LUẬN văn THẠC sĩ đấu TRANH PHÒNG CHỐNG BUÔN lậu của cục hải QUAN BÌNH ĐỊNH THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn buôn lậu, gian lận thương mại ở nước ta trong những năm gần
đây diễn biến phức tạp, mang tính thời sự; có xu hướng gia tăng về quy mô,
chủng loại hàng hóa, thủ đoạn ngày càng tinh vi; có nơi, có lúc trở nên nóng
bỏng, quyết liệt. Buôn lậu thật sự trở thành "quốc nạn", gây trở ngại cho công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Thực trạng trên đã và đang là những vấn đề bức xúc của toàn xã hội.
Chính vì vậy Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương chính sách để ngăn
chặn, phòng ngừa "hiểm họa" này. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã nhấn mạnh: "Tăng cường sự phối hợp
giữa các cơ quan chức năng, phát huy vai trò của nhân dân để tiến hành có
hiệu quả những biện pháp chống buôn lậu trên các tuyến biên giới, vùng biển
và trên thị trường nội địa. Ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi buôn lậu,
gian lận thương mại hoặc tiếp tay, bao che cho buôn lậu". Thủ tướng Chính
phủ cũng đã có Chỉ thị số 853/CT-TTg ngày 16/10/1997 đánh giá: "Buôn lậu
đang diễn biến hết sức nghiêm trọng, đã gây ra những hậu quả nguy hại về
kinh tế - xã hội, cản trở quá trình phát triển lành mạnh của kinh tế đất nước".
Để giải quyết "quốc nạn" này, Đảng và Nhà nước xác định đây là
nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, cấp bách và lâu dài; đòi hỏi toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống nhằm từng
bước ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tệ nạn buôn lậu. Cuộc đấu tranh này chỉ có
thể giành thắng lợi nếu được phối hợp triển khai mạnh mẽ trên địa bàn toàn
quốc và trên từng địa bàn cụ thể, trong đó đấu tranh phòng chống buôn lậu
trên từng địa bàn có ý nghĩa quan trọng.
Là một tỉnh nằm ở vùng duyên hải miền Trung Trung bộ, Bình Định
có đường sắt Bắc - Nam và quốc lộ 1 đi qua, có quốc lộ 19 nối liền ba tỉnh





3

động điều tra của lực lượng cảnh sát nhân dân, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội. 2003.
Các công trình, bài viết trên đây tập trung chủ yếu nghiên cứu và làm
rõ về mặt lý luận cũng như thực tiễn những vấn đề về buôn lậu trên phương
diện cả nước, nhưng cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn
diện cả về lý luận và thực tiễn dưới giác độ khoa học luật học về đấu tranh
phòng, chống buôn lậu của Cục HQBĐ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác đấu tranh phòng chống buôn
lậu của Cục HQBĐ hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau đây:
- Khái quát những vấn đề lý luận về buôn lậu và đấu tranh chống buôn
lậu.
- Làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngành Hải quan trong
đấu tranh phòng chống buôn lậu.
- Đánh giá thực trạng đấu tranh phòng chống buôn lậu ở Cục HQBĐ
trong thời gian qua; đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác đấu
tranh phòng, chống buôn lậu của Cục HQBĐ trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn công tác đấu tranh phòng
chống buôn lậu của Cục HQBĐ trong giai đoạn 5 năm từ năm 1999 đến năm
2003 và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác đấu tranh phòng chống
buôn lậu của Cục HQBĐ trong những năm 2005 - 2010.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu



5

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH
PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU CỦA NGÀNH HẢI QUAN

