VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ KIM ANH
LY HÔN Ở ĐÔ THỊ:
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
THÀNH PHỐ TÂY NINH - TỈNH TÂY NINH)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ NGỌC VĂN
HÀ NỘI, năm 2016
Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Khoa Xã hội học, cơ sở học
viện tại thành phố Hồ Chí Minh và quý thầy, cô trong Học viện Khoa học xã hội đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức mới về chuyên ngành Xã
hội học và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học tại
Học viện.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo PGS.TS. Lê Ngọc
Văn, một người thầy chân thành, trách nhiệm đã hướng dẫn tôi với tất cả lòng nhiệt
tình của người thầy giáo trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cục Thống kê tỉnh Tây Ninh, Sở Văn
bền vững thì sẽ tạo ra rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến gia đình, xã hội và cộng đồng.
Ly hôn là hiện tượng xã hội tiêu biểu cho hôn nhân không bền vững.
Ở phương Tây trong những thập kỷ gần đây, gia đình đang ở trong tình trạng
khủng hoảng nghiêm trọng với tỷ lệ ly hôn ngày một cao và nhiều hình thức thay đổi
của gia đình. Theo bảng số liệu “Ly hôn và tỉ lệ ly hôn thô " năm 2011 do Bộ phận
thống kê của Liên Hợp Quốc (UNSTAT) tổng hợp cho thấy tỷ lệ ly hôn trên toàn thế
giới rất cao, những nước có tỷ lệ ly hôn thô cao nhất thế giới là Belarus 4,1%, Nga
4,8%, Moldova 3,1%, Mỹ 3,6% [20]. Và hiện nay, một số nước ở Châu Á cũng được
chú ý vì tỉ lệ ly hôn tăng đáng kể như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,.... Theo
thống kê ở Mỹ năm 2014: có 813.862 vụ ly hôn và huỷ bỏ hôn ước so với 2.140.272
vụ kết hôn, tỉ lệ ly hôn thô ở Mỹ năm 2014 là 3,2% so với tỉ lệ kết hôn thô là 6,9%.
Như vậy tỉ lệ ly hôn chiếm gần phân nửa tỉ lệ kết hôn [19].
Việt Nam là nước có nền văn hoá với nhiều điểm khác biệt so với các nước
phương Tây, tuy đi sau cả trăm năm về sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và đô thị hoá nhưng cũng đối diện với các vấn đề của một xã hội đang phát triển theo
xu hướng của các nước phương Tây do ảnh hưởng văn hoá du nhập qua sự phát triển
hội nhập và mạng Internet,... Ở Việt Nam, ly hôn đang là một thực trạng đáng báo
động trong những năm gần đây. Trong báo cáo tổng kết năm 2006 của Tòa án nhân
dân tối cao về vấn đề hôn nhân và gia đình ở nước ta, tình trạng ly hôn có xu hướng
gia tăng từ năm này qua năm khác, đặc biệt là sau khi đất nước đổi mới. Nếu năm
1992, cả nước có 32.000 vụ ly hôn thì con số này tăng dần và đến năm 2006 là
5
69.523 vụ.
Ly hôn, một hiện tượng xã hội phức tạp, nó làm biến đổi hệ giá trị của gia
đình, làm cho xã hội nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết. Ly hôn được nhiều ngành
quan tâm, nghiên cứu, trong đó có ngành Xã hội học. Hiện tượng ly hôn là mặt trái
của hôn nhân một khi quan hệ hôn nhân tan vỡ. Tuy vậy, nó cũng có tính hai mặt:
hoá, đô thị hoá đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ tại đây. Bên cạnh
những thành tựu đạt được từ quá trình này như tăng trưởng kinh tế, các dịch vụ, cơ
sở hạ tầng phát triển, đời sống của người dân tăng lên, thành phố Tây Ninh cũng
đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường, tội phạm
gia tăng, ly hôn, ... Từ thực tế những vấn đề xã hội đang gia tăng tại địa phương, bản
thân học viên muốn tìm hiểu vấn đề ly hôn ở thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
diễn ra theo chiều hướng nào, những nguyên nhân chính nào dẫn đến ly hôn và hậu
quả của ly hôn ra sao. Học viên quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Ly hôn ở đô thị:
thực trạng, nguyên nhân và hậu quả (nghiên cứu trường hợp thành phố Tây Ninh,
tỉnh Tây Ninh) " nhằm tìm hiểu rõ hơn về một khía cạnh xã hội tại địa phương học
viên đang sống.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
“Ly hôn " là một chủ đề không phải là mới mà đã có khá nhiều công trình
nghiên cứu, nhiều bài viết.
