Quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo
Câu 1: Phân biệt sự khác nhau giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan. Tại sao trong
công tác quản lý nhà nước về tôn giáo lại cần sự phân biệt đó?
Khái niệm :
Tín ngưỡng là nguồn gốc của tôn giáo ,là một niềm tin đặc biệt .Mỗi vùng miền có những tín ngưỡng khác nhau
( VD:thờ thần cá ,thần rừng ..)
Tôn giáo :sự sùng bái ,thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với
thần linh (VD:đạo Phật ,đạo tin lành …)
Mê tín dị đoan : là niềm tin mù quáng ,là hiện tượng xã hội tiêu cực ,gây hậu quả xấu về tiền bạc sức khỏe tài
sản tính mạng cho những người tin theo và những người xung quanh (VD:bói toán ,gọi hồn …)
Về tổ chức :
Tôn giáo có tổ chức chặt chẽ ,có giáo lý được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh
đường, học viện... , có nơi thờ cúng , tách biệt giữa thế giới thần linh và con người, nghi lễ chặt chẽ,được
pháp luật bảo vệ
Tín ngưỡng ngược lại chưa qui tụ thành tổ chức,chưa có giáo luật chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền
thuyết, nơi thờ cúng còn phân tán ,có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người,chưa có nghi lễ, được
pháp luật bảo vệ ,dk sự đồng tình và chấp thuận của xã hội .
Tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố cấu thành, đó là: giáo chủ, giáo lý, giáo luật và
tín đồ, thì các loại hình tín ngưỡng dân gian không có 4 yếu tố đó. Nếu đối với tín đồ tôn giáo, một người, trong
một thời điểm cụ thể, chỉ có thể có một tôn giáo thì một người dân có thể đồng thời sinh hoạt ở nhiều tín
ngưỡng khác nhau.
Mê tín dị đoan : chỉ hoạt đọng đơn lẻ không có tổ chức ,phải lợi dụng một không gian nào đó của những cơ sở
thờ tự của tín ngưỡng dân gian để hành nghề hoặc hành nghề tại tư gia, .Hoạt động này bị xã hội lên án, không
đồng tình,ko dk pháp luật bảo vệ
Mục đích
Sinh hoạt tín ngưỡng :thể hiện nhu cầu của đời sống tinh thần, đời sống tâm linh .Trong lĩnh vực này ,không có
Note: mê tín ko đối lập hoàn toàn với tôn giáo
Câu 2: Phân tích nguồn gốc của tôn giáo. Tại sao nói “Đạo đức của tôn giáo có nhiều điều
phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới ở nước ta hiện nay”?
a)Nguồn gốc của tôn giáo :
•
Nguồn gốc KT-XH:đời sống kinh tế khó khăn nên x. hiện tôn giáo như một niềm tin để bấu víu .cứu
vớt
Trong xã hội nguyên thủy, do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém con người cảm thấy yếu đuối và bất
lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn, vì vậy họ đã gắn cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực to lớn,
thần thánh hóa nhứn sức mạnh đó. Từ đó, họ xây dựng nên những biểu hiện tôn giáo để thờ cúng.
Khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, con người cảm thấy bất lực trước sức mạnh của thế lực
giai cấp thống trị. Họ không giải thích được nguồn gốc của sự phân hóa giai cấp và áp bức, bóc lột, tội
ác … tất cả họ quy về số phận và định mệnh. Từ đó, họ đã thần thành hóa một số người thành những
thần tượng có khả năng chi phối suy nghĩ và hành động người khác mà sinh ra tôn giáo.
Như vậy, sự yếu kém về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự bần cùng về kinh tế, áp bức, bóc
lột về chính trị, bất lực trước những bất công của xã hội
•
•
Nguồn gốc nhận thức :trình độ nhận thức kém ,không hiểu biết không lý giải dk một cách khoa học
những gì diễn ra trong cuộc sống . Sự nhận thức của con người khi xa rời hiện thực, thiếu khách quan dễ
rơi vào ảo tưởng, thần thành hóa đối tượng.
Cần phải làm tốt công tác tuyên truyền,vận động ,giáo duc ,nâng cao mức hưởng thụ tôn giáo
Nguồn gốc tâm lý :Sự sợ hãi tạo ra thần linh
Biểu hiện của lòng biết ơn (Vd :nơi chôn cất đại tướng Võ Nguyên Giap)
giáo lai càng góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc .
(5) Bất cứ tôn giáo nào cũng có một hệ thống chuẩn mực và giá trị đạo đức nhằm điều chỉnh ý thức và
hành vi đạo đức của các tín đồ. Mà quan niệm đạo đức của hầu hết mọi tôn giáo, ngoài những giá trị
đặc thù bảo vệ niềm tin tôn giáo thiêng liêng, còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức mang tính nhân
loại, như sống hiếu thảo với cha mẹ, trung thực, nhân ái, hướng tới cái thiện, tránh xa điều ác... .Đó cũng
là những chuẩn mực vô cùng phù hợp vs xã hội mới .( Người theo tôn giáo không phải sống thế nào cũng
được, mà phải sống theo những khuôn phép đạo đức hợp với tín điều của tôn giáo mình, hành động không phải
chỉ là thực hành một số hình thức nghi lễ, mà còn phải sống theo những quy tắc đạo đức nhất định.)
