1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng nảy sinh và tồn tại đã từ lâu trong lịch
sử xã hội loài người và trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của đời
sống xã hội. Ra đời cách đây 2000 năm, đạo Công giáo là một trong những
tôn giáo lớn trên thế giới. Đạo Công giáo truyền bá vào Việt Nam từ thế kỷ
XVI - XVII. Thanh Hóa là một trong những nơi đạo Công giáo truyền bá
vào rất sớm, ở đây có Giáo phận riêng. Bên cạnh một số yếu tố tích cực
nhất định, đạo Công giáo để lại nhiều dấu ấn không mấy đẹp đẽ trong cuộc
đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Ngay từ rất sớm, Đảng ta đã nhận thức rõ ràng và sâu sắc vấn đề
tôn giáo ở Việt Nam, xem đó là vấn đề hết sức nhạy cảm. Chính sách nhất
quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; thực hiện đoàn kết giữa những người có
tôn giáo và không có tôn giáo, giữa các tôn giáo khác nhau vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trong những
quan điểm của mình về công tác tôn giáo, Đảng ta nhấn mạnh và đề cao
quan điểm: nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động
quần chúng, trong đó có thanh niên vùng Công giáo.
Nhờ thực hiện nhất quán quan điểm đó, tín đồ (trong đó có thanh
niên Công giáo) ngày càng yên tâm, tin tưởng, tích cực thực hiện chính
sách của Đảng và Nhà nước, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước,
củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện sống "tốt đời, đẹp đạo".
Những năm gần đây, tình hình quốc tế và khu vực có những biến
động phức tạp, tác động mạnh mẽ đến tình hình nước ta. Một trong những
biểu hiện đó là: các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo nhằm phá
3
Lênin - Hồ Chí Minh, thực hiện năm 1995; "Công tác đoàn kết tập hợp
thanh niên tín đồ tôn giáo trong thời kỳ mới", báo cáo khoa học của Trung
ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi
trường, thực hiện năm 1999; "Phát triển Đảng trong các vùng đồng bào
theo đạo Thiên Chúa" của tiến sĩ Ngô Hữu Thảo, Tạp chí Xây dựng Đảng
số 4 năm 1999; "Công tác vận động quần chúng theo đạo Thiên Chúa ở
miền Bắc nước ta hiện nay (dưới góc độ tâm lý xã hội)", Luận văn thạc sĩ
khoa học lịch sử của Hoàng Mạnh Đoàn; "Tìm hiểu mặt chính trị của vấn
đề Thiên Chúa giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ
khoa học chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Văn Luyện; "Vận dụng
quan điểm khoa học về tôn giáo trong công tác đối với Thiên Chúa giáo
hiện nay ở Việt Nam", Luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Long...
Trong các bài viết, công trình nghiên cứu đã nêu, các tác giả đã luận
giải, phân tích những nội dung quan trọng về tôn giáo nói chung, đạo Công
giáo nói riêng và công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng
tín đồ trong vùng đồng bào theo đạo Công giáo ở phạm vi toàn quốc hay ở
một số địa phương miền Bắc nước ta. Riêng vấn đề thanh niên Công giáo
và công tác vận động thanh niên vùng Công giáo chưa được đề cập cụ thể.
Chưa có một công trình nào nghiên cứu về công tác vận động thanh niên
vùng Công giáo tập trung của tổ chức cơ sở Đoàn ở Thanh Hóa hiện nay.
Luận văn này là một nỗ lực trong việc nghiên cứu mảng vấn đề đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích: trên cơ sở làm rõ thực trạng hoạt động của tổ chức
cơ sở Đoàn trong công tác vận động thanh niên vùng Công giáo tập trung ở
Thanh Hóa và những vấn đề đặt ra hiện nay, luận văn góp phần làm rõ nội
dung và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở
5
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn vận dụng triệt để những
quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt chú ý phương pháp kết hợp lịch sử và lôgíc,
đối chiếu so sánh qua thực tế điều tra, khảo sát địa bàn vùng Công giáo tập
trung ở Thanh Hóa.
5. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chức cơ sở
Đoàn trong công tác vận động thanh niên vùng Công giáo tập trung ở
Thanh Hóa. Trên cơ sở đó, đề xuất một số nội dung, giải pháp để nâng cao
hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Đoàn trong việc nâng cao chất lượng
công tác vận động thanh niên vùng Công giáo tập trung ở Thanh Hóa.
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Luận văn góp phần giúp cho các tổ chức cơ sở Đoàn ở vùng Công
giáo làm tốt công tác vận động thanh niên Công giáo tham gia sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc
giảng dạy chuyên đề về công tác vận động quần chúng ở các trường Chính
trị tỉnh, huyện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
6
7
năng xây dựng và phát triển tương đối toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế,
văn hóa, xã hội...
Thanh Hóa là một tỉnh dân số đông, (tính đến tháng 1 năm 2000 là
3 triệu 562 nghìn 357 người), đứng thứ hai so với các tỉnh, thành phố trong
cả nước.
Toàn tỉnh Thanh Hóa có 27 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
trong đó có 11 huyện miền núi, 5 huyện miền biển, 8 huyện đồng bằng,
1 thành phố và 2 thị xã; có 630 đơn vị xã, phường, thị trấn; có 48 xã ven
biển, 195 xã, thị trấn miền núi (có 88 xã vùng cao, 13 xã có chung đường
biên giới với nước bạn Lào) [16, tr. 6-7].
Thanh Hóa là một trong những cái nôi của nền văn hóa dân tộc với:
Văn hóa Núi Đọ (Sơ kỳ thời đại đá cũ); Văn hóa Sơn Vi (Hậu kỳ thời đại
đá cũ); Văn hóa Hòa Bình; Văn hóa Bắc Sơn; Văn hóa Đa Bút (thời đại Đá
mới); Văn hóa Hoa Lộc (thời Đồng Đá); Văn hóa Đông Sơn và Bộ Cửu
Chân thời Hùng Vương. Nhân dân Thanh Hóa cũng đã đóng góp nhiều sức
người, sức của vào quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tên tuổi
của Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy
Tân... luôn là niềm tự hào của nhân dân Thanh Hóa, của dân tộc Việt Nam.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân
Thanh Hóa cũng đã đóng góp những công sức không nhỏ, góp phần cùng
nhân dân cả nước đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Tính từ tháng 8
năm 1945 đến tháng 10-1995, Thanh Hóa có 391.657 người đi bộ đội,
41.863 người đi Thanh niên xung phong. Toàn tỉnh có 56.559 liệt sĩ,
32.146 thương binh, 25 đơn vị và 71 cá nhân được tuyên dương anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, có 1.125 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 đơn vị
và 16 cá nhân được tuyên dương anh hùng lao động [16, tr.102]. Trong dịp
vào thăm Thanh Hóa lần thứ hai (ngày 13-6-1957) Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khen ngợi: "Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến
11
Nưa (6 châu thuộc Lào) với diện tích khoảng 20.000 km 2, tổng dân số
1.400.000 người Việt, 80.000 người Lào. Đức cha De Cooman Hành làm
đại diện Tông tòa đầu tiên, cai quản Giáo phận mới. Tòa giám mục tại thị
xã Thanh Hóa với hàng giáo sĩ 36 thừa sai Pháp, cha Poncet Thảo được đặt
làm cha chính Giáo phận. Thừa sai Augustin Canilhac Căn giữ chức bề trên
miền Châu Lào. Thừa sai Alfred Barbier Cẩn thư ký Tòa giám mục. Thừa
sai Joseph Réminiac Nhạc quản lý Giáo phận. Trường Ba làng từ 1927 trở
thành Tiểu chủng viện thánh Giuse dưới quyền cha Giám đốc Lury Lưu và
các cha giáo sư Pon Cet Thảo, Phạm Tần, Nguyễn Định Tường. Đại chủng
sinh gửi ở Hà Nội. Ngoài hai dòng nữ tu đã có từ năm 1926 và 1929, ngày 2311-1935, dòng Mến thánh giá Thanh Hóa được thành lập trên cơ sở tách từ
Phát Diệm. Lớp khấn dòng đầu tiên được cử hành ngày 2-2-1938. Ngày
nay, Giáo phận Thanh Hóa chỉ còn riêng ở địa bàn tỉnh Thanh Hóa [18, tr.
