hiểu đến cảm thụ là một tiến trình chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật. Nếu coi đọc
hiểu là bước khởi đầu, là nền móng thì cảm thụ văn học là bước cuối cùng hoàn thành
quá trình thâm nhập một văn bản nghệ thuật.
Đầu tiên là đọc để hiểu nội dung tác phẩm, nắm bắt các thông tin mà tác giả gửi
gắm, nhận diện các yếu tố nghệ thuật đã được sử dụng nhằm chuyển tải thông tin tới
người đọc một cách ấn tượng. Cảm thụ là quá trình người đọc nhập thân đầy cảm xúc
vào tác phẩm, suy tư về một số các câu chữ, hình ảnh, lập luận và sống cùng tâm
trạng, cảm xúc của nhân vật. Hiểu và cảm thụ văn bản nghệ thuật thuộc hai mức độ
nông sâu khác nhau: hiểu là việc chạm tới nội dung bề mặt của ngôn từ nghệ thuật,
còn cảm thụ là việc nhận thức được chiều sâu ý nghĩa của văn bản từ những gì mà
2


ngôn từ gợi ra.
Ví dụ: Văn bản Mùa xuân đến (Nguyễn Kiên, Tiếng Việt 2, tập 2).
Để hiểu bài văn này, người đọc chỉ cần quan tâm đến các thông tin: dấu hiệu của
mùa xuân, những thay đổi của bầu trời và mọi vật khi mùa xuân đến; hương vị của
mỗi loài hoa, vẻ riêng của mỗi loài chim... cuối cùng khái quát nội dung bài: mùa xuân
làm cho cảnh vật thêm đẹp đẽ và sinh động.
Nhưng để cảm thụ nó, người đọc phải có một thứ mẫn cảm riêng, có thể đó là sự
nhạy cảm của tâm hồn, là sự thành tâm chú ý, là chút thắc mắc mang tính thẩm mĩ...
miễn là không dễ dàng đi qua câu chữ của bài văn này. Người đọc có thể dừng lại ở
đâu đó. Chỗ khiến người ta dễ chú ý ở đây chính là câu văn đầu và câu văn cuối, bởi

4. Cảm thụ tư tưởng của tác giả: tư tưởng, quan niệm, chính kiến của nhà văn về
con người, xã hội, đạo đức, nghệ thuật, thẩm mĩ
Ví dụ: Các cấp độ cảm thụ bài thơ Cây dừa của Trần Đăng Khoa:
- Cảm thụ ngôn từ:
+ Dùng nhiều động từ: dang tay, gật đầu, đón, gọi, múa reo, đánh nhịp...
+ So sánh: tàu dừa - chiếc lược, quả dừa - đàn lợn con...
+ Nhân hóa: cây dừa - con người...
→ Miêu tả cây dừa chân thực, sống động mà tinh tế, ấn tượng.
- Cảm thụ hình tượng: hình tượng cây dừa:
+ Gắn bó chan hòa với thiên nhiên (gió, trăng, mây, nắng, đàn cò)
+ Làm công việc có ích, cao cả: canh giữ đất trời
+ Phong thái: vui tươi, chan hòa, từng trải, ung dung.
→ Cây dừa vừa như một người bạn hào phóng, vừa như một người lính trang
nghiêm...
- Cảm thụ ý nghĩa tác phẩm:
+ Nghĩa đen: miêu tả cây dừa
+ Nghĩa bóng: hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Nam.
+ Ý nghĩa nhân văn - thẩm mĩ: cây dừa - biểu tượng đẹp của đất nước và con
người Việt Nam, vừa trẻ trung, vừa thâm trầm, bình thản.
- Cảm thụ tư tưởng của tác giả:
Quan niệm về thiên nhiên: thân thương, bình dị, chan hòa, gần gũi với con người,
Bộc lộ cái nhìn vừa trẻ thơ, vừa già dặn về thế giới xung quanh.
1.1.3. Quá trình cảm thụ văn học
Quá trình CTVH là quá trình đi từ đọc - hiểu đến cảm thụ, thâm nhập vào thế
giới nghệ thuật, chiếm lĩnh bản chất thẩm mĩ của văn chương, đảm bảo mối quan hệ
giữa nhà văn - tác phẩm - bạn đọc.
Đặc điểm nổi bật của quá trình CTVH là đọc văn bản trong nhận biết và rung
động. Người đọc có thể tạo nên những liên tưởng thẩm mỹ giữa bản thân mình với văn
bản tác phẩm. Người đọc không chỉ lĩnh hội đầy đủ các thông tin được truyền đạt mà
4