Ví dụ :
+ Mục đích cao cả của Phật giáo là “diệt khổ" để hướng đến giải thoát, đến được Niết bàn. Muốn đạt được điều
đó, con người không chỉ cần có niềm tin tôn giáo, mà còn cần cả sự phấn đấu nỗ lực của bản thân bằng cách
thực hành một đời sông đạo đức. Từ đó, Phật giáo đã đưa ra những chuẩn mực đạo đức rất cụ thể để con người
tu tập, phấn đấu. Trong đó, phổ biến nhất là Ngũ giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói
dối, không uống rượu) và Thập thiện (ba điều thuộc về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, ba
điều thuộc về ý thức: không tham lam, không thù hận, không si mê, bốn điều thuộc về khẩu: không nói dối,
không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không ác khẩu). Những chuẩn mực này cũng vo cùng phù hợp vs xã
hội văn minh ngày nay
+ Trong đạo đức Kitô giáo, giới răn yêu thương được xem là nền tảng. Kinh thánh khuyên con người phải yêu
chồng vợ, cha mẹ, con cái, anh em, làng xóm, cộng đồng... Những điều mà Kinh thánh răn cấm cũng rất cụ thể:
không giết người, không lấy của người, không nói sai sự thật, không ham muốn chồng hoặc vợ của người,
không làm chứng giả để hại người...
Câu 3: Phân tích xu thế hiện nay của các tôn giáo trên thế giới. Xu thế ấy tác động đến
quản lý nhà nước về tôn giáo ở VN như thế nào?
a) thế tục hóa
Hướng chủ yếu của xu thế này là những hành vi nhập thế của mọi tôn giáo bằng cách tham gia vào những
hoạt động trần tục phi tôn giáo như xã hội, đạo đức, giáo dục, y tế… nhằm góp phần cứu nhân độ thế.
vẫn còn tồn tại ở không ít nơi, một số cơ sở thờ tự trở thành “lãnh địa” riêng của vị trụ trì và ít chịu sự quản lý,
giám sát của Giáo hội nên nảy sinh không ít tiêu cực…
Đưa ra biện pháp quản lý
b) dân tộc hóa
Biểu hiện của xu thế này là hướng trở về với tôn giáo truyền thống, phổ biến ở các nước đang phát triển, lan
rộng sang cả châu Âu. Các tôn giáo dân tộc không có tính phổ quát nhưng lại gắn chặt và bền vững với từng
dân tộc.
- Hiện nay có hiện tượng các tôn giáo được truyền bá một cách nhanh chóng sang các quốc gia khác với nhiều
cách thức khác nhau vì vậy tôn giáo dân tộc hay tôn giáo truyền thống được coi là một thứ vũ khí để bảo vệ
bản săc của dân tộc trước sự uy hiếp của các tôn giáo thế giới, thường được các thế lực chính trị sử dụng như
một phương tiện để đồng hóa văn hóa, đồng thời là chỗ dựa để để các tôn giáo ngoại sinh được dân tộc
hóa.
Tác động: Phải giữ giữ gìn bản sắc dân tộc ,hạn chế tình trạng cải giáo .Các tôn giáo khi du nhập vào Việt nam
đều phải có những thay đổi nhất định để phù hợp với sự phát triển của đất nước.Ở VN: tín ngưỡng thờ cúng, tổ
tiên luôn luôn được tôn vinh và được tôn vinh là tôn giáo bản địa
c) đa dạng hóa
Từ xu thế toàn cầu hóa dẫn đến xu thế đa dạng hóa trong tôn giáo. Điều này phản ánh được nguyên tắc của
thời đại: thống nhất trong đa dạng.
- Ngày nay, dân trí được nâng cao, không gian xã hội của cá nhân đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, của khu
vực. Con người không chỉ tiếp cận với các tôn giáo truyền thống mà còn với các tôn giáo khác. Sự tiếp cận ấy
không hề thụ động mà còn có sự phê phán, tiếp thu. Từ đó dẫn đến sự phân hóa tín đồ các tôn giáo thành 3
loại: khô đạo, nhạt đạo, đậm đạo và nảy sinh hiện tượng song hành tôn giáo trong một con người. Nghĩa là một
cá nhân cùng một lúc theo nhiều tôn giáo khác nhau, ngay cả ở những nước vốn có truyền thống độc thần.
Trong điều kiện đó từng tôn giáo cũng có sự phân rẽ thành các giáo phái, thậm chí có giáo lý xa lạ với giáo lý
ban đầu. Nội bộ các tôn giáo bị phân rẽ thành 3 bộ phận: bộ phận toàn thống, bộ phận bảo thủ cực đoan, bộ
phận ôn hòa.