Ở phương Tây, với sự phát triển về kinh tế, chính trị và xã hội thì những
nghiên cứu về xã hội cũng rất được chú ý với những hình thức mới xảy ra trong xã
hội. Tỉ lệ ly hôn cao và những hình thức biến tướng của gia đình thu hút nhiều sự
nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội. Ở Mỹ, tính đến năm 2009, có tới 1.980 bài
viết đăng trên tạp chí khoa học xã hội có liên quan đến chủ đề ly hôn [6].
Năm 1977, Robert Chester tập hợp số liệu ly hôn trên 11 nước Châu Âu và
phân tích nguyên nhân dẫn đến ly hôn. Ông nhấn mạnh các lý do dẫn đến ly hôn rất
đặc biệt và không giống nhau ở nước này so với nước khác, nhưng có giá trị chung.
Trong số những yếu tố liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ ly hôn, có những yếu tố rất dễ
7
nhận biết như có thai trước hôn nhân, tuổi kết hôn quá sớm. Có yếu tố khó đo đếm
nhưng có giá trị như: khác tôn giáo, khác nguồn gốc gia đình tác động đến lối sống
khác nhau, chưa tìm hiểu kỹ trước khi kết hôn.
2. Phạm vi thời gian
Hiện tượng ly hôn được quan sát trong khoảng thời gian là 05 năm, từ năm
2011 đến năm 2015.
3. Phạm vi nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân và hậu quả ly hôn
tại thành phố Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh.
4.3. Khách thể nghiên cứu
Các hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh và những đối
tượng (cán bộ tòa án; hang xóm, người thân của người ly hôn; đối tượng đã ly hôn)
tham gia vào cuộc phỏng vấn sâu.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận chung
Trong luận văn này, tôi sử dụng Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa
duy vật lịch sử làm phương pháp luận.
Hiện tượng ly hôn trong gia đình cần phải được xem xét trong mối quan hệ
với các hiện tượng khác như quan hệ tình dục trước hôn nhân, quan hệ tình dục
ngoài hôn nhân; trong mối liên hệ với các nhân tố khác như nhóm xã hội, truyền
thông đại chúng và đồng thời cần phải xem xét từng trường hợp về điều kiện kinh tế,
văn hoá, chính trị xã hội của từng gia đình ở đô thị. Ngoài ra, chúng ta cũng phải
xem xét vấn đề đó trong một quá trình lịch sử cụ thể như tác động của truyền thống
văn hoá.
Việc giải thích các hiện tượng xã hội mang tính khách quan có nghĩa là khi
nghiên cứu hiện tượng ly hôn, chúng ta không nên áp đặt ý chủ quan của mình để kết
luận mà phải nghiên cứu, tìm hiểu bản chất bên trong của hiện tượng này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập và xử lý thông tin sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu.
1
1
1
2
2. Những nguyên nhân nào dẫn đến ly hôn?
3. Ly hôn ảnh hưởng như thế nào đến các thành viên gia đình?
5.4. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Ly hôn có chiều hướng gia tăng theo thời gian và xảy ra nhiều
hơn ở các cặp vợ chồng trẻ từ 25 đến 35 tuổi.
Giả thuyết 2: Khó khăn kinh tế, ngoại tình và bạo lực gia đình là những
nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn.
Giả thuyết 3: Phụ nữ và trẻ em là những người chịu hậu quả nặng nề của ly
hôn.
5.5. Khung phân tích
1
3
Các nguyên nhân của ly hôn xảy ra trong gia đình nảy sinh dưới tác động của
các yếu tố chủ quan và khách quan. Từ đó tạo ra hậu quả sau ly hôn (gồm hậu quả
pháp lý và hậu quả xã hội) và chúng tác động trở lại tới xã hội và đời sống của mỗi
cá nhân trong gia đình.
1
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
cận vĩ mô hoặc tiếp cận vi mô.
Theo cách tiếp cận vĩ mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một thiết
chế xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội, thực hiện những chức năng xã hội nhất
định, trước hết là chức năng tái sinh sản ra con người: “Gia đình là một thiết chế xã
hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi
quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng
về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của
mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con
người”[17, pg. 306].
Theo cách tiếp cận vi mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một nhóm
xã hội với những tiêu chí cụ thể để nhận diện nó (có quan hệ với nhau bởi hôn nhân,
huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân,
cùng chung sống, có ngân sách chung). Nhưng để phù hợp với Việt Nam trong hoàn
cảnh hiện nay thì định nghĩa sau đây thể hiện tất cả những đặc trưng của gia đình
Việt: “Gia đình là một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống
hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng
chung sống, có ngân sách chung”[15, tr. 25-31].
