1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự là một loại hoạt động của Nhà nước nhằm đưa bản
án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thực hiện trên
thực tế. Thông qua thi hành án dân sự, những phán quyết của Tòa án nhân
danh Nhà nước về mặt dân sự, sẽ được thi hành, bảo đảm lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, góp phần giữ vững kỷ
cương, phép nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, thi
hành án nói chung, thi hành án dân sự nói riêng đã trở thành một nguyên tắc
hiến định. Điều 136 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Các bản án và quyết
định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi
công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành".
Sau hơn mười năm kể từ khi nhiệm vụ quản lý và tổ chức thi hành án
dân sự được chuyển từ Tòa án nhân dân sang Chính phủ (tháng 6 năm 1993),
hệ thống các cơ quan thi hành án đã được hình thành và phát triển trong cả
nước; thi hành án dân sự bước đầu đạt được những kết quả đáng ghi nhận,
làm giảm đáng kể số lượng án tồn đọng. Đáng chú ý, nhiều vụ việc phức tạp,
tồn đọng lâu năm đã được tổ chức thi hành dứt điểm; một số án đặc biệt lớn,
tính chất hết sức phức tạp, có ảnh hưởng lớn về kinh tế, cũng như trật tự an
toàn xã hội cũng đã được Nhà nước quan tâm chỉ đạo như vụ Epco - Minh
Phụng, phải thi hành án 4.000 tỷ đồng, vụ Tân Trường Sanh phải thi hành án
trên 1.000 tỷ đồng... Kết quả đạt được nói trên phản ánh sự cố gắng, nỗ lực
của toàn ngành tư pháp nói chung, cũng như đội ngũ cán bộ thi hành án dân
sự nói riêng, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, chính quyền
3
án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ:
"Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án", mã số: 96-98-027/ĐT; Bộ
Tư pháp chủ trì đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: "Luận cứ khoa học
của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai
đoạn mới"; tác giả Nguyễn Công Long có công trình: "Các biện pháp cưỡng
chế thi hành án dân sự", (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2000); tác giả Nguyễn Thanh Thủy có công trình: "Hoàn thiện pháp luật
thi hành án dân sự ", (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2001); tác giả Lê Kim Dung có công trình: "Civil Execution in ViêtNam;
Reality Problems and Suggestion Towrds a WellFunctioning System" (Thi
hành án dân sự Việt Nam; thực trạng, vấn đề và những gợi ý hướng tới một
hệ thống hoàn thiện), (Luận văn thạc sĩ Luật học, 2002); tác giả Lê Xuân
Hồng có công trình: "Xã hội hóa một số nội dung thi hành án dân sự", (Luận
văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002); tác giả Trần Anh
Tuấn có công trình: "Thi hành quyết định trọng tài tại Việt Nam", (Luận văn
thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002); tác giả Nguyễn Quang
Thái có công trình: "Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt
Nam", (Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
2003); tác giả Lê Anh Tuấn có công trình: "Đổi mới thủ tục thi hành án dân
sự Việt Nam", (Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
2004). Ngoài ra, có một số bài viết liên quan đến thi hành án dân sự được
đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp
chí Luật học, Bản tin Thi hành án dân sự...
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về thi
hành án dân sự, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
và có hệ thống về án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
5
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân,
về thi hành án dân sự nói chung, khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân
sự nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các
phương pháp: hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, cụ thể, lôgíc, kết hợp với
các phương pháp khác như so sánh, khảo sát thực tiễn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ Luật, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong thi hành án
dân sự ở Việt Nam. Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp
mới về khoa học của luận văn:
1- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về khắc phục án tồn đọng trong
thi hành án dân sự ở Việt Nam.
2- Đánh giá đúng thực trạng án tồn đọng trong thi hành án dân sự,
phân tích, làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó. Phân tích tình hình khắc
phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự, trong đó làm rõ những kết quả đạt
được, những hạn chế của việc khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự
và nguyên nhân của chúng.
3- Phân tích những quan điểm và các giải pháp có tính khả thi nhằm
khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa của luận văn
nhiều điểm khác nhau giữa tố tụng và quá trình thực hiện thi hành
án. Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi
không phải là Tòa án. Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang
nặng tính hành chính - tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án
kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của
thi hành án hình sự đối với loại hình phạt không phải là hình phạt
tù...) [54, tr. 12].