Tác động : + Đối với Việt Nam, do đặc điểm về mặt địa lý, tính đa thần phổ biến. Thực tế cho thấy, trong đời
người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống
những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của
Tổ quốc, dân tộc và nhân dân
Tóm lại: Bốn xu thế trình bày ở trên trong thực tế đan quyện vào nhau, xu thế nọ là hệ quả của xu thế kia, ta chỉ
có thể phân tích rành rẽ trong từng trường hợp ở từng thời điểm, từng nơi cụ thể. Nhưng trong các xu thế ấy thì
hiện nay xu thế thế tục hoá là nổi trội hơn cả và biểu hiện của nó rất phong phú và rất đa dạng.
e) các xu thế khác
+Trong một tôn giáo hoặc kết hợp giữa các tôn giáo để phân ly hoặc hình thành các tôn giáo mới.
+Phát huy ảnh hưởng của tôn giáo trong quá trình giải quyết các vấn đề toàn cầu trong quá trình toàn cầu hóa.
+Các tôn giáo đưa ra các học thuyết chính trị - xã hội và sự xuất hiện các đảng phái chính trị được thành lập
dưới ngọn cờ tôn giáo
Câu 4: Tại sao nói “ Việt Nam là 1 quốc gia đa tôn giáo” ? Đặc điểm ấy đòi hỏi những yêu
cầu gì trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta?
a) Nguyên nhân (tham khảo )
1.Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu
với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế
giới.
2.Ở Việt Nam, do đặc điểm lịch sử liên tục bị xâm lược từ bên ngoài nên việc Lão giáo,
Nho giáo - những tôn giáo có nguồn gốc ở phía Bắc thâm nhập; Công giáo - một tôn giáo
gắn với văn minh Châu Âu vào truyền đạo và sau này đạo Tin lành đã khai thác điều kiện
chiến tranh ở miền Nam để truyền giáo thu hút người theo đạo là điều dễ hiểu.
3.Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn
giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin lành; có tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như
Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo
hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có những tôngiáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có những tôn
giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
4.Việt Nam có lịch sử lâu đời và nền văn minh hình thành sớm, lại kề bên hai nền văn
minh lớn của loài người là Trung Hoa và ấn Độ, nên tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng
sâu đậm từ hai nền văn minh này.
300 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo và gần 400 nghìn người theo đạo Tin lành.
+ Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc một số theo Công giáo, Tin lành. Hiện nay ở Tây
Bắc có 38 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo; đặc biệt, khoảng 20 năm trở lại
đây có đến trên 100 nghìn người Mông theo đạo Tin lành dưới tên gọi Vàng Chứ và hơn
10 nghìn Dao theo đạo Tin lành dưới tên gọi Thìn Hùng.
*Yêu cầu trong công tác quản lý:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước
-nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các tôn giáo.
- Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, làm
cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc
- Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có ác dân tộc và đồng
bào có đạo, thông qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những
người không tín ngưỡng, tôn giáo; giữa những người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo cơ
sở để đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan;
+chủ động đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động, lợi dụng chiêu bài tự do
tín ngưỡng, tôn giáo, nhân quyền... để chống phá Nhà nước Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực
hiện âm mưu diễn biến hòa bình, gây mất ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Đối với số đối tượng lợi dụng
tôn giáo ngoan cố chống đối, làm tay sai cho địch cần điều tra làm rõ, xử lý nghiêm minh.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo đảm chế độ, chính sách đối
với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- đối với mỗi tín ngưỡng và tôn giáo cầnn có một chính sách cụ thể để điều chỉnh
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế cũng nh ư phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Câu 5: Phân tích đặc điểm của hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay?
-Một là, Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau đang tồn tại.(pt như câu trên )
Câu 6: Phân tích đặc điểm của Phật Giáo ở nước ta hiện nay. Từ đặc điểm đó hãy nêu yêu
cầu trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật Giáo ở nước ta.
1.Đặc điểm của Đạo Phật:
1.Đạo Phật là đạo giải thoát, đạo giác ngộ chứ không phải là đạo cầu xin ban phước
2.Về thế giới quan: Không quan niệm về thượng đế, thần linh; không đề cập vị thần sáng
tạo thế giới và con người.
3. Về nhân sinh quan: Phật giáo đề cao vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực;
giáo lý của Phật không là tối thiêng liêng chỉ là phương tiện giúp con người giải thoát
khổ đau
4. Phật giáo ở Việt Nam có cả 2 hệ phái: Phật giáo Nam tông (Tiểu thừa, Nguyên thuỷ) và
Phật giáo Bắc tông (Đại thừa, Phát triển). Hệ phái Tiểu thừa được truyền từ Ấn Độ qua
Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia rồi vào Việt Nam. Phái này chủ trương giữ nghiêm giới luật từ
thời Đức Phật tại thế .Hệ phái Đại thừa từ Ấn Độ truyền sang Trung Quốc rồi vào Việt Nam và Triều Tiên, Nhật
Bản ... nên được gọi là “Bắc truyền” hay “Bắc tông”. Hệ phái Phật giáo Phát triển chủ trương linh động trong
thực hiện giới luật, không câu nệ vào câu chữ trong kinh mà lựa chọn sự phù hợp, hữu ích, có hiệu quả cho tu
hành và đời sống xã hội.