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BUÔN LẬU

1.1.1. Khái niệm buôn lậu
Buôn lậu là hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện cùng với hàng rào thuế
quan, nó tồn tại phát triển trong hoạt động thương mại của xã hội loài người.
Là một hiện tượng kinh tế - xã hội tiêu cực, buôn lậu xuất hiện cùng
với sự ra đời của bộ máy nhà nước và hàng rào thuế quan quản lý hoạt động
thương mại ở mỗi quốc gia; là hoạt động kinh tế bất hợp pháp, mục đích là
làm sao đạt được lợi nhuận cao nhất.
Việc nhìn nhận đánh giá hiện tượng buôn lậu ở từng giai đoạn lịch sử
và mỗi quốc gia cũng khác nhau.
Ở Việt Nam thuật ngữ "buôn lậu" đã có từ lâu trong dân gian và đã
được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa: "buôn lậu là các hành vi
buôn bán hàng trốn thuế hoặc hàng quốc cấm" hoặc là "mua bán những mặt
hàng cấm và trốn đóng thuế theo quy định" có nghĩa là trong kinh doanh buôn
bán, nếu có các hành vi trốn lậu, gian lận... thì đều được xem là buôn lậu.
Quan niệm trên đây đến nay vẫn tồn tại phổ biến trong nhận thức của nhiều
người Việt Nam. Nói về buôn lậu người ta nghĩ ngay đến việc buôn bán hàng
quốc cấm, trốn lậu thuế, buôn bán không trong sáng, buôn gian bán lậu.
Khác với nhận thức trên, trong Từ điển tiếng Anh, buôn lậu (smuggling)
được giải thích là: "hành vi mang hàng hóa một cách bí mật và không hợp
pháp vào hoặc ra khỏi một nước mà không chịu trả thuế quan".

xuất khẩu hàng hóa có sức cạnh tranh ra nước ngoài để chiếm thị trường, mang
lại lợi nhuận cao luôn được các quốc gia đó quan tâm; chỉ ngăn chặn những
hàng hóa nhập khẩu có ảnh hưởng xấu đến xã hội như ma túy, chất nổ....


7

Đối với các nước nghèo, sức sản xuất thấp, giá cả hàng hóa cao, nhu cầu
tiêu dùng của xã hội lớn thì buôn lậu và chống buôn lậu là vấn đề hết sức nan giải.
Xuất phát từ những yếu tố khách quan của hoạt động buôn lậu, cũng
như thực tiễn tình hình và yêu cầu đấu tranh chống buôn lậu ở Việt Nam, ta
có thể đưa ra khái niệm buôn lậu như sau: Buôn lậu là buôn bán trái phép
qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc các
vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa.
Theo khái niệm trên buôn lậu có phạm trù điều chỉnh rộng hơn nhiều
so với tội buôn lậu. Sự khác nhau đó không phải là về hành vi mà là ở chỗ hậu
quả gây ra cho xã hội của hành vi "buôn lậu trái phép qua biên giới" như thế
nào, tức là nếu hành vi "buôn lậu trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt
Nam, ngoại tệ, kim khí quí, đá quý hoặc các vật phẩm thuộc di tích lịch sử
văn hóa" chưa hội tụ đủ các điều kiện pháp luật hình sự quy định (hậu quả
gây ra cho xã hội chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự) thì xử lý
hành chính. Ngược lại, hành vi đó xâm hại các quan hệ xã hội mà pháp luật
hình sự bảo vệ thì được điều chỉnh tại Điều 153 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Một số vấn đề đặt ra ở đây là phân biệt giữa hành vi buôn lậu và hành
vi gian lận thương mại.
Gian lận thương mại là hành vi gian lận thể hiện thông qua mua bán,
trao đổi, dịch vụ hàng hóa; mục đích của hành vi này nhằm thu lợi bất chính.
Cụ thể đối tượng lừa dối cơ quan chức năng nhà nước để thực hiện hành vi
gian lận của mình, như hàng hóa nhiều khai ít, ít khai nhiều hàng có thuế xuất
cao khai thấp, khai không đúng chủng loại... nhằm để trốn thuế.