129-131].
Giáo phận Thanh Hóa từ khi được thành lập, tổ chức Giáo hội hoạt
động hết sức sôi động để lại nhiều dấu ấn sâu sắc.
Năm 1939, chỉ mấy năm sau khi thành lập, Địa phận Thanh Hóa đã
có: Hàng giáo sĩ gồm 33 thừa sai Pháp, 53 linh mục triều, 22 đại chủng sinh
(học ở Hà Nội), 183 tiểu chủng sinh và trường thử. Hàng tu sĩ có 9 cha
dòng Phan Sinh điều khiển 150 đệ tử sinh; 11 (trong đó có 7 người Pháp) đan
sĩ Cát Minh với 3 tập sinh; 17 nữ tu Đức Bà truyền giáo (trong đó có 12 người
Pháp); 5 tập sinh điều hành một trường học có lưu xá; 48 nữ tu Mến thánh
giá;
14 tập sinh, sinh hoạt trong 7 tu viện. Số giáo dân là 58.628 người và 7.442
dự tòng trên tổng dân số là 1.500.000 người (chiếm 4,3%), chia làm 5 hạt,
16 giáo xứ, 494 họ đạo, 227 nhà thờ và nhà nguyện, 5 đất thánh [18, tr. 139].
nhà thờ. Năm 1954, Lê Thành Thục tiếp tục tuyên truyền thúc ép giáo dân
13
di cư vào Nam, chống phá quyết liệt phong trào xây dựng hợp tác hóa bằng
cách đe dọa giáo dân: nếu không ra khỏi hợp tác xã sẽ bị "rút phép thông
công".
Ở Tĩnh Gia, bọn phản động đã tập trung bọn côn đồ âm mưu gây
bạo loạn, cưỡng ép 2.000 giáo dân từ Thượng Chiểu về Ba Làng chống lại
chính quyền. Ở các huyện Quảng Xương, Nông Cống, Thọ Xuân, Vĩnh
Lộc, Thành phố Thanh Hóa... bọn phản động đã len lỏi vào nhà thờ, vào
khu vực tập trung dân cư theo đạo Công giáo để tuyên truyền, kích động và
tổ chức di cư... Đêm ngày 1, rạng sáng ngày 2-1-1955, lợi dụng chính
quyền đuổi bắt 11 tên phản động dùng thuyền đánh cá liên lạc với tàu Pháp,
bọn phản động kích động hơn 1.000 giáo dân vào đâm chém và bắt đi 6 cán
bộ, làm bị thương 40 người khác. Chính quyền đã sử dụng lực lượng trấn
áp bọn phản động trong nhà thờ Ba Làng. 400 tên côn đồ, trong đó có
những kẻ cầm đầu phải đầu hàng. Trước âm mưu của bọn phản động, mặc
dù các cấp ủy Đảng và Chính quyền đã tích cực tuyên truyền giải thích cho
đồng bào giáo dân thấy được âm mưu của địch, vận động hơn 4.000 giáo
dân tập trung tại Phát Diệm để dư cư vào Nam quay về quê hương làm ăn
sinh sống; song, theo làn sóng di cư, toàn tỉnh Thanh Hóa có khoảng
18.000 giáo dân cùng 62 linh mục, các đại chủng sinh và bốn dòng tu Phan
Sinh, Cát Minh, Đức Bà truyền giáo và Mến thánh giá di cư vào Nam [16,
tr. 89-90].