5Dung hợp các tín ngưỡng truyền thống: Phật giáo Việt Nam dung hợp các tín ngưỡng
truyền thống của người Việt Nam: thờ cúng Tổ tiên, thờ Thần, thờ Mẫu nhưng Phật giáo
vẫn giữ vai trò chủ đạo để làm nên Đạo Phật Việt Nam
6.Gắn bó với dân tộc: Phật giáo du nhập vào Việt Nam trở thành một tôn giáo gắn bó
giữa đạo với đời, thể hiện tinh thần nhập thế. Phật giáo Việt Nam có truyền thống yêu
nước, gắn bó với dân tộc, đồng hành trong những giai đoạn thăng trầm của đất nước, góp
phần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Trong Phật giáo Việt Nam đã ghi
nhận hai trường hợp đặc biệt: Lý Công Uẩn – một vị sư xả pháp, xuất tu để ra đời làm
bậc quân vương khai mở triều đại nhà Lý, và Trần Nhân Tông – một vị hoàng đế từ bỏ
ngai vàng để vào núi ẩn tu trở thành một vị Tổ sư của Phật giáo đời Trần. Trong thời kỳ
hội nhập, Phật giáo luôn chia sẻ những khó khăn, hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh
khốn khó, gặp thiên tai, địch họa để chung tay cùng đất nước góp phần ổn định xã hội,
- tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo được Nhà nước
thừa nhận được hoạt động theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động
tôn giáo và đảm bảo quyền và nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo.
- tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo phát huy vai trò tích cực của mình trong đời sống xã hội, trong quá trình
xây dựng
- hoàn thiện hệ thống pháp luật, pháp luật về tôn giáo
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước đối với hệ thống chức sắc của Đạo phật
- Đẩy mạnh giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, làm cho các tôn
giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Tăng cường sự đồng thuận giữa những nhà tu hành và những người không tín ngưỡng,
tôn giáo; giữa những tín đồ của Đạo phật với những người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo
cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích
của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.
- Đối với đội ngũ chức sắc tham gia vào công việc Nhà nước không chỉ là những người am hiểu về giáo lý, giáo
luật của Đạo phật mà cần phải hiểu biết và các chủ trương, chính sách và pháp luật; đặc biệt cần quan tâm đến
việc đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức chung cũng như kiến thức chuyên môn về quản lý Nhà nước đối với
đội ngũ này
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo đảm chế độ, chính sách đối
với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
-Cần quan tâm và sâu sát hơn đối với các hoạt động từ thiện, quyên góp của các nhà tu hành để tránh tình trạng
bị lợi dụng và xuất hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Câu 7: Phân tích đặc điểm cơ bản của Đạo Công Giáo ở nước ta. Đặc điểm ấy đòi hỏi yêu
cầu gì trong công tác quản lý nhà nước đối với Đạo Công Giáo?
Đặc điểm của công giáo:
- Công giáo có bốn đặc tính này là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền:
+Duy nhất: có nghĩa là Chúa Kitô chỉ thiết lập một Hội Thánh, các tín hữu đều tuyên xưng một đức tin, cùng
tín đồ, chức sắc, nhà tu hành.
-
-
Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, đấu tranh làm thất bại những luận điệu tuyên truyền,
xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá hoại đại đoàn kết dân tộc,
đoàn lết toàn dân.
Hướng dẫn các tổ chức tôn giáo, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành thực hiện quan hệ đối ngoại phù
hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Câu 8: Phân tích những đặc điểm cơ bản của đạo Tin Lành ở nước ta. Đặc điểm ấy đòi hỏi
yêu cầu gì trong công tác quản lý nhà nước đối với đạo Tin Lành?
Đặc điểm cơ bản của đạo Tin Lành
- Đạo Tin lành là tôn giáo tách ra từ đạo Công giáo ở thế kỷ XVI cùng với sự xuất hiện của giai cấp tư sản và
chủ nghĩa tư bản. Nội dung cải cách chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng dân chủ tư sản, ý chí tự do cá nhân. Trong
sinh hoạt tôn giáo, đạo Tin lành đề cao vai trò cá nhân. Trong sinh hoạt về tổ chức, đạo Tin lành đề cao tinh
thần dân chủ. Các luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo, cơ cấu tổ chức của đạo Tin lành đơn giản, nhẹ nhàng
không rườm rà, gò bó như đạo Công giáo.
-Những nội dung cải cách đã làm cho đạo Tin lành trở thành một tôn giáo có mầu sắc mới mẻ, thích hợp với
giai cấp tư sản, tiểu tư sản, công chức, trí thức... thị dân nói chung trong xã hội công nghiệp. Đặc biệt với lối
sống đạo nhẹ nhàng, đề cao đức tin và vai trò cá nhân, đạo Tin lành duy trì tín ngưỡng trong mọi hoàn cảnh
chính trị, xã hội, kể cả những khi bị o ép, cấm cách.