- Sử dụng các giấy tờ giả mạo của các cơ quan có thẩm quyền, lén lút
không qua cửa khẩu để trốn tránh sự phát hiện của cơ quan nhà nước.
Theo quy định này, tội buôn lậu bao hàm cả hành vi gian lận trong
lĩnh vực thương mại: không khai báo, hoặc khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ,


9

giấu giếm hàng hóa v.v... qua đó ta có thể hiểu: gian lận thương mại trong
lĩnh vực hải quan là nội dung, một phần của tội buôn lậu.
Như vậy việc quy định trong văn bản pháp luật Việt Nam có phần không
giống với quy định của tổ chức WCO. Tổ chức WCO cho rằng: buôn lậu là một
nội dung của gian lận thương mại, trong khi đó pháp luật Việt Nam định
nghĩa buôn lậu và gian lận thương mại riêng biệt, đồng thời coi gian lận
thương mại là một dạng của buôn lậu. Việc không thống nhất này gây rất khó
khăn trong việc giải quyết vi phạm phát sinh trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế.
Từ nhận thức về buôn lậu và gian lận thương mại ta có thể phân biệt
hai hành vi này như sau:
Mặc dù mục đích, hậu quả của hai hành vi khá giống nhau nhưng nội
dung và hình thức, thủ đoạn của buôn lậu và gian lận thương mại hoàn toàn
khác nhau. Trong khi buôn lậu thu lợi bằng cách trốn tránh khai báo, có khi
lén lút vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới để trốn thuế, thì gian lận
thương mại là hành vi công khai xuất trình hồ sơ và làm các thủ tục hàng hóa
xuất nhập khẩu (XNK) trước sự chứng kiến của cơ quan quản lý.
Bản chất của buôn lậu là mạo hiểm, sử dụng mọi thủ đoạn che giấu và
dùng các phương tiện cần thiết để đưa hàng qua biên giới; còn bản chất của
gian lận thương mại là lợi dụng chính sách, luật lệ của Nhà nước để hợp thức
hóa trái phép hàng hóa XNK nhằm thu lợi bất chính. Biểu hiện của hoạt động
buôn lậu thường là lén lút, thậm chí liều lĩnh; còn gian lận thương mại thường

nhân phải "thiết kế những con đường vòng" nhằm tránh đóng thuế. "Đó là các
đường dây buôn bán nằm ngoài sự kiểm soát của các quốc gia khác nhau".
Đây chính là nguồn gốc sâu xa của buôn lậu.
Như vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội; buôn lậu
đã xuất hiện và tồn tại như là bạn đồng hành với sự phát triển của thương mại.
Lịch sử chứng minh nạn buôn lậu đã xuất hiện từ thời cổ đại. Ở Ai
Cập vào thế kỷ XVII - XVI tr. CN khi các đoàn thương nhân mang hàng hóa lên
đường buôn bán ở nước khác thường phải thuê đội bảo vệ đi cùng và trả một
khoản tiền lớn, sau này để thay việc chi phí cho các đội bảo vệ đắt tiền, người ta
đã bỏ tiền ra đóng một thứ thuế đặc biệt - mà tiền thân là thuế hải quan sau này một thứ thuế "bắt nguồn từ những khoản cống nạp mà bọn chủ phong kiến bắt
các thương nhân đi qua lãnh thổ của mình phải nộp để khỏi bị cướp bóc, khoản
thuế đó sau này cũng được thành thị đặt ra, và khi các Nhà nước hiện đại xuất


13

hiện, thì khoản đó trở thành thủ đoạn thuận tiện nhất để thu tiền cho kho bạc"
[4, tr. 83]. Hoặc như ở thời Hy Lạp cổ đại (thế kỷ VI tr. CN), các lãnh chúa
cát cứ tự đặt ra các luật lệ về thuế đánh vào nhiều mặt hàng phải di chuyển qua
lãnh thổ của mình; như "thuế hải quan được quy định đối với hàng nhập khẩu là
bằng 1/10 trị giá của hàng, thậm chí tồn tại cả thuế hải quan đối với việc xuất
khẩu nô lệ" [45, tr. 13].
Ở Trung Quốc, một trong những nước sớm nổi tiếng về nghề buôn, hoạt
động kinh doanh của thương nhân Trung Quốc xuất hiện từ thời tiền Tần xa xưa,
các quốc gia phong kiến lúc bấy giờ đã định ra những chính sách bất lợi cho
thương nhân. "Ngay từ thời Hán, chính quyền đã thi hành một số biện pháp để
hạn chế hoạt động của thương nhân, ngăn chặn con đường kiếm lời của họ, đặt
ra đủ loại thuế má bắt thương nhân phải đóng, làm đủ mọi cách để họ không
có lãi hay không được lãi bao nhiêu..." [36, tr. 266]. Để có lợi nhuận họ bất
chấp tất cả: "Ai cũng biết là phạm pháp, nhưng người đi trước, người sau nối