người đọc. Sau khi phát hiện, bước tiếp theo là phân tích, bình giảng làm nổi bật vẻ
đẹp đó để người khác có thể chia sẻ, thưởng thức.
1.1.4. Năng lực cảm thụ văn học
Năng lực CTVH là khả năng nắm bắt một cách nhanh, nhạy, chính xác các đặc
điểm, đặc trưng, bản chất của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật; là khả năng hiểu,
5


rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điều tâm sự thầm kín nhất của tác giả gửi
gắm qua hình tượng; là khả năng đánh giá chính xác và sâu sắc tài năng cũng như sự
độc đáo trong phong cách nhà văn.
Năng lực cảm thụ văn học ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau do nhiều
yếu tố qui định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiến thức, tình cảm và
thái độ, sự nhạy cảm khi tiếp xúc với tác phẩm văn học… Ngay cả ở một người, sự
cảm thụ một bài văn, bài thơ trong những thời điểm khác nhau cũng khác nhau.
1.2. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học
1.2.1. Ý nghĩa của việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho HSTH
- Việc rèn luyện để năng cao năng lực cảm thụ văn học là một nhiệm vụ rất cần
thiết đối với học sinh Tiểu học. Một học sinh có năng lực cảm thụ văn học tốt sẽ cảm
nhận được các giá trị nhân văn, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, góp phần bồi dưỡng
tâm hồn, tình cảm của các em.
- Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học nhằm giúp các em có những nhận thức
ban đầu về văn học và cuộc sống, biết cách đọc các tác phẩm nghệ thuật, nhận biết
nhanh nhạy và chính xác các tín hiệu nghệ thuật, hình thành một số kỷ năng đơn giản
trong phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
- Ngữ liệu dạy học các phân môn tiếng Việt đa phần là các văn bản có giá trị
nghệ thuật, cần được khám phá cả nội dung tư tưởng và vẻ đẹp ngôn từ. Việc rèn
luyện, trau dồi để nâng cao trình độ cảm thụ văn học không những giúp các em cảm
nhận được cái hay, cái đẹp của văn chương mà còn giúp các em học tốt môn Tiếng
Việt, nói và viết Tiếng Việt ngày càng trong sáng, sinh động hơn...

những truyện kết thúc theo lối để ngỏ cũng không được trẻ ưa thích...
1.2.3. Năng lực cần thiết của giáo viên tiểu học khi bồi dưỡng cảm thụ văn
học cho học sinh
1.2.3.1. Có sự hiểu biết sâu sắc về nội dung, nghệ thuật tác phẩm
Trước hết, giáo viên cần có sự hiểu biết sâu sắc về nội dung, nghệ thuật tác
phẩm. Đó là sự nhận thức đầy đủ và sâu sắc những thông tin cơ bản về tác phẩm, bao
gồm: tác giả, thời đại, hoàn cảnh sáng tác, nội dung tư tưởng, ý đồ nghệ thuật...
Để mở rộng hiểu biết và nâng cao nhận thức đối với tác phẩm, cần tìm hiểu
những thông tin bên ngoài tác phẩm: sự bình giá của xã hội đối với tác phẩm, sự phân
tích, đánh giá, khen, chê của bạn đọc và các nhà nghiên cứu, phê bình được đăng tải
trên sách báo. Các nguồn thông tin đó khơi gợi cho giáo viên nắm bắt nội dung tư
tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm một cách chính xác, rõ ràng hơn, giúp họ có
cái nhìn cập nhật, hiện đại về đời sống văn học, có cách đánh giá tác phẩm từ nhiều
góc độ trên tinh thần khách quan, khoa học.
Sự hiểu biết, nhận thức, cảm thụ của giáo viên về tác phẩm có ảnh hưởng sâu sắc
đến quá trình cảm thụ văn học của học sinh. Giáo viên có kiến thức và cảm nhận sâu
7