- Đạo Tin lành còn là một tôn giáo có đường hướng và phương thức hoạt động rất năng động, luôn đổi mới từ
nội dung đến hình thức để thích nghi với hoàn cảnh xã hội. Đặc biệt, đạo Tin lành tham gia tích cực vào các
hoạt động xã hội, nhất là lĩnh vực từ thiện nhân đạo, lấy đó làm phương tiện mở rộng ảnh hưởng. Điều này tạo
ra uy tín và khả năng tiếp cận, chung sống với nhiều chế độ chính trị khác nhau.
- Ngoài tầng lớp thị dân, đối tượng truyền đạo quan trọng thứ hai của đạo Tin lành là đồng bào các dân tộc
động truyền đạo trái pháp luật.
- Cần quan tâm giúp đỡ giải quyết nhu cầu về xây dựng cơ sở thờ tự, phong chức sắc, bồi dưỡng giáo lý của các
hệ phái Tin lành đã được công nhận.
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và bảo đảm chế độ, chính sách đối
với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các cấp. Cán bộ làm công
tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải được bồi dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán,
tiếng nói của dân tộc nơi mình công tác.
-Tổ chức tuyên truyền vận động đồng bào giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá, tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp
của các dân tộc, loại bỏ phong tục tập quán lạc hậu, đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, từng bước
nâng cao đời sống, dân trí cho đồng bào, nhằm giải quyết căn bản nguyên nhân sự phát triển không bình thường
của đạo Tin lành.
- Khảo sát thực trạng tình hình đạo Tin lành ở những địa bàn có đông đồng bào theo đạo. Xác định số thôn, bản,
số người theo đạo Tin lành; mức độ ảnh hưởng, tính ổn định của điểm nhóm, số người đứng đầu điểm nhóm,
những người truyền đạo,...
- Hướng dẫn đồng bào theo đạo Tin lành tại các thôn, bản, nơi có sinh hoạt tôn giáo ổn định, đăng ký sinh hoạt
tôn giáo tại điểm nhóm với chính quyền cơ sở. Nội dung đăng ký gồm: Tên điểm nhóm, địa điểm, phạm vi sinh
hoạt tôn giáo, nội dung sinh hoạt tôn giáo, lịch sinh hoạt tôn giáo theo tuần, tháng, năm; người đứng đầu điểm
nhóm; người hướng dẫn việc đạo; số lượng người tham gia sinh hoạt tôn giáo tại thời điểm đăng ký; dự kiến tổ
chức Tin lành, hệ phái Tin lành xin gia nhập; cam kết sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật và nội dung đăng ký (có
mẫu đăng ký kèm theo).
- Đối với người đứng đầu các điểm nhóm theo đạo Tin lành, giải quyết như sau: số có thái độ tuân thủ chính
quyền và pháp luật, đủ tư cách công dân, trước hết giúp đỡ để trở thành Trưởng nhóm. Về lâu dài, tạo điều kiện
để được đào tạo thành chức sắc tại tổ chức Tin lành hợp pháp. Số có thái độ chống đối, cần đấu tranh và xử lý
nghiêm theo pháp luật, thông báo công khai cho đồng bào biết rõ về những hoạt động vi phạm pháp luật của họ.
Câu 9: Trình bày đối tượng quản lý nhà nước về tôn giáo. Phân tích nội dung quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo.
Đối tượng quản lý nhà nước về tôn giáo
5. Nơi thờ tự
- Nơi thờ tự hay nơi sinh hoạt tôn giáo như: chùa, nhà thờ, thánh đường. đình, đền…….
- Có sự thống nhất 4 mặt: vật chất, tôn nghiêm, trụ sở và sinh hoạt cộng đồng.
+ Mặt vật chất: là nơi thờ tự của các tôn giáo đc xây dựng bằng những vật liệu khác nhau và theo nhưng mô típ
kiến trúc khác nhau phù hợp với niềm tin của các tôn giáo.
+ Mặt tôn nghiêm: là nơi hiện hữu của thẩm quyền, nơi bái vọng, ngưỡng mộ và biểu hiện tình cảm, đức tin tôn
giáo, nơi diễn ra những lễ nghi tôn giáo quan trọng.
+ Mặt trụ sở: là nơi diễn ra các hoạt động hành đạo chính
+ Mặt sinh hoạt cộng đồng: nơi diễn ra các lễ hội tôn giáo, nơi sinh hoạt của các hội đoàn tôn giáo
Trong các mặt trên, tôn nghiêm là mặt chi phối.
6.Đồ dùng việc đạo
- Bao gồm: kinh, sách, tranh ảnh, cờ, trống , kèn, ……
- Mỗi đồ dùng có vai trò, vị trí khác nhau trong sinh hoạt theo lễ luật, lễ nghi của các tôn giáo.
- Có sự thống nhất và đồng nhất giữa mặt vật chất và mặt biểu đạt
+ Mặt vật chất: tất cả các đồ dùng việc đạo đều được làm bởi các chất liệu khác nhau và dưới dạng vật chất cụ
thể
+ Mặt biểu đạt, mỗi đồ vật dùng để biểu đạt 1 nội dung nào đó
Trong các đồ vật thì bài vị là quan trọng nhất.