phần tử thoái hóa trong cơ quan chức năng của như Biên phòng, Hải quan
v.v...
Trên tuyến biển, đối tượng buôn lậu hoạt động bán công khai chủ yếu
là các thủy thủ tàu viễn dương, lợi dụng các phương tiện của Nhà nước để buôn
lậu. "Bọn buôn lậu triệt để lợi dụng các phương tiện của Nhà nước để vận
chuyển hàng hóa. Qua khảo sát cho thấy 80% số vụ buôn lậu do sự tham gia
của các doanh nghiệp nhà nước và của các lực lượng vũ trang; trong đó 40%
là trực tiếp buôn lậu và 60% là do tư nhân núp bóng để buôn lậu" [56, tr. 443],
hoặc lợi dụng các chế độ chính sách quy định về hành lý, chế độ của những
người thường xuyên làm việc trên các tàu biển để buôn lậu.
Khi bị truy bắt gắt gao chúng chuyển sang hoạt động bí mật; cụ thể
các tàu chở hàng lậu ở nước ngoài về thường trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát
của cơ quan chức năng, lén lút đưa hàng vào bờ; hàng hóa thường là hàng
cấm, hàng có giá trị kinh tế cao, lãi suất lớn. Ngoài ra, chúng còn tổ chức lực
lượng ngầm theo dõi, nắm quy luật hoạt động của các lực lượng Công an, Hải
quan, Quản lý thị trường, Biên phòng v.v... nắm giờ xuất phát và hành trình
của tàu tuần tra, chống buôn lậu của các cơ quan chức năng để đối phó.


16

Tóm lại, vì lợi nhuận đối tượng buôn lậu không từ mọi thủ đoạn nào
và chống đối ngày càng quyết liệt.
1.1.4. Nguyên nhân và hậu quả của buôn lậu
1.1.4.1. Nguyên nhân và điều kiện buôn lậu tồn tại
Những năm gần đây tình hình buôn lậu đã trở thành mối quan tâm của
toàn xã hội, đã và đang có những diễn biến phức tạp, ngày càng nghiêm trọng.
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là các Bộ, ngành,
Ủy ban nhân dân các cấp chưa nhận thức đầy đủ về nguy cơ và tác hại
lâu dài của tệ nạn buôn lậu, đã buông lỏng quản lý nhà nước, chưa có

trong khu vực. Trong khi một số nước ở khu vực hàng hóa trong tình trạng dư
thừa, phong phú về chủng loại, khá tốt về chất lượng, giá cả lại thấp hơn hoặc
ngang bằng hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước; có nước thực hiện chính
sách bù lỗ và bằng con đường buôn lậu đã đẩy hàng hóa ế thừa vào thị trường
nước ta. Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng tăng không chỉ về
lượng mà còn về chất, nhiều loại hàng trước đây cho là xa xỉ phẩm, cấm đoán
thì nay trở thành nhu cầu tiêu dùng bình thường trong cuộc sống.
Hai là, hệ thống văn bản pháp lý thiếu thống nhất, kể cả trong việc áp
dụng.
Phòng ngừa, đấu tranh chống buôn lậu là nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân; thế nhưng công tác này không thể đạt được kết quả nếu thiếu các
biện pháp quản lý bằng pháp luật của các cơ quan bảo vệ pháp luật và quản lý
của Nhà nước. Trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều
văn bản tổ chức, hướng dẫn công tác đấu tranh chống buôn lậu như: Chỉ thị số
15/CT-TW ngày 20/11/1992 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 216/HĐBT của Hội đồng
Bộ trưởng, Quyết định 114/TTg, Chỉ thị 416/TTg, Chỉ thị 701/TTg, Chỉ thị
853/CT-TTg ngày 11/10/1997 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống buôn
lậu trong tình hình mới. Và gần đây là quyết định thành lập Ban chỉ đạo đấu
tranh chống buôn lậu 127/TW. Thế nhưng buôn lậu vẫn diễn ra hết sức nghiêm
trọng, nguyên nhân là do thiếu thống nhất, đồng bộ trong ban hành và thực