sắc mới có thể phân tích, bình giá hay, thuyết phục về tác phẩm, khiến các em đồng
cảm và "tái cảm thụ"; có cơ sở để điều chỉnh hoặc phát huy những phát hiện của học
sinh, đưa ra những định hướng cho các em cảm nhận được giá trị nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm...
1.2.3.2. Có khả năng rung động trước vẻ đẹp tinh tế của hình tượng văn chương
Yêu cầu cao hơn đối với giáo viên trong việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho học
sinh là phải có được khả năng rung cảm trước vẻ đẹp tinh tế của hình tượng văn học.
Mặc dù trong thực tế, sự rung cảm này là “muôn hình muôn vẻ”, nhưng nó vẫn có
những điểm chung, được cụ thể hoá thành hai năng lực cơ bản sau:
- Phát hiện ra những tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm:
Giáo viên tiểu học phải là những độc giả có trình độ thẩm mỹ cao, để không chỉ

viên phải chọn bình những chi tiết nào là điểm sáng nghệ thuật, và chọn được cách nói
ấn tượng, độc đáo, nhằm tác động mạnh đến cảm xúc của học sinh, giúp các em nắm
được thần thái, linh hồn của tác phẩm.
1.2.3.3. Am hiểu tâm lý tuổi thơ, biết tôn trọng cách nghĩ, cách cảm riêng của
học sinh
CTVH là hoạt động mang tính chủ động, tích cực nên trong việc bồi dưỡng năng
lực CTVH, giáo viên cần có năng lực quan sát tâm lý để hiểu được những suy nghĩ,
cảm xúc riêng tư của từng học sinh. Giáo viên cần tạo điều kiện để từng học sinh trở
thành những chủ thể đích thực của quá trình cảm thụ. “Thầy giáo phải biết chấp nhận
những ý kiến lạ, những cá tính khác, không lấy mình làm mẫu, không áp đặt…, vì mỗi
trẻ em cần trở thành chính mình, thành một cá nhân độc đáo” (Hoàng Hoà Bình - Dạy
văn cho học sinh tiểu học).
1.2.3.4. Có giọng đọc, giọng kể hấp dẫn
Giọng đọc và giọng kể là nhân tố quan trọng trong việc dẫn truyền tư tưởng,
tình cảm của tác giả đến người nghe. Toàn bộ nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
đều phải thông qua giọng đọc và giọng kể của giáo viên để chuyển đến học sinh.
Đọc, kể diễn cảm hay, có hồn trước hết xuất phát từ sự am hiểu sâu sắc tác
phẩm, đồng điệu với tác giả, có xúc cảm thật sự với tình tiết, nhân vật, hình ảnh... Bên
cạnh đó cũng cần chất nghệ sĩ, năng khiếu và sự khổ công rèn luyện nhất định. Do
vậy, giáo viên cần rèn luyện về cách đọc, giọng đọc, cách biểu cảm của ánh mắt, điệu
bộ; khắc phục những âm thanh chưa chuẩn, hoặc thiếu sức hấp dẫn; đồng thời giúp
học sinh phát hiện những yếu kém của mình trong cách đọc, cách kể để từng bước
khắc phục. Đó cũng là một trong những yêu cầu để bồi dưỡng năng lực CTVH cho học
sinh.
1.2.3.5. Có khả năng diễn đạt mạch lạc, trong sáng, giản dị
Giáo viên cần phải có năng lực diễn đạt tốt. Năng lực diễn đạt nói chung là
năng lực ngôn ngữ - tư duy, thể hiện rõ nhất trong việc sử dụng từ ngữ trong sáng, giản
9



thức và vận dụng.
- Do tính chất sư phạm nên cảm thụ trong nhà trường nói chung là hoạt động “tái
cảm thụ” và “ tập cảm thụ”. Trong quá trình dạy học, tất nhiên không nên bắt buộc học
10