7. Cơ sở vật chất khác của các tôn giáo
- Cơ sở vật chất khác: nhà chung, nhà chùa, ruộng, đất, trường học…
- Những cơ sở vật chất này có 2 mặt: là tài sản của các tổ chức tôn giáo, là nơi diễn ra các hoạt động của các tổ
chức tôn giáo, của tổ chức giáo hội cơ sở.
8. Sinh hoạt tôn giáo
- Có 2 đặc điểm chính:
+Về Chủ thể, có thể do các thể nhân tôn giáo thực hiện đơn lẻ như đọc kinh, cầu nguyện…
+ Về diễn biến, các sinh hoạt tôn giáo tuân theo lề luật là lễ nghi nhất định như lễ thường, lễ trọng, các phép bí
tích, các khóa hạ, giới đàn, bồ linh…
Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
-
7
-
Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định công nhận hoặc cho phép cá Giáo hội,các tổ chức tôn giáo
được hoạt động.
Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trong hệ thống hành chính NN từ trung ương đến địa
phương có trách nhiệm xem xét việc đăng ký của các pháp nhân tôn giáo trực thuộc các pháp nhân tôn
giáo độc lập đã được thủ tướng chính phủ cho phép hoạt động
Xét duyệt chương trình hành đạo thường xuyên và đột xuất
Cơ quản quản lý nhà nước chuyên ngành, cao nhất là Ban Tôn Giáo của chính phủ cùng với các địa
phương làm việc với các tôn giáo để xác định nội dung các hoạt động thông thường của sinh hoạt tôn
giáo.
Các cơ quan quản lý nhà nước, nhất là công chức cần nắm được nội dung, phương thức, phạm vi giữa
các loại hình sinh hoạt tôn giáo thông thường và các sinh hoạt biểu hiện xa lạ với tín ngưỡng, văn hóa.
Tạo điều kiện thuận lợi khi cần giải quyết các nhu cầu về sinh hoạt tôn giáo liên quan đến thủ tục hành
chính
Xét duyệt 1 số việc thuộc hành chính đạo
Việc phong chức sắc, trao chức sắc, bổ nhiệm chức sắc cho nhà tu hành thuộc hình thức hoạt động (về tổ
chức)của các giáo hội các tôn giáo
Việc thỏa thuận chấp nhận của NN là nội dung quản lý nhà nước, vừa đảm bảo sinh hoạt xã hội phát
triển bình thường vừa đảm bảo cơ sở pháp lý của những biến động tôn giáo trong điều kiện của NN dân
chủ, pháp quyền.
Những việc đăng ký con dấu, làm con dấu mới, tách nhập họ đạo, điều chuyển chức sắc trung, cao cấp,
hội đoàn tôn giáo…phải tuân thủ theo PL hiện hành.
Quản lý đào tạo chức sắc, nhà tu hành
Việc đào tạo trong các trường đặc biệt của tôn giáo là bảo đảm sự phát triển bình thường của các tôn
giáo, bảo đảm tính kế thừa các thế hệ, các nhà chức sắc.
Người đứng đầu các cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động. Giảng viên phải
thuận của Ban tôn giáo của chính phủ.
- Tổ chức, cá nhân tôn giáo muốn tham gia làm thành viên của tổ chức tôn giáo ở nước ngoài phải thực
hiện theo quy định của Ban tôn giáo chính phủ
9 Xử lý các khiếu tố, khiếu nại liên quan đến tôn giáo và các vi phạm chính sách tôn giáo
- Căn cứ luật khiếu nại, tố cáo ngày 2/12/1998 và các chính sách tôn giáo của Đảng và NN để giải quyết
và xử lý.
- 1 số luật : luật hình sự, dân sự, tố tụng hình sự…
10 Đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo
- Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, phối hợp chặt chẽ với nhau dưới sự
lãnh đạo của Đảng, chính quyền
- Các đoàn thể và mặt trận tổ quốc có trách nhiệm đi sâu vận động quần chúng tín đồ, chức sắc, cử người
tham gia dưới các hình thức thích hợp vào các tổ chức và sinh hoạt của giáo hội để hướng dẫn và quản
lý đạo tín đồ
- Nhiệm vụ đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo:
+ Bài trừ mê tín, dị đoan và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi
+ Chống móc nối với tổ chức và người nước ngoài để hoạt động chính trị phản động
+ Đấu tranh kiên quyết chống mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị phản động
nhằm chống đối lại nhà nước
-
Câu 10: Trình bày quan điểm của Đảng đối với hoạt động tôn giáo. Công tác quản lý nhà
nước về tôn giáo ở nước ta hiện nay còn có những yếu kém gì. Đề xuất 1 số giải pháp để
giải quyết những yêu cầu đó.
Quan điểm của Đảng đối với hoạt động tôn giáo:
-Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc
trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do
tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật.