Từ khi thành lập 1932, địa phận Thanh Hóa chỉ là địa phận đại diện
Tông tòa. Từ 24-11-1960, với việc thiết lập hệ thống phẩm trật của Giáo
hội Việt Nam, địa phận Thanh Hóa trở thành Giáo phận chính tòa. Sự ảnh
hưởng của Giáo hội tới đồng bào giáo dân càng trở nên sâu sắc.
nước mà phải tập trung vào các hoạt động để phát triển thế lực của Giáo
hội, làm cho Giáo hội có đủ lực lượng để làm đối trọng với Nhà nước ta.
Như vậy, ý đồ của Vatican là củng cố thế và lực cho Giáo hội Công giáo
Việt Nam đủ mạnh để có thể sử dụng Giáo hội như một công cụ, phương
15
tiện chống phá ta lâu dài; dùng Giáo hội Công giáo Việt Nam để làm xói
mòn cơ sở quần chúng và các cơ sở của ta trong các vùng giáo, biến các địa
phận Công giáo thành lãnh địa riêng [32, tr. 61].
Cùng với Vatican, các thế lực phản động quốc tế đứng đầu là Mỹ
coi việc lợi dụng Giáo hội Công giáo nước ta như một công cụ để thực hiện
chiến lược "Diễn biến hòa bình" ở Việt Nam. Theo Giáo sư, tiến sĩ Chu
Nguyên Chương, Việt kiều ở Mỹ: "Giáo hoàng John Paul II sẵn sàng cho
Mỹ mượn đạo quân thứ 5 hiện đang nằm vùng ngay trong nước Việt Nam.
Đạo quân gồm 5 triệu người Kytô giáo có tổ chức chặt chẽ, hết sức cuồng
tín và sẵn sàng nhận lệnh của Vatican bất cứ lúc nào" [14, tr. 4].
Biểu hiện rõ nét ở Thanh Hóa, hoạt động của Giáo hội là tăng
cường, củng cố cơ sở vật chất thật vững, dùng nhiều biện pháp hấp dẫn,
tâm lý phù hợp với lứa tuổi nhằm phát triển tín đồ, gây thanh thế Giáo hội.
Ở tất cả các xứ, Giáo hội dùng giáo quyền đưa tín đồ vào hội đoàn, củng cố
hội đoàn cũ, hình thành các hội đoàn mới, tăng cường các hình thức hoạt
động nhằm hợp thức các tổ chức mà Chính quyền không cho phép. Các
Linh mục được thuyên chuyển để hoạt động phù hợp với từng giáo xứ, đưa
các Linh mục trẻ có năng lực đến các vùng "khó khăn". Tăng cường đào
tạo Linh mục. Tăng cường "rao giảng lời chúa". Tổ chức các lớp học kinh
bổn cho mọi lứa tuổi, đặc biệt chú trọng tới lớp trẻ, đưa nữ tu xuống dạy
kinh bổn ở các giáo xứ. Sau khi học là tổ chức các kỳ thi, sát hạch dưới
nhiều hình thức khác nhau, có đánh giá và khen thưởng từng đối tượng.
giám mục - Nhà thờ Thanh Hóa; tổ chức cho giáo dân hành hương vào nhà
thờ La Vang (Quảng Trị). Quan tâm đầu tư cho tín đồ (như làm giếng
nước, nhà vệ sinh, đường giao thông nông thôn, cho vay vốn phát triển
kinh tế).
Đáng chú ý là trong hoạt động của Giáo hội hiện nay là tìm cách lôi
kéo cán bộ, đảng viên là tín đồ Công giáo tham gia sinh hoạt tôn giáo, bầu
vào các ban hành giáo; cô lập những gia đình cán bộ, đảng viên tích cực là
người Công giáo - nhất là cán bộ, đảng viên giữ các cương vị lãnh đạo của
17
Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng ở địa phương.