Với những khái niệm trên, ta có thể hình dung được gia đình, nơi mà con
người sinh ra, lớn lên, là nơi bắt đầu hình thành nhân cách sống trong xã hội. Gia
đình là mối liên hệ giữa vợ chồng, con cái. Nó có quy luật phát triển riêng với tư
cách là một thiết chế xã hội đặc thù.
Ở đề tài này, tôi xin được định nghĩa gia đình như sau: Gia đình là một đơn vị
xã hội vi mô, được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và
quan hệ tình cảm) và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ,
con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại hai bên). Các thành viên trong gia đình gắn bó
với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ, được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ
một cách hợp pháp.
1.1.2. Hôn nhân
về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con
nuôi; giữa những người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu,
mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại,
mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người,
bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục
lợi.
1.1.4.
Ly hôn
Nếu như kết hôn là chuyện bình thường, là bước khởi đầu cho việc tạo lập
gia đình, thì ly hôn là sự bất bình thường - là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia
đình. “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật của Toà án " [10, tr. 3].
Trong xã hội truyền thống Việt Nam, kết hôn hay ly hôn phụ thuộc rất nhiều
vào gia đình và những luật lệ của xã hội. Còn trong xã hội hiện nay, mỗi cá nhân có
quyền tự do kết hôn cũng như quyền tự do ly hôn và họ được pháp luật hiện hành
bảo vệ quyền lợi chính đáng. Điều 54, 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
có ghi: Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà án tiến hành hoà giải theo quy định
của pháp luật về tố tụng dân sự. Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn,
nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản,
việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi
chính đáng của vợ và con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thoả
đình truyền thống, tình làng, nghĩa xóm, những hệ luỵ của nó sẽ được xã hội truyền
thống điều tiết. Nhưng ở xã hội đô thị, nơi mà kinh tế chi phối cuộc sống của con
người thì hệ luỵ sau ly hôn về gia đình có thể rất lớn. Trẻ em có lẽ sẽ bị ảnh hưởng
nhiều hơn hẳn người bố hay người mẹ vì gia đình là nơi trẻ em lớn lên, là nơi bắt
đầu hình thành nhân cách sống. Vì vậy, ta cần tìm hiểu những vấn đề sau ly hôn cả
về mặt tích cực cũng như tiêu cực đối với cá nhân và xã hội để thấy rõ được những
hậu quả của ly hôn.
Các nhân tố tác động đến ly hôn: có lẽ ở đô thị mang yếu tố hiện đại nhiều
hơn ở nông thôn. Vì khi sống ở đô thị, quá trình giao lưu văn hoá tất yếu xảy ra,
chúng ta ít nhiều bị ảnh hưởng bởi lối sống phương Tây, làm cho con người cởi mở
hơn với nhau; mối quan hệ giữa các cá nhân bình đẳng hơn; phụ nữ ở đô thị có điều
kiện nâng cao trình độ, độc lập về kinh tế và bình đẳng với chồng nhiều hơn. Trong
khi ở nông thôn, văn hoá truyền thống vẫn được lưu giữ; người chồng vẫn là trụ cột
của gia đình về kinh tế và quyền lực; phụ nữ ở nông thôn chủ yếu ở nhà nội trợ và
chăm sóc con cái.
Như vậy, chính sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị về kinh tế, văn hoá - xã
hội làm cho ly hôn ở đô thị có thể khác hơn nhiều so với ly hôn ở nông thôn. Và việc
đi sâu phân tích thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và các yếu tố tác động đến ly hôn
sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về vấn đề ly hôn hiện nay.
1.2. Lý thuyết áp dụng
1.2.1. Lý thuyết xung đột xã hội
Trong luận văn này, tôi tiếp cận theo lý thuyết xung đột xã hội để giải thích
các nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn ở thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Lý thuyết xung đột xã hội cho rằng xã hội được hình thành bởi các nhóm xã
hội khác nhau. Các nhóm xã hội khác nhau có lợi ích khác nhau và thường xung đột
với nhau bởi vì nguồn lực như của cải và quyền lực là hữu hạn và được phân bổ
không đồng đều. Trong quá trình cạnh tranh, một nhóm chiếm ưu thế và ở vị trí
thống trị. Nhóm ưu thế này sau đó sử dụng quyền lực của mình để kiểm soát các
Xung đột theo mô hình quyền lực: nó gắn liền với các quyền lợi chính trị của
tầng lớp thống trị trong xã hội.
Xung đột mặt lợi ích hay kinh tế: nó gắn liền với quyền lợi hay lợi ích, khả
năng sử dụng những cơ may vật chất, mô hình này liên quan tới toàn thể các thành
viên trong xã hội.
Xung đột về mặt đạo đức, tinh thần: nó liên quan đến cách cư xử giữa con
người với nhau liên quan đến giá trị vật chất và tinh thần, thẩm mỹ và tôn giáo.