Ở đây, sự tôn trọng đó được hiểu không phải là bị động đối phó, càng không phải sự bố thí ban ơn cho quần
chúng có đạo, mà là quá trình chủ động chăm lo cho lợi ích thiết thân cho bộ phận quần chúng đặc thù
này.Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần khẳng định, chúng ta không chống tôn giáo mà chỉ chống những ai lợi
-
Về tổ chức bộ máy, việc sáp nhập cơ quan tôn giáo vào cơ quan nội vụ - dù đã qua một thời gian, vẫn
khiến nhiều người hiểu rằng, sự quan tâm đầu tư của Nhà nước đối với lĩnh vực này đang giảm dần. Rõ
ràng, từ một cơ quan tương đương một sở thành cơ quan tương đương một phòng trực thuộc sở, những
suy nghĩ như thế cũng là dễ hiểu.
Hệ thống quản lý nhà nước về tôn giáo đã trải rộng từ trung ương đến địa phương, nhưng cả nước
chưa có trường hoặc khoa đào tạo cán bộ làm công tác tôn giáo. Những cán bộ lãnh đạo cơ quan tôn
giáo từ cấp tỉnh đến cấp huyện chưa được đào tạo bài bản, nếu có cũng chỉ là đào tạo cao cấp, cử nhân
chính trị hoặc các chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học - xã hội. Trong khi đó, những người đứng đầu
các cơ sở tôn giáo thường được trang bị rất kỹ về lý luận cơ bản. Không chỉ hiểu biết nhiều lĩnh vực,
nhất là tâm lý con người, họ còn tạo được sự thu hút từ ngoại hình, giọng nói .Vì thế đã phổ biến tình
trạng người làm công tác tôn giáo nhưng lại ngại tiếp xúc với những người đứng đầu cơ sở tôn giáo. Có
nơi, vì khó quản lý nên kìm hãm nhu cầu hoạt động tôn giáo chính đáng của người dân hoặc ngược lại là
làm ngơ khi có những biểu hiện hoạt động tôn giáo không đúng quy định của pháp luật. Trong khi các
thế lực phản động, những kẻ cơ hội chính trị thì chỉ rình chờ những cái cớ rất nhỏ trong lĩnh vực tôn
giáo để thực hiện ý đồ chính trị là chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, mỗi tôn giáo ngay từ khi ra đời đã chứa đựng mục đích tốt
đẹp là mang lại sự công bằng, bác ái, hướng thiện cho con người, là nơi để con người gửi gắm niềm tin
mang tính thiêng. Tôn giáo vừa giúp con người điều chỉnh hành vi, vừa có khả năng gắn kết cộng đồng
và chuyển giao văn hóa. Tuy nhiên, những chức năng tốt đẹp ấy của tôn giáo đã và đang bị những kẻ cơ
hội lợi dụng, biến thành những hoạt động gây khó khăn, bất ổn cho chính quyền các cấp. Bởi thế, hơn
lúc nào hết, sự thận trọng, kỹ càng trong xử lý các vụ việc có yếu tố tôn giáo cần được chính quyền các
cấp đặc biệt quan tâm, lưu ý
Thực tế hiện nay việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước trong hệ thống chính trị nhất
là đối với cơ sở chưa thật đồng bộ, nhiều nơi, nhiều chổ còn nhận thức khác nhau, làm hạn chế đến hiệu
quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, ảnh hưởng đến chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, nổi lên như:
Thiếu gần gủi với tín đồ và chức sắc, nên không kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng chính đáng của
đồng bào;
tác tôn giáo cho cấp ủy Đảng, chính quyền ở cơ sở. Nhằm tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện của
cấp ủy Đảng đối với công tác tôn giáo ở cơ sở, đề nghị Đảng ủy xã, phường, thị trấn sớm thành lập Ban
chỉ đạo công tác tôn giáo; xây dựng quy chế làm việc và duy trì thường xuyên sự hoạt động của Ban chỉ
đạo đối với công tác tôn giáo ở cơ sở.
2- Thường xuyên quan tâm tập huấn kỷ năng, nghiệp vụ công tác tôn giáo cho cán bộ, công chức cơ sở,
xây dựng lực lượng làm công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị ở cơ sở, có đủ sự hiểu biết, đủ phẩm
chất và năng lực, có trách nhiệm và nhiệt tình với công tác tôn giáo. Gắn trách nhiệm về trật tự, an toàn
trong hoạt động tôn giáo ở địa phuơng với sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở. Tạo điều
kiện để lãnh đạo ở cơ sở thực hiện được vai trò trong quản lý nhà nước tôn giáo ở địa phương nghiêm
túc, đúng pháp luật và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
3- Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra thường xuyên đối với công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
ở cơ sở, phát hiện và xử lý kịp thời, dứt điểm những vấn đề liên quan đến hoạt động tôn giáo ở cơ sở;
hạn chế thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động tôn giáo và lợi dụng tôn giáo, tránh những phát sinh
của những vụ việc thuần túy hoạt động tôn giáo do giải quyết thiếu phương pháp, không dứt điển dẫn tới
hậu quả không đáng có…
4. Tăng cường công tác nắm tình hình, làm tốt công tác vận động tranh thủ chức sắc tôn giáo; biết dựa
vào tổ chức tôn giáo và chức sắc lãnh đạo tôn giáo cơ sở để giải quyết vấn đề liên quan đến tôn giáo
“dùng đạo, để giải quyết việc của đạo”.
5- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật trong hoạt động tôn giáo và bảo đảm dân
chủ ở cơ sở để mọi tín đồ, chức sắc tôn giáo nhận thức đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân đối với
đất nước, mọi sinh hoạt của tôn giáo diễn ra ra ổn định, bình thường trong khuông khổ quy định của
pháp luật, góp phần ngày tăng cường tốt hơn khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ đất nước trước tình hình mới./.
Câu 11: Trình bày khái niệm tôn giáo. Phân tích 1 số đặc điểm cơ bản của tín đồ tôn giáo
ở nước ta. Cho ví dụ minh họa.
-
-
Các tôn giáo ở Việt Nam được hoạt động tự do trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật NN
Việt Nam.
1 tôn giáo ở VN muốn hoạt động hợp pháp phải đáp ứng các tiêu chí sau:
Có tín đồ tự nguyện theo
Có giáo sĩ hướng dẫn việc đạo
Có tôn chỉ mục đích hoạt động không trái pháp luật
Có hệ thống giáo lý, giáo luật phù hợp
Có nơi thờ tự đảm bảo vệ sinh, an toàn
Không hoạt động mê tín, dị đoan làm tổn hại đến tinh thần, vật chất, sức khỏe của tín đồ
và làm ảnh hưởng đến những quyền cơ bản của ng khác
Đăng ký với cơ quan NN có thẩm quyền
Những tổ chức tôn giáo không đáp ứng đủ những yêu cầu trên đều không được hoạt động.
•
•
•
•
Mọi công dân VN đều bình đẳng trước PL.Nhà nước VN xử lý bằng PL đối với bất kì 1 công dân
VN nào vi phạm PL, bất kể công dân đó theo tôn giáo hay không và xử lý bằng PL mọi hành vi
lợi dụng tôn giáo, mạo danh tôn giáo để gây rối trật tự xã hội, phương hại đến an ninh quốc gia,
tổn hại tinh thần, vật chất, văn hóa, sức khỏe của công dân.
Các tôn giáo đc NN khuyến khích tham gia hoạt động giáo dục, từ thiện, nhân đạo theo sự hướng
dẫn của cơ quan chuyên môn.
Các tôn giáo đc mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, đc cử người đi đào tạo ở nước ngoài.
Tổ chức, cá nhân tôn giáo được tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu quốc tế theo quy định của
pháp luật.
-
Quan điểm trên được xây dựng dựa trên sự nhận thức của Đảng ta về quần chúng và tôn giáo.
Thứ nhất ta phải nói đến sự nhận thức đúng đắn của Đảng về tôn giáo và chức năng của tôn giáo
đối với con người, xã hội! Chủ nghĩa Mac – Lênin đã chỉ ra rằng: Chức năng cơ bản của tôn giáo là cân
bằng, xoa dịu nỗi khổ của trần gian, là hương thơm cho trần gian lộn ngược. Thế giới cực lạc mà tôn
giáo chỉ ra tuy chỉ là hư ảo, ảo tưởng song trong con người không vẹn toàn, xã hội không vẹn toàn, trong
cái không vẹn toàn đó có lúc, có nơi một bộ phận cần tôn giáo! Về mặt đạo đức: Không một tôn giáo
chân chính nào lại xúi bẩy con người ta làm điều xấu, điều ác.Thậm chi trong một chừng mực nào đó nó
còn ngăn chặn con người làm điều ác, mặc dù nó hướng về thế giới bên kia! Hạn chế của tôn giáo đối
với đạo đức là sự vâng lời không cần chứng minh, vâng lời bất chấp. Điều đó làm cho tín đồ mê muội và
mất tính năng động. Không chỉ vậy tôn giáo còn tác động rất lớn tới văn hóa và khoa học.Tất nhiên sự
tác động này cũng có tính hai mặt: Hoặc tích cực hoặc tiêu cực!
Thứ hai là sự nhận thức của Đảng ta về quần chúng: Quần chúng là lực lượng đông đảo, là nền tảng
cho một nước, là gốc rễ của một dân tộc, là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Theo
chủ nghĩa Mac – Lênin: Quần chúng nhân dân là người sang tạo ra lịch sử, là chủ thể của lịch sử. Quần
-
-
chúng nhân dân là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và của cải tinh thần phục vụ lợi ích cá
nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Họ còn là chủ thể của hoạt động cải tạo các quá trình kinh tế,
chính trị, xã hội. Lợi ích của quần chúng nhân dân vừa là điểm khởi đầu vừa là mụch đích cuối cùng của
các hoạt động cách mạng. Như vậy ta phải thừa nhận rằng chính quần chúng là người sáng tạo ra tôn
giáo để phục vụ cho nhu cầu tinh thần của mình.Lực lượng chính của tôn giáo không phải là giáo hội
hay đội ngũ giáo sĩ mà là quần chúng tín đồ.Quần chúng tín đồ còn thì tôn giáo còn. Tín đồ chính là chỗ
dựa để tôn giáo tồn tại, và tín đồ cũng chính là đối tượng phát triển của giáo hội.