Đồng thời, Giáo hội tìm mọi biện pháp lôi kéo thanh - thiếu niên thông qua
các hoạt động hội đoàn theo giới tính, sở thích rất linh hoạt và tổ chức chặt
chẽ [4, tr. 3], [57, tr. 3-4]. Tòa giám mục Thanh Hóa tích cực tham gia các
hoạt động xã hội, từ thiện. Đợt thiên tai ở Hậu lộc năm 1996, Tòa giám
mục đã ửng hộ tiền, gạo trị giá 20.000.000đ. Trong hai đợt quyên góp ửng
hộ đồng bào Cu ba, riêng Tòa giám mục ủng hộ 1 triệu đồng, bà con giáo
dân quyên góp 161.253.000 đ. Trong đợt quyên góp ủng hộ đồng bào miền
Trung bị lũ lụt, Tòa giám mục ủng hộ 14 triệu đồng, nhà xứ chính tòa
Thanh Hóa 2 triệu, giáo dân toàn tỉnh 100 triệu [4, tr. 4].
Có thể nói, hoạt động của Giáo hội Thanh Hóa những năm gần đây
thực sự đa dạng, nhiều hình thức mới, cuốn hút đông đảo giáo dân - nhất là
lực lượng thanh niên. Điều đó đang tác động không ít tới tư tưởng, tâm lý
quần chúng tín đồ, ảnh hưởng tới đời sống, sinh hoạt và sự phát triển chung
của xã hội. Hiện nay, ở Thanh Hóa tuy chưa thấy xuất hiện những vấn đề
chính trị phức tạp, song tình hình trên vẫn là những vấn đề mà các cấp lãnh
đạo, quản lý ở Thanh Hóa - trong đó có tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
đáng quan tâm.
vùng đồng bằng Trung du, vùng Biển đã hòa nhập với phong trào chung,
đầu tư chiều sâu, mở rộng ngành nghề truyền thống, ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng
hóa. Một bộ phận giáo dân làm kinh tế gia đình giỏi bằng thâm canh tăng
vụ, khoanh nuôi, cải tạo, bảo vệ rừng khai thác kinh tế vùng đồi như các xứ
Hữu Lễ, Quảng Phú, Cẩm Phong. Nhiều gia đình góp vốn mua sắm ngư cụ,
tàu thuyền đánh bắt hải sản, khoanh vùng đầm hồ nuôi trồng hải sản như ở
xứ Ngọc Lẫm, Quảng Vọng, Hoài Yên, Quảng Trường. Các hợp tác xã có
truyền thống ở vùng biển như Nghi Sơn, Quang Minh (Tĩnh Gia), Quảng
19
Tiến (Sầm Sơn) vẫn được giữ vững và phát triển. Đời sống của giáo dân
đang có nhiều đổi mới, khởi sắc theo đà phát triển chung của xã hội.
Đánh giá về sự chuyển đổi trong đời sống kinh tế của đồng bào giáo
dân Thanh Hóa, Báo cáo tổng kết việc thực hiện Nghị Quyết 24-NQ/TW
của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, của
Tỉnh ủy Thanh Hóa ngày 20/5/1997 ghi rõ: "Số hộ có kinh tế khá tăng từ 510%, số hộ nghèo đói giảm từ 40% năm 1991 xuống còn 25% năm 1996,
có nơi chỉ có 15-20%, 80% nhà dân được ngói hóa, 90% hộ có điện sinh
hoạt... đời sống giáo dân ở nhiều xóm thôn từng bước được cải thiện. Nhiều
gia đình mua sắm được xe máy, tàu thuyền, ô tô phục vụ sản xuất kinh
doanh" [57, tr. 2]. Cơ sở hạ tầng như đường, trường học, điện, trạm xá
nhiều nơi được Nhà nước đầu tư và nhân dân góp vốn xây dựng cơ bản tạo
sự chuyển biến mới ở các vùng giáo dân. Đời sống văn hóa tinh thần có
nhiều thay đổi tích cực. Nếu trước đây giáo dân chưa thật chú ý việc học
tập của con em, thì những năm gần đây, họ đã thấy được lợi ích và sự cần
thiết phải nâng cao dân trí, nên nhiều gia đình giáo dân chăm lo đến sự học
tập của con em. Đây là nét mới ở cùng Công giáo Thanh Hóa. Các hoạt
động "uống nước nhớ nguồn", "đền ơn đáp nghĩa", ủng hộ đồng bào bị lão
Sơn và một số vùng khác, Linh mục gửi phong bì đến từng hộ gia đình để
quyên tiền. Nhiều hộ giáo dân nghèo phải đi vay để nộp [4, tr. 5].