Ông đưa ra các cách giải quyết các xung đột như: nếu xung đột về mặt lợi ích
kinh tế, phải lấy lợi ích kinh tế để giải quyết; nếu xung đột về mặt tinh thần và tôn
giáo, phải lấy chính các yếu tố đó để giải quyết. Và phải công khai hoá các xung đột,
mức độ công khai hoá càng lớn thì tỷ lệ giải quyết các xung đột càng nhanh.
Vận dụng lý thuyết xung đột xã hội vào trong hôn nhân gia đình, lý thuyết
này coi gia đình là một xã hội thu nhỏ, mỗi thành viên trong đó theo đuổi những nhu
cầu, giá trị và mục tiêu khác nhau và như thế thì mâu thuẫn, xung đột giữa các thành
viên trong gia đình là không thể tránh khỏi. Theo lý thuyết này, ly hôn là kết quả
cuối cùng của một quan hệ hôn nhân mà ở đó xung đột đã phát triển đến đỉnh điểm
làm cho cuộc hôn nhân tan vỡ và trở nên không thể hàn gắn được. Lý thuyết này
giúp ta nhìn nhận những nguyên nhân tại sao cuộc hôn nhân lại thất bại và dẫn đến
ly hôn.
1.2.2. Lý thuyết hiện đại hoá
Lý thuyết hiện đại hoá mô tả và giải thích quá trình chuyển đổi từ xã hội
truyền thống hoặc kém phát triển trở thành xã hội hiện đại.
Xã hội học đã hình thành ở Châu Âu vào cuối thế kỷ XIX trong các xã hội đã
kinh qua những biến chuyển to lớn do cuộc cách mạng công nghiệp đem lại, do đó
nhiều nhà xã hội học cố gắng mô tả và giải thích sự hình thành các xã hội hiện đại.
Nhà xã hội học Đức Ferdinand Toennies đã mô tả sự hình thành quá trình
hiện đại hoá như là bước quá độ từ xã hội cộng đồng sang một xã hội hiệp hội. Theo
quan điểm của ông, đây là một quá trình có liên hệ đến việc biến mất dần dần các
ngày càng độc lập hơn về kinh tế,. .Chính những yếu tố xã hội này tác động đến đời
sống gia đình, làm cho ly hôn ngày một tăng.
1.3. Một vài đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Thành phố Tây Ninh được thành lập ngày 29 tháng 12 năm 2013, hiện là đô
thị loại III và là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, hành chính của tỉnh Tây Ninh.
Theo số liệu thống kê năm 2015, Thành phố Tây Ninh có diện tích 140,01
km2 (chiếm 3,41% diện tích tự nhiên của tỉnh), dân số 130.899 người (trong đó
67.337 nữ, 63.562 nam), mật độ dân số 934,94 người/km 2. Dân số trung bình thành
thị 113.478 người, dân số trung bình nông thôn 17.421 người [3, tr. 29-33].
Cơ cấu hành chính của thành phố bao gồm 07 phường (1, 2, 3, IV, Hiệp
Ninh, Ninh Sơn, Ninh Thạnh) và 03 xã (Bình Minh, Tân Bình, Thạnh Tân). Thành
phố có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi giao nhau giữa các quốc lộ 22B, đường đi
đến cửa khẩu Mộc Bài và Xa Mát. Theo định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến
năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, thành phố Tây Ninh là đô thị quan trọng nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một cực tăng trưởng chủ đạo trong hệ
thống đô thị Việt Nam với Thành phố Hồ Chí Minh, là đô thị động lực chính. Đô thị
này còn nằm trong vùng đối trọng phát triển kinh tế phía Bắc, định hướng đến năm
2020 sẽ nâng lên đô thị loại II.
Trong 05 năm (từ 2010 đến 2015), kinh tế - xã hội thành phố Tây Ninh có
nhiều thay đổi: Giá trị sản xuất (theo giá so sánh năm 2010) tăng bình quân hàng
năm 9,48%. Nông nghiệp hình thành những vùng chuyên canh rau an toàn, cây ăn
trái, cây công nghiệp có giá trị. Giá trị sản phẩm thu hoạch cây trồng đạt 112,27 triệu
đồng/ha; công nghiệp - xây dựng phát triển ngày càng đa dạng, nhất là công nghiệp
chế biến nông sản, mía, mì, cao su, hạt điều,... Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng
hàng năm, vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách giai đoạn 2010 - 2015 (1,003,112 tỷ
đồng) tăng 138 % so với giai đoạn 2005 - 2010 (420,18 tỷ đồng); các siêu thị được
hình thành cùng với chợ truyền thống góp phần cung ứng đầy đủ hàng hoá cho
người tiêu dùng; phát triển thêm tuyến vận chuyển hành khách liên tỉnh chất lượng