sinh phải lệ thuộc vào kết quả cảm thụ của những người đi trước, mà trái lại cần
khuyến khích các em cảm thụ tự do. Tuy vậy, giáo viên đồng thời phải có những yêu
cầu khiến học sinh không cảm thụ sai, tản mạn và tiêu cực. Cho nên, tính chất “tái cảm
thụ” và “tập cảm thụ” trong trường là không thể tránh khỏi, đó là sự tất yếu và cần
thiết.
1.2.5. Nội dung bồi dưỡng năng lực CTVH ở trường tiểu học
CTVH ở bậc Tiểu học là cả một quá trình. Các em cảm nhận được sự sâu sắc,
tinh tế của tác phẩm thông qua việc đọc mẫu của giáo viên, thông qua việc rèn luyện
đọc và đặc biệt trong việc khai thác, tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
1.2.5.1. Tìm hiểu đặc trưng thể loại của văn bản nghệ thuật
Cảm thụ văn học là nhu cầu đặt ra với văn bản nghệ thuật. Do đó, để đọc hiểu và
cảm thụ tốt các văn bản nghệ thuật thì trước hết cần tìm hiểu đặc trưng của nó.
“Văn bản nghệ thuật là một sản phẩm nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu
phản ánh, là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp
thành, một thông báo mà tác giả gửi tới người đọc” (Dương Thị Hương, Giáo trình
Cảm thụ văn học). Văn bản nghệ thuật là sự sáng tạo độc đáo nên nghĩa của nó không
bó hẹp trong phạm vi nhất định mà còn có quan hệ với những thành tố khác ngoài văn
bản. Người đọc văn bản nghệ thuật dựa trên sự sáng tạo của người viết để khám phá ý
nghĩa của nó và đôi khi hiểu nó theo suy nghĩ của mình, từ đó sáng tạo thêm những
điều mới.
Cấu trúc của văn bản nghệ thuật không bó hẹp, đóng kín mà là một cấu trúc
mở, một thế giới nghệ thuật mà ở đó có sự sáng tạo của người viết và sự hình dung
riêng của mỗi người đọc. Thế giới nghệ thuật của văn học luôn có những quy luật,
những giá trị riêng của nó, vì vậy, việc đánh giá và lý giải tác phẩm không thuần tuý là

Sức mạnh của thơ kết tinh từ độ chân thật của cảm xúc cùng vẻ đẹp của ngôn từ,
hình ảnh, âm thanh, nhạc điệu, vần nhịp... Đó là những yếu tố mà giáo viên cần giúp
học sinh cảm thụ ở thể loại này.
1.2.5.2. Rèn kĩ năng phát hiện chất văn chương của văn bản nghệ thuật
Phẩm chất và giá trị của văn bản nghệ thuật nằm ở chất văn chương của nó. Vì
vậy, để cảm thụ văn học tốt cần giúp học sinh phát hiện và hiểu rõ chất văn chương
trong các tác phẩm nghệ thuật. Để làm được điều đó, đòi hỏi các em phải thể hiện sự
tích cực trong việc tiếp nhận nó.
Bước 1: Đọc có ý thức:
Người đọc cần nắm rõ và hiểu từng chi tiết, hình ảnh, hình thức ngôn từ, nội
dung, ý nghĩa của tác phẩm văn học. Quá trình CTVH chỉ diễn ra khi người đọc hiểu
được những gì tác phẩm mang đến. Người đọc đồng thời dùng khả năng liên tưởng và
tưởng tượng của mình để bổ sung những yếu tố chủ quan vào bức tranh của nhà văn,
nhờ vậy, những kinh nghiệm riêng của người đọc sẽ làm phong phú thêm hình tượng,
mở ra khả năng đồng sáng tạo trong quá trình tiếp nhận. Sự liên tưởng, tưởng tượng
12


giúp cho quá trình đọc trở nên chất lượng hơn, nó đóng vai trò như công cụ giúp cho
người đọc khám phá những chi tiết và hình ảnh giàu tính cảm xúc mà tác giả xây dựng
trong tác phẩm.
Ở mỗi thể loại văn bản nghệ thuật, sự liên tưởng, tưởng tượng lại xuất phát từ
những yếu tố khác nhau. Trong văn xuôi, nó xuất phát từ những chi tiết, những tình
huống gợi tả, gợi cảm có sức tác động tới tâm hồn và nhận thức. Trong thơ, sự liên
tưởng và tưởng tượng lại xuất phát từ việc cảm nhận nhân vật trữ tình trong tác phẩm
qua vẻ đẹp của ngôn từ.
Cảm hứng và những xúc cảm của người đọc khi thâm nhập vào thế giới nghệ
thuật của tác phẩm là điều kiện làm nảy sinh những liên tưởng và tưởng tượng sáng
tạo. Nếu không có những liên tưởng, tưởng tượng người đọc khó phát hiện hết được vẻ
đẹp của ngôn từ và chất văn chương trong mỗi tác phẩm và khó lòng cảm thụ văn học