Nhìn chung vùng Công giáo Thanh Hóa phổ biến là khó khăn, trình
độ dân trí thấp, đời sống còn những thiếu thốn. Đa số giáo dân biết ơn
Đảng và Nhà nước đã cứu vớt họ thoát khỏi áp bức bóc lột, đói nghèo của
địa chủ phong kiến và đế quốc. Đời sống đang được ổn định, cải thiện với
những chuyển biến mới, tích cực. Tư tưởng giáo dân phấn khởi, tin tưởng
xây dựng cuộc sống mới. Những mặt hạn chế trong giáo dân và đời sống
của giáo dân, vừa có yếu tố chủ quan từ bản thân nhận thức và hoạt động
thực tiễn của họ, vừa có yếu tố khách quan về điều kiện địa lý, xã hội và sự
tác động mạnh mẽ của tổ chức Giáo hội ở Thanh Hóa.
21
1.2. THANH NIÊN CÔNG GIÁO Ở THANH HÓA VỪA LÀ MỘT TÍN
ĐỒ CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, VỪA LÀ MỘT THANH NIÊN VIỆT NAM
Độ tuổi của thanh niên ở Việt Nam hiện nay được tính từ 15-30
tuổi. Thanh niên Công giáo được hiểu là những tín đồ theo đạo Công giáo
trong độ tuổi thanh niên. "Thanh niên Công giáo" ở luận văn này đề cập
bao gồm cả thanh niên là đoàn viên và chưa phải là đoàn viên. Ở Thanh
Hóa, quần chúng tín đồ Công giáo chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong nhân
dân (khoảng 4% dân số toàn tỉnh) và thanh niên Công giáo chiếm một tỷ lệ
không nhỏ trong lực lượng thanh niên nói chung. Ở những vùng Công giáo
tập trung, thanh niên Công giáo chiếm tỷ lệ cao. Qua khảo sát ở 4 xã vùng
Công giáo tập trung, tỷ lệ thanh niên Công giáo là 55,1% so với tổng số
thanh niên.
Để có cơ sở đánh giá thực trạng thanh niên Công giáo ở Thanh Hóa
hiện nay, chúng tôi đã tiến hành điều tra theo phiếu đối với đối tượng thanh
phát từ đặc điểm tâm lý thanh niên thích hoạt động, thích hòa đồng cùng
bạn bè, anh em để tránh sự lạc lõng, nhàn rỗi (phụ lục 4). Nhìn chung, việc
đi lễ ở nhà thờ của thanh niên là nhu cầu tín ngưỡng, nhu cầu về đời sống
tâm linh và đó là việc bình thường. Tuy nhiên, việc thanh niên đi lễ thường
xuyên chưa hẳn đã là sự "sùng đạo" cao. Bằng phương pháp phỏng vấn sâu,
qua trao đổi với nhiều người trong họ, chúng tôi nhận thấy, thanh niên đi lễ
thường xuyên ấy đôi khi chỉ là sự "sùng đạo" về mặt hình thức, nhưng tâm
thức tôn giáo lại bàng bạc. Lý do đi lễ thường xuyên trong đa số thanh niên
vì sự khuyến khích, vì thích hòa đồng, điều đó, thể hiện xu hướng thế tục
hóa trong nhu cầu tín ngưỡng của họ. Điều này cũng nói lên rằng, trong
cuộc sống hàng ngày, dưới thời kỳ phát triển kinh tế thị trường, mở rộng
giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa, thanh niên Công giáo chịu
nhiều sự tác động, sự ràng buộc mà bản thân họ chưa đủ khả năng vượt lên
được. Vì thế, họ cần một chỗ dựa tinh thần ở nơi tôn giáo của họ. Thông
qua lễ nghi, mong được hiệp thông với đấng thiêng liêng. Từ đó cũng cho
23
thấy, trong đời sống tinh thần, thanh niên Công giáo Thanh Hóa còn có
nhiều hụt hẫng, thiếu trống khi mà nhu cầu của họ ngày một cao hơn.