Các quan điểm trên đều có hạt nhân hợp lý và đều dựa trên những
luận cứ khoa học nhất định, nhưng về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, thi
hành án là hoạt động tư pháp, bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, trước hết cần khẳng định, thi hành án là giai đoạn tiếp theo
của giai đoạn xét xử, hoạt động xét xử là tiền đề của hoạt động thi hành án.
Hoạt động thi hành án lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét
xử, bởi lẽ thi hành án được tiến hành dựa trên bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án, nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án là bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Cơ quan thi hành án có
trách nhiệm ra quyết định thi hành án và thi hành đúng theo phán quyết của
Tòa án, không được suy diễn các phán quyết của Tòa án trong các bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Ngoài sự lệ thuộc nói trên, việc thi hành chịu sự chi phối của hoạt
động xét xử còn được thể hiện ở chỗ: nếu bản án, quyết định của Tòa án chưa
10
rõ ràng, cơ quan thi hành án có thể đề xuất các cơ quan xét xử có thẩm quyền
giải thích bản án, quyết định đó. Trong quá trình đưa bản án, quyết định ra thi
hành, Tòa án có thẩm quyền tạm hoãn thi hành án theo luật định hoặc kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, mà hậu quả pháp lý của nó có
thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức thi hành án của cơ quan thi
Hoạt động của cơ quan hành chính chủ yếu xoay quanh người đứng đầu là
Thủ trưởng cơ quan hành chính, trong khi đó thi hành án là hoạt động tư pháp
có những điểm khác cơ bản.
Trước hết, khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, là một hệ thống
các thiết chế, các tổ chức bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công
bằng xã hội, trong đó hoạt động xét xử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
là Tòa án giữ vai trò, vị trí quan trọng, là khâu trung tâm. Vì vậy, khi nói tới
Tòa án là nói tới biểu tượng điển hình của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật, là nơi biểu hiện rực rỡ nhất bản chất của pháp luật.
Khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động xét xử của
Tòa án, thông qua những thủ tục tố tụng nhất định, đối với những vụ việc vi
phạm pháp luật, tranh chấp của các chủ thể trong đời sống xã hội, nhằm bảo
vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công bằng xã hội. Vì vậy, toàn bộ các
hoạt động điều tra, truy tố và các hoạt động bổ trợ tư pháp (Giám định, Luật
sư, Công chứng, Hộ tịch, Tư vấn pháp luật...) đều nhằm phục vụ cho quá trình
làm sáng tỏ chân lý, tìm ra sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, để
trên cơ sở đó, Tòa án đưa ra phán quyết theo qui định của pháp luật. Kết thúc
giai đoạn xét xử, Tòa án quyết định những vấn đề thuộc về nội dung vụ án,
xác định trách nhiệm pháp lý và chế tài thích hợp cho từng đối tượng cụ thể,
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và của
công dân. Các bản án và quyết định xét xử của Tòa án không những nhân
danh Nhà nước mà còn thể hiện quyền lực tối cao của Nhà nước có hiệu lực
thi hành, chính vì vậy, Điều 136 của Hiến pháp 1992 đã nêu rõ: "Các bản án
và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân tôn trọng,
12
những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành". Tuy nhiên,
việc thi hành án tử hình, theo qui định của pháp luật, Hội đồng thi hành án tử
hình gồm có đại diện của Tòa án, cơ quan Công an, Viện kiểm sát; hoặc theo
Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ qui
định đối với những trường hợp thi hành khoản tiền khấu trừ thu nhập của
người bị phạt cải tạo không giam giữ, thì cơ quan, tổ chức được giao quản lý
người phải thi hành án có trách nhiệm khấu trừ 5% đến 20% thu nhập của
người phải thi hành án để nộp cho cơ quan thi hành án.