Đoạn văn miêu tả vẻ đẹp của làng quê vào những ngày mùa. Một bức tranh thiên
nhiên tươi thắm với một sắc vàng bao trùm: lúa chín vàng xuộm, nắng nhạt vàng hoe,
quả xoan vàng lịm, chiếc lá mít vàng ối, tàu đu đủ vàng tươi, bụi mía vàng xọng...
Màu vàng càng nổi bật hơn khi có sự xuất hiện xen kẽ màu đỏ của những quả ớt chín,
của những chiếc lá ngả màu. Tất cả tạo nên một khung cảnh làng quê tuyệt đẹp với sắc
vàng được sử dụng làm gam màu chủ đạo. Đối tượng được miêu tả là những sự vật
quen thuộc của làng quê: đồng lúa, đống rơm, con gà, buồng chuối..., những thứ quen
thuộc với cuộc sống bình dị và luôn gợi nhớ đối với mỗi người khi nghĩ về quê hương.
Những từ ngữ giàu tính gợi tả như vàng lịm, vàng hoe, đỏ chói... giúp người đọc hình
dung sắc thái khác nhau của mỗi sự vật, từ đó cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh
quê.
Trong thể loại thơ, những tín hiệu thẩm mĩ lại được thể hiện chủ yếu ở hình ảnh,
nhạc điệu, tâm trạng nhân vật trữ tình... Nhạc điệu trong thơ góp phần quan trọng cho
việc cảm thụ văn học, vì nó được tạo thành từ nhiều yếu tố như vần thơ, nhịp điệu,
cách sử dụng ngữ âm, cấu trúc và cả sự ngân vang của tâm hồn.
Ví dụ: bài Tiếng võng kêu (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 117).
Kẽo cà kẽo kẹt gợi âm thanh tiếng võng kêu mỗi trưa hè; thể thơ bốn tiếng, nhịp
nhàng như một khúc hát ru; việc sử dụng những từ láy gợi hình phơ phất, mênh mông,
vương vương, lặn lội cùng tình cảm dành cho em gái chất chứa trong mỗi câu thơ... tất
cả góp phần làm cho nhạc điệu trong bài thơ rõ ràng và nổi bật hơn.
Để hiểu và cảm thụ tốt một bài thơ cũng cần phải biết nhân vật trữ tình trong thơ
là ai? Bài thơ bộc lộ những tình cảm gì? Đối tượng mà bài thơ hướng đến? Hình thức
thể hiện như thế nào? Đây là những thao tác cần phải thực hiện để giúp hiểu rõ và
đúng về bài thơ, từ chỗ hiểu đúng mới cảm nhận hết cái hay, cái đẹp, ý nghĩa của nó.
Để phát hiện và khám phá các chi tiết và hình ảnh có giá trị thẩm mĩ, ngoài việc
đọc để hiểu và phát hiện ra nó thì còn phải hòa mình, đặt mình vào trong thế giới nghệ
thuật của tác phẩm để cảm nhận, từ đó, liên tưởng, tưởng tượng đến những giá trị cao
14



Người đọc khi đạt đến sự đồng cảm, rung động thực sự thì đã thành công khi tiếp
nhận các tác phẩm thơ, văn. Họ xúc động, đồng cảm với những tư tưởng, tình cảm và
cả những suy tư trăn trở của tác giả được biểu hiện qua nội dung của tác phẩm. Chính
15