Hai là, hầu hết thanh niên rất tích cực, thậm chí rất say sưa tham
gia các hội đoàn Công giáo.
Để có cơ sở nhìn nhận khách quan về thái độ của thanh niên tham
gia các hội đoàn Công giáo, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, phân tích
qua phiếu điều tra thực tế. Hội đoàn Công giáo thực chất là một hình thức
sống đạo tập thể của tín đồ. Giáo hội thông qua hội đoàn để nắm tín đồ,
củng cố đức tin tôn giáo, truyền đạo, đồng thời, sử dụng hội đoàn vào mục
đích của từng giáo hội (kể cả mục đích chính trị). Các hội đoàn Công giáo
vừa hoạt động mang tính thuần túy tôn giáo, vừa có tác dụng củng cố niềm
từng thời điểm từ 5 đến 10.000 đồng. Ở Thọ Xương (Thọ Xuân) mỗi tháng
hội viên Hội giới trẻ, Hội hát nhảy nộp từ 2.000 đến 5.000 đồng. Đặc biệt,
các hội đoàn hoạt động thường xuyên làm ảnh hưởng trực tiếp đến thời
gian, vật lực, tình cảm của thanh niên đối với các hoạt động do Đoàn thanh
niên tổ chức. Đáng chú ý là có nơi, hoạt động của hội đoàn có dấu hiệu lợi
dụng tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước; sử dụng thanh niên như một lực lượng đối trọng, gây chia rẽ mất
đoàn kết giữa thanh niên Công giáo và thanh niên không Công giáo trong
địa bàn khu vực.
Hội đoàn Công giáo ảnh hưởng đến thanh niên khá lớn. Điều này
không phải chỉ riêng có ở Thanh Hóa, một số địa phương khác cũng vậy.
Báo cáo khoa học đề tài "Công tác đoàn kết tập hợp thanh niên tín đồ các
tôn giáo trong tình hình mới" của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và
Bộ khoa học công nghệ và môi trường thực hiện năm 1999, có ghi: "Ý kiến
đánh giá chung thiên về chiều hướng đánh giá tốt cao hơn hẳn, trong đó ý
kiến cho rằng hoạt động của hội đoàn tôn giáo là thiết thực bổ ích (ý kiến
1) chiếm 39,2%, có hình thức hấp dẫn (ý kiến 2) chiếm 22,6%, ý kiến cho
25
rằng hoạt động của hội đoàn tôn giáo là không cần thiết (ý kiến 4) chỉ có
9,2%. Điều này chứng tỏ rằng trong các vùng có đông tín đồ tôn giáo, hoạt
động của hội đoàn tôn giáo đã có ảnh hưởng và sự thu hút khá lớn đối với
thanh niên. Mức độ ảnh hưởng và thu hút này, đương nhiên là cao nhất đối
với các thanh niên là hội viên hội đoàn tôn giáo. Toàn bộ họ đều đánh giá
hoạt động của hội đoàn tôn giáo theo chiều hướng tốt (ý kiến 1: 42,1%, ý
kiến 2: 57,9%) đối tượng thanh niên chịu ảnh hưởng thu hút nhiều ở mức
độ thứ hai là hội viên Hội LHTN Việt Nam" [61, tr. 69].
Với tư cách là một thanh niên Việt Nam, thanh niên Công giáo ở