c) Các chủ thể thi hành án phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ
về thi hành án. Những quy định rất chi tiết, cụ thể như: trình tự, thủ tục ra
quyết định thi hành án; cách thức tổ chức việc thi hành án; giải quyết khiếu
nại hoặc trả lời kháng nghị việc thi hành án... Những quy định này được thực
hiện một cách độc lập, do người có thẩm quyền tiến hành mà không phụ
thuộc vào các hoạt động tố tụng khác như trong quá trình điều tra, truy tố và
xét xử. Ví dụ, đối với việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trong thi
hành án dân sự, chấp hành viên chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng chế
được pháp luật qui định, đó là: khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy có
giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức
tín dụng, kho bạc; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang do
người thứ ba giữ; buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao vật, tài
sản khác; cấm hoặc buộc người phải thi hành án không làm hoặc làm công
việc nhất định; chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án sau khi
người phải thi hành án đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án (trừ trường hợp
cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc
trốn tránh việc thi hành án); không được tổ chức cưỡng chế thi hành án trong
các ngày nghỉ theo qui định của pháp luật lao động và trong khoảng thời gian
từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, mười lăm ngày trước và sau tết
Nguyên đán, các ngày lễ tết truyền thống đối với các đối tượng chính sách,
nếu họ là người phải thi hành án và các trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ Tư
sự năm 2004):
15
1. Những bản án, quyết định dân sự của Tòa án được thi
hành là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao
gồm:
a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm;
b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;
d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết
định của trọng tài nước ngoài đã có quyết định có hiệu lực pháp luật
của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
2. Những bản án, quyết định sau đây của cấp sơ thẩm được
thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận
người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo
hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn
thất tinh thần của công dân;
b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Những bản án, quyết định nói ở Điều 1 không chỉ bao gồm những bản
án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, mà còn bao
gồm quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, truy thu
tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Tòa án về
hình sự, quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về
hành chính, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của
trọng tài nước ngoài đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt
thứ hai, phải có quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
17
Dưới góc độ lý luận, xung quanh khái niệm "dân sự" trong thi hành án
dân sự hiện nay còn có hai quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khái niệm "dân sự" trong thi hành án
dân sự được hiểu là những bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và
nhân thân phi tài sản như bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với
các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có tính
chất dân sự. Luận cứ để bảo vệ quan điểm này là quy định tại Điều 1 Bộ luật
Dân sự năm 1995: quan hệ dân sự bao gồm quan hệ về tài sản và quan hệ
nhân thân phi tài sản trong giao lưu dân sự còn các quyết định về tài sản trong
vụ án hình sự, bản án, quyết định về lao động, hành chính, quyết định giải
quyết tranh chấp kinh tế hoặc thương mại của trọng tài được tiến hành theo
trình tự, thủ tục riêng.
Quan điểm thứ hai cho rằng, khái niệm "dân sự" ở đây phải được hiểu
theo nghĩa rộng, đó không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết
tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số
loại án khác có tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản án,
quyết định khác do pháp luật qui định.
Chúng tôi đồng tình với quan điểm này, bởi lẽ, từ khi Pháp lệnh Thi
hành án dân sự năm 1993 được ban hành đến nay, Nhà nước đã ban hành một
loạt các văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự, Luật Phá sản doanh nghiệp,
Pháp lệnh Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, Pháp lệnh Thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính,
Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết
định của trọng tài nước ngoài. Do đó, phạm vi, nội dung của thi hành án dân
một việc vì lợi ích của người được thi hành án. Như vậy, quan hệ pháp luật về
thi hành án dân sự phát sinh ngay tại thời điểm bản án, quyết định dân sự của
Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc những bản án, quyết định dân sự của Tòa
19
án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay. Tuy nhiên, mức độ
tác động, tính chủ động của cơ quan thi hành án, chấp hành viên đối với từng
loại bản án, quyết định, từng giai đoạn thi hành án có khác nhau. Có loại bản
án, quyết định cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên phải chủ động ra
quyết định thi hành án, đôn đốc, chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả thi
hành án như đối với các trường hợp bản án, quyết định về trả lại tài sản xã hội
chủ nghĩa; bản án, quyết định về phạt tiền; bản án, quyết định về tịch thu tài
sản; bản án quyết định về án phí; bản án quyết định về tiêu hủy tang vật; các
quyết định khẩn cấp tạm thời. Có loại bản án, quyết định, cơ quan thi hành án,
chấp hành viên chỉ tham gia vào quá trình thi hành án khi có yêu cầu của
người được thi hành án sau khi đã thụ lý thi hành án, có lúc chấp hành viên
chỉ giữ vai trò "chứng kiến", giải thích, hướng dẫn các bên (được thi hành án
và phải thi hành án) tự thi hành án. Nhưng khi người phải thi hành án bất chấp
kỷ cương, pháp luật, coi thường lợi ích của người được thi hành án, cố ý
không thực hiện nghĩa vụ của mình, thì cơ quan thi hành án, chấp hành viên
phải tỏ rõ uy quyền được Nhà nước giao là huy động lực lượng, trấn áp, bắt
buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi mà Tòa án nhân
danh Nhà nước đã tuyên. Đó là giai đoạn cưỡng chế thi hành án. Như vậy,
cưỡng chế thi hành án là một chế định đặc thù của quá trình thi hành các bản
án, quyết định của Tòa án, bản chất của nó là áp dụng các biện pháp cưỡng
chế theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định, nhằm buộc người phải thi
hành án phải thực hiện nghĩa vụ của mình.