điều này phần nào tạo ra mối liên hệ vô hình giữa người đọc và tác giả.
Nếu người đọc chỉ dừng lại ở mức hiểu nội dung trực tiếp của nó, thì sẽ giống
như chỉ mới nắm bắt được phần nổi của tảng băng trôi. Ý nghĩa của tác phẩm chính là
phần chìm của tảng băng đó, cần được khám phá. Chừng nào chưa khám phá được
thông điệp ngầm mà tác giả thể hiện trong văn ban thì quá trình cảm thụ vẫn chưa kết
thúc.
1.2.5.3. Rèn kĩ năng diễn đạt những điều cảm nhận được từ văn bản nghệ thuật
CTVH vốn là một quá trình hai chiều: thu nhận và phát tín hiệu. Thu nhận chính
là việc người đọc hiểu được và cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi tác phẩm nghệ
thuật. Phát tín hiệu chính là việc diễn đạt bằng lời của mình về những cảm nhận từ tác
phẩm ra bên ngoài. CTVH thực sự chỉ diễn ra khi đồng thời thực hiện đủ cả hai quá
trình nhận và phát. Nếu chỉ hiểu, chỉ biết cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm mà
không thể đưa nó vượt ra khỏi sự cảm nhận của mình để đến với người khác thì sự
cảm thụ chưa đạt. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách diễn đạt sao cho tốt, cho
trọn vẹn những gì mình đã cảm nhận. Chính điều này ảnh hưởng đến quá trình cảm thụ
văn học ở mỗi người.
Việc diễn đạt hay phát tín hiệu thường được thực hiện dưới hai cách thức: nói
hoặc viết và theo những mức độ thụ động và chủ động khác nhau. Ở mức độ thụ động
thường là diễn đạt theo yêu cầu của một bài tập được đưa ra.
Ví dụ: Sau khi học sinh học xong một tác phẩm nghệ thuật nào đó, giáo viên
thường đưa bài tập kèm theo yêu cầu học sinh viết một đoạn văn nói về cái hay, cái
đẹp mà mình cảm nhận hoặc viết về những điều gây cho mình những cảm xúc riêng từ
tác phẩm. Đó là diễn đạt ở mức độ thụ động.
Còn với mức độ chủ động, người đọc sau khi tiếp xúc và khám phá tác phẩm

minh họa).
3. Trình bày các cấp độ CTVH. Làm rõ các cấp độ cảm thụ một tác phẩm văn
học trong chương trình tiểu học.
4. Năng lực CTVH là gì? Vì sao năng lực CTVH ở mỗi người không giống
nhau?
5. Trình bày ý nghĩa của việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho HSTH.
6. Phân tích đặc điểm CTVH của HSTH.
7. Trình bày những năng lực cần thiết của giáo viên tiểu học khi bồi dưỡng
CTVH cho học sinh.
8. Phân tích đặc trưng CTVH ở trường Tiểu học.
9. Trình bày nội dung bồi dưỡng năng lực CTVH ở trường tiểu học.

17


CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP, BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
2.1. Phương pháp bồi dưỡng năng lực CTVH cho HSTH
Các nhóm phương pháp chủ yếu được vận dụng trong việc bồi dưỡng năng lực
CTVH cho học sinh Tiểu học là:
2.1.1. Nhóm phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan trong cảm thụ văn học bao gồm: xem tranh, ảnh, băng
hình, quan sát, nghe đọc - ngâm, nghe kể - diễn kịch… Do đặc điểm lứa tuổi, phương
pháp trực quan có vai trò rất quan trọng trong việc bồi dưỡng năng lực CTVH cho học
sinh tiểu học. Có thể chia nhóm phương pháp trực quan thành các loại:
- Trực quan hình ảnh, vật mẫu: xem tranh minh họa, xem phim…
- Trực quan âm thanh: nghe kể, đọc truyện, ngâm thơ…
- Trực quan tổng hợp: đi thực địa để được quan sát các đối tượng của tự nhiên,
xã hội, tiếp xúc trực tiếp với nhân vật, với nhà văn…