18

hiện các văn bản pháp luật, quan điểm chỉ đạo, tổ chức thực hiện từ trung
ương đến cơ sở.
Trên thực tế, nhiều quan hệ xã hội đã thay đổi, nhưng các quy phạm
pháp luật chưa kịp điều chỉnh, nhiều văn bản xa rời với thực tiễn, không còn
phù hợp khi điều chỉnh các quan hệ phát sinh nhất là trong lĩnh vực đấu tranh
phòng chống buôn lậu. Ví dụ như quy định của Bộ Thương mại cho phép

cho bọn buôn lậu núp bóng hoạt động, như thu thuế nhẹ hơn thuế nhập khẩu,
làm ngơ để cho hàng lậu vào nội địa để thu thuế cho địa phương.
Bốn là, sự tác động của kinh tế chung trong khu vực đã kích thích, ảnh
hưởng đến tình hình phát triển kinh tế Việt Nam.
Trong khi nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, thì trong những
năm gần đây phần lớn các nước trong khu vực lại có mức tăng trưởng kinh tế
cao, sản xuất phát triển hàng hóa mạnh; do vậy đã tạo ra sự chênh lệch khá
cao về về giá cả hàng hóa giữa thị trường ở trong nước và các nước trong khu
vực. Sự chênh lệch đó chính là động lực cơ bản để buôn lậu ở Việt Nam tồn
tại và phát triển trong những năm gần đây. Bên cạnh không loại trừ âm mưu
sâu xa dùng kinh tế để phong tỏa, gây sức ép đối với nước ta từ nhiều phía,
tìm mọi cách để đưa càng nhiều hàng hóa vào Việt Nam càng tốt nhằm cạnh
tranh bóp chết nền sản xuất của ta; khuyến khích xuất khẩu nguyên liệu sản
xuất làm cho tài nguyên trong nước kiệt quệ.
1.1.4.2. Hậu quả của buôn lậu
a) Đối với nền kinh tế
Buôn lậu trước tiên ảnh hưởng trực tiếp đến những thành quả của
công cuộc đổi mới của đất nước, nguy cơ kiềm hãm tốc độ phát triển kinh tế,
tạo lực cản đối với quá trình CNH, HĐH đất nước. Hàng nhập lậu trốn thuế
nên giá rẻ, trong khi đó hàng hóa sản xuất trong nước phải chịu nhiều thứ thuế
nên giá thành sản phẩm cao hơn, không tiêu thụ được, làm cho tình trạng nợ
đọng vốn, sản xuất hàng hóa đình đốn ảnh hưởng đời sống người lao động.


20

Đối với một số cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước có hành vi buôn
lậu sẽ dẫn đến tình trạng đồng vốn quốc gia bị sử dụng sai mục đích, không
tạo ra được sản phẩm thông qua sản xuất và hiệu quả không hợp pháp trong
kinh doanh, làm mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng. "Theo thống kê chưa