Thi hành án dân sự có những đặc tính chung phổ biến, đồng thời có
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương
trong thi hành án dân sự là trách nhiệm của Nhà nước, không phải là việc
riêng của công dân. Cơ quan thi hành án, chấp hành viên tham gia quan hệ
pháp luật về thi hành án dân sự không phải vì lợi ích của chính mình, mà nhân
danh cơ quan nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện trên thực tế
21
những phán quyết về dân sự của Tòa án, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa.
Là chủ thể bắt buộc trong quan hệ thi hành án dân sự, chấp hành viên
nhân danh Nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước thông qua hoạt động thi
hành án. Những phán quyết về dân sự của Tòa án nhân danh quyền lực nhà
nước được chấp hành viên bảo đảm thực thi trên thực tế, công lý xã hội được
thực hiện nhưng không phải vì lợi ích của chính bản thân mình, mà vì lợi ích
mà pháp luật bảo vệ, vì bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật phải được các đương sự nghiêm chỉnh chấp hành, các cơ quan nhà nước,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân tôn
trọng. Để chấp hành viên có cơ sở pháp lý hoạt động, pháp luật qui định cho
chấp hành viên những quyền hạn nhất định, như trong trường hợp bản án,
quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, hai bên đương sự tự
nguyện bàn bạc và thỏa thuận với nhau việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo
nội dung và quyết định của bản án, thì chấp hành viên đóng vai trò là người
"xác nhận" việc tự nguyện và thỏa thuận đó và làm các thủ tục theo qui định
của pháp luật thi hành án dân sự. Trường hợp một bên là chủ thể của quan hệ
pháp luật thi hành án dân sự cố ý không tôn trọng bản án, quyết định của Tòa
án, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình mà có biểu hiện chây ỳ, coi
thường pháp luật mặc dù đã được chấp hành viên cơ quan thi hành án phân
về thi hành án dân sự qui định.
Trong quan hệ thi hành án dân sự, Nhà nước sử dụng quyền lực
công để đảm bảo thi hành án, nhưng Nhà nước cũng không cho phép Cơ
quan thi hành dân sự, chấp hành viên lạm dụng quyền lực. Nhà nước quy
định hệ thống văn bản pháp luật về thi hành án dân sự một cách chi tiết, cụ
thể, khoa học, chặt chẽ bao gồm các nguyên tắc, trình tự thủ tục trong thi
hành án dân sự nhằm tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan thi hành án, chấp hành
23
viên thực hiện nhiệm vụ thực thi các bản án, quyết định của Tòa án trên
thực tế. Trình tự, thủ tục thi hành án dân sự không được qui định hoặc qui
định không rõ ràng, không khoa học sẽ dẫn đến việc áp dụng không đúng
pháp luật, làm phức tạp quá trình thi hành án, gây tốn kém kinh phí, không
kịp thời hoặc không bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, dẫn đến khiếu kiện bức xúc, kéo dài. Mặt khác, do
cơ quan thi hành án là một bộ phận trong bộ máy nhà nước nên hoạt động
thi hành án trong một quá trình thi hành án đều phải tuân theo nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và điều đó chứng tỏ
sự diễn biến và phát triển của hoạt động thi hành án dân sự luôn chịu sự tác
động, điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về thi hành án dân sự và rộng hơn
là của cả hệ thống pháp luật.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM ÁN TỒN ĐỌNG TRONG THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC KHẮC PHỤC ÁN TỒN ĐỌNG TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.2.1. Khái niệm án tồn đọng trong thi hành án dân sự
Thời kỳ trước năm 1986, do ảnh hưởng của cơ chế tập trung, bao cấp,
các tranh chấp kinh tế thường được giải quyết thông qua thủ tục trọng tài kinh