+ Biết lựa chọn những thông tin cơ bản.
+ Diễn đạt được những thông tin ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu và gây được cảm
hứng.
+ Không để thông tin lấn át sự suy nghĩ độc lập của học sinh.
+ Tuỳ thuộc đối tượng lứa tuổi để lựa chọn thông tin.
2.1.3. Nhóm phương pháp mô hình hoá
Đây là phương pháp dựa trên khuôn mẫu để rèn luyện kỹ năng, hình thành năng
lực cho học sinh. Bao gồm việc xây dựng và sử dụng các khuôn mẫu, mô hình hay
thiết kế quy trình hoạt động. Trong CTVH, nhóm phương pháp này thể hiện qua những
công việc cụ thể như sau:
- Đọc mẫu: Đọc mẫu là việc của giáo viên hay một số em học sinh đọc tốt (có
thể dùng băng ghi giọng đọc mẫu). Đọc mẫu có vai trò rất quan trọng trong việc
chuyển tải tư tưởng tình cảm của tác giả, hình thành ấn tượng, cảm xúc ban đầu về tác
phẩm.
- Kể mẫu: cách kể mẫu, giọng kể mẫu có thể giúp học sinh định hình cách cảm
thụ hình tượng trong truyện kể (có thể cho các em nghe, xem những băng ghi hình).
Người đọc mẫu và kể mẫu là người không chỉ có chất giọng tốt mà còn phải
có trình độ cảm thụ tốt. Việc đọc mẫu và kể mẩu là cách thể hiện cảm xúc một cách
trực tiếp, cũng là con đường truyền cảm rất hiệu quả. Điều quan trọng là tất cả những
rung động, xúc cảm trong đọc mẫu, kể mẫu có thể coi là đã được “chuẩn mực hoá” để
học sinh tham khảo, thậm chí bắt chước.
- Các dàn bài tập làm văn cũng là một kiểu khuôn mẫu. Đó chính là những
khung sườn giúp cho học sinh định hình lối tư duy, cảm thụ và diễn đạt. Các bài văn
19


mẫu cũng là những công cụ quen thuộc và cũng rất cần thiết trong dạy - học văn. Tuy
nhiên giáo viên cần phải biết soạn những bài văn mẫu một cách chu đáo và sử dụng
một cách đúng đắn, tránh lạm dụng thì nó sẽ trở thành một công cụ rất tốt cho dạy học.
Bởi các bài văn mẫu có thể giúp cho học sinh tiểu học tiếp thu được ở thầy, ở bạn cách



Tuy nhiên, cần lưu ý, câu hỏi thật sự rất quan trọng trong việc thực hiện các nội
dung sau:
+ Tìm hiểu các từ ngữ khó
+ Tìm hiểu ý của đoạn, ý chính của bài
+ Tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật
+ Tìm hiểu ý nghĩa xã hội, giá trị nhân văn của tác phẩm
+ Rèn các kỹ năng diễn đạt cảm xúc
Yêu cầu khi xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập:
+ Xác định rõ mục đích câu hỏi, bài tập (cung cấp kiến thức hay rèn luyện kỹ
năng gì).
+ Diễn đạt yêu cầu rõ ràng, dứt khoác.
+ Phù hợp với đối tượng
Ví dụ:
Câu hỏi: Hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài Sự tích cây vú sữa
(Tiếng Việt 2, tập 1, trang 96).
+ Vì sao cậu bé bỏ nhà ra đi?
+ Trở về nhà không thấy mẹ, cậu bé đã làm gì?
+ Điều kì lạ nào đã xảy ra?
+ Quả có những đặc điểm gì?
+ Vì sao người ta gọi cây xanh ấy là cây vú sữa?
+ Em có hiểu vì sao cậu bé lại òa khóc khi nhìn lên tán lá không?
Bài tập:
1. Đọc đoạn thơ dưới đây (trong bài Khi mẹ vắng nhà của Trần Đăng Khoa), em
có suy nghĩ gì về câu trả lời của bạn nhỏ trong bài thơ đối với mẹ?
Mẹ bảo em: Dạo này ngoan thế!
- Không, mẹ ơi! Con đã ngoan đâu!
Áo mẹ mưa bạc màu
Đầu mẹ nắng cháy tóc

thể hướng các em đến với thơ văn vì thế giới đó sẽ mang đến cho các em nhiều điều bổ
ích và lí thú về thiên nhiên, con người và cuộc sống. Ngoài ra, kể cho học sinh nghe về
cuộc đời riêng của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, cho các em biết xuất xứ của những
câu chuyện, bài thơ hay, tổ chức những cuộc nói chuyện văn thơ... cũng là những cách
khơi gợi sự tò mò, hứng thú đối với thơ văn, đưa các em đến gần hơn với tác phẩm
nghệ thuật.
Ngay khi còn nhỏ, hầu hết các em đều thích nghe ông bà, cha mẹ hoặc người
thân kể chuyện, đọc thơ. Bước chân tới trường tiểu học, được tiếp xúc với những câu
thơ, bài văn hay trong sách giáo khoa Tiếng Việt, nhiều em say mê đọc từng trang sách
một cách thích thú. Đó chính là những biểu hiện ban đầu của hứng thú, cần gìn giữ và
nuôi dưỡng để nó phát triển liên tục, mạnh mẽ. Một học sinh chưa thích văn học, thiếu
22