ương 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh: "Tăng
cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, phát huy vai trò của nhân dân
để tiến hành có hiệu quả những biện pháp chống buôn lậu trên các tuyến biên
giới, vùng biển và trên thị trường nội địa. Ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi
hành vi buôn lậu, gian lận thương mại hoặc tiếp tay, bao che cho bọn buôn lậu".
Chính vì thế, từ nhiều năm nay Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm chỉ
đạo công tác này. Năm 1982 Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh trừng trị
các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép; năm 1990 Ban
Bí thư có Chỉ thị số 64; Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 240 về chống
tham nhũng, buôn lậu. Đặc biệt ngày 20/11/1992, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số
15/CT-TW về tiếp tục ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng, buôn lậu; chỉ thị
xác định: ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng và buôn lậu là nhiệm vụ cấp
bách hàng đầu của cấp ủy Đảng. Có loại trừ tệ tham nhũng và buôn lậu thì
chính quyền mới vững mạnh, củng cố niềm tin của dân đối với Đảng. Từ năm
1996 - 1997 Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo quyết liệt công tác này
như: Quyết định số 114/TTg về các biện pháp cấp bách bài trừ tham nhũng,
buôn lậu; Chỉ thị số 701/TTg về đấu tranh chống buôn lậu trên biển; Nghị
quyết 85/CP- m ngày 11/7/1997 đề ra một số biện pháp cấp bách về chống
buôn lậu; Chỉ thị số 853/1997/CT-TTg ngày 11/10/1997 đề ra về công tác đấu
tranh chống buôn lậu trong tình hình mới, xác định công tác chống buôn lậu
trong tình hình mới là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và lâu dài của toàn
Đảng, toàn dân; Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo chống buôn lậu và gian lận
thương mại (gọi tắt là Ban 853TW), giao cho Tổng Cục trưởng TCHQ làm
trưởng ban. Đến ngày 27/8/2001 Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký Quyết định
số 127/2001/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian
lận thương mại (còn gọi là Ban 127) thay thế Ban 853 TW.


23


24

hướng dẫn để nhận diện đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và các dấu hiệu
pháp lý đặc trưng chưa được quy định một cách cụ thể.
Trước yêu cầu của tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
và nạn buôn bán trái phép qua biên giới nói riêng, ngày 27/6/1985 Quốc hội
đã thông qua BLHS (gọi là BLHS 1985) có hiệu lực từ ngày 01/01/1986,
trong đó có Điều 97 quy định tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng
hóa, tiền tệ qua biên giới: "Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển
trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý
hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa, thì bị phạt tù".
Bộ Luật hình sự năm 1985 có mở rộng hơn về đối tượng buôn lậu và
hành vi buôn lậu. Nếu trong Pháp lệnh ngày 30/6/1982 quy định chỉ có hàng hóa
là đối tượng duy nhất của tội phạm buôn lậu, thì trong Bộ luật lần này bổ sung đối
tượng phạm tội là tiền tệ, ngoại hối... quy định như vậy là chặt chẽ và đầy đủ
hơn.
Khi đất nước chuyển sang thời kỳ xây dựng kinh tế thị trường đặt ra
nhiều vấn đề cần giải quyết, một mặt phải xây dựng một khung pháp luật
hoàn chỉnh nhằm khuyến khích, phát huy mạnh mẽ các yếu tố tích cực của cơ
chế thị trường, mặt khác cần xác định rõ những điều nghiêm cấm với các chế
tài nghiêm khắc không chỉ về hành chính, dân sự mà cả về hình sự nhằm
phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những mặt tiêu cực của cơ chế
đó. BLHS năm 1985 ra đời trong điều kiện nền kinh tế hiện vật, kế hoạch hóa,
tập trung bao cấp, chưa thể quy định những tội danh cần được xử lý nghiêm
khắc về mặt hình sự của nền kinh tế thị trường. Và thực tế nhiều tội phạm mới
đã xuất hiện mà nếu không được ngăn chặn kịp thời thì có thể gây ra nhiều
hậu quả nguy hại cho xã hội.
Khắc phục hạn chế trên, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa X, ngày
21/12/1999 Quốc hội đã thông qua việc bổ sung, sửa đổi BLHS năm 1985
(thường gọi BLHS năm 1999), theo đó đã tách Điều 97 ra thành hai điều riêng

và tội phạm buôn lậu trong Điều 97 cụ thể hơn: "Người nào buôn bán trái phép



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status