sự say mê cần thiết, nhất định chưa thể đọc lưu loát và diễn cảm bài văn, chưa thể xúc
động thực sự với những gì đẹp đẽ được tác giả diễn tả qua bài văn ấy.
Có hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn, các em sẽ vượt qua được khó khăn, trở
ngại, cố gắng luyện tập để cảm thụ văn học tốt và học giỏi môn Tiếng Việt. Tập đọc
diễn cảm một bài thơ, đoạn văn, chăm chú quan sát, lắng nghe để tìm hiểu cái đẹp của
thiên nhiên và cuộc sống quanh ta, tập dùng từ ngữ cho đúng và hay, nói và viết thành
câu cho rõ ý, sinh động và gợi cảm… tất cả đều giúp các em phát triển năng lực cảm
thụ văn học. Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn cũng chính là tự rèn luyện
mình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với văn học một cách tự giác, say
mê. Đây là yếu tố quan trọng của cảm thụ văn học.
2.2.2. Bồi dưỡng vốn tri thức ngữ - văn cho học sinh tiểu học
2.2.2.1. Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về Tiếng Việt
Để trau dồi năng lực cảm thụ văn học ở tiểu học, các em cần nắm vững những
kiến thứcTiếng Việt cơ bản đã học trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học. Có
hiểu biết về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt sẽ giúp các em không chỉ nói – viết
tốt mà còn có thể cảm nhận được nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt

hình thức tìm hiểu nội dung văn bản tác phẩm. Song trong việc tìm hiểu nội dung ý
nghĩa của văn bản, giáo viên không chỉ dừng lại ở mức tái hiện những kiến thức có
trong tác phẩm mà dựa trên những vấn đề học sinh đã phát hiện được như các biện
pháp nghệ thuật, các ngữ liệu thể hiện các biện pháp nghệ thuật... để định hướng cho
học sinh cảm nhận được giá trị nghệ thuật của văn bản. Muốn cảm nhận trọn vẹn giá
trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm, trước hết giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu bố
cục và nội dung bài.
Ví dụ:
- Bài thơ, đoạn trích được chia làm mấy đoạn.
- Giúp học sinh tìm hiểu nội dung từng đoạn thông qua hệ thống các câu hỏi từ
đơn giản (trả lời theo nội dung đã có sẳn trong bài) đến những câu hỏi khó (học sinh
phải hiểu nội dung bài mới có thể giải đáp). Từ việc trả lời đúng các câu hỏi, học sinh
sẽ nêu được nội dung của đoạn (thơ, văn) hoặc toàn bài.
- Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm có sáng tạo nhằm giúp học sinh nâng cao
cảm xúc thẩm mỹ và kích thích các em khám phá ra bí ẩn dưới những dòng chữ của
tác phẩm.
2.2.3. Bồi dưỡng vốn sống, vốn văn hóa
Vốn sống là một khái niệm rộng rãi, bao gồm toàn bộ tri thức, kinh nghiệm về
cuộc sống của mỗi cá nhân. Đó là những hiểu biết, những cảm xúc và cách ứng xử của
mỗi người trong những mối quan hệ với thiên nhiên và xã hội. Yêu cầu của việc bồi
dưỡng vốn sống đối với học sinh tiểu học là giúp các em tích luỹ được nhiều tri thức,
kinh nghiệm về cuộc sống.
24


Cảm thụ văn học là quá trình nhận thức có ảnh hưởng bởi vốn sống, vốn văn
hóa, kinh nghiệm, trải nghiệm của mỗi người. Bồi dưỡng vốn sống, vốn văn hóa cho
các em là một quá trình lâu dài và công phu. Giáo viên nên hướng dẫn các em tích lũy
vốn hiểu biết và cảm xúc của bản thân qua sự hoạt động và quan sát hàng ngày trong
cuộc sống. Có vốn sống các em mới có khả năng liên tưởng để tiếp nhận tác phẩm. Có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status