ctxh với người nghiện ma túy có hiv – thực trạng, nguyên nhân và hậu quả - Pdf 24

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: CTXH VỚI MẠI DÂM – MA TÚY – NGƯỜI CÓ HIV
Đề bài: (Đề số 8) CTXH với người nghiện ma túy có HIV – Thực trạng, nguyên
nhân và hậu quả. Kinh nghiệm/ mô hình can thiệp giảm tác hại đối với đối
tượng này. Là những nhân viên CTXH khi làm việc với thân chủ là đối tượng
trên cần có những kiến thức, kĩ năng gì? Áp dụng những phương pháp nào?
Họ và tên : Đinh Công Thưởng
Lớp : K59
Khoa : Công Tác Xã Hội
Giảng viên: Ths. Nguyễn Lê Hoài Anh
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay nền kinh tế xã hội đang từng ngày phát triển mạnh mẽ, thế giới đang
đi lên trong kỷ nguyên của khoa học công nghệ. Nền kinh tế thị trường đã mang lại
cho nhân loại những bước tiến kinh ngạc về tất cả mọi mặt. Tuy nhiên chính sự phát
triển mạnh mẽ đó lại kéo theo nhiều những mặt trái của xã hội, một trong số đó là tệ
nạn xã hội, mà trong đó phải nói đến đại dịch HIV/AIDS. Điều này đã gây ra rất nhiều
khó khăn cản trở quá trình phát triển của các quốc gia trên toàn thế giới.
HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng,
sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn
cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội,
đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Kể từ khi loài người phát hiện trường
hợp nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới, không lâu sau Việt Nam không phải là một
nước ngoại lệ đối với đại dịch này, cho đến nay Việt Nam đã hơn 20 năm đương
đầu và đối phó với một đại dịch HIV/AIDS, theo số liệu thống kê của “Ủy ban
Quốc gia phòng chống HIV/AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy mại dâm” đến
cuối năm 2010 cả nước có 183.938 người nhiễm HIV đang còn sống, trong đó có
44.022 người ở giai đoạn AIDS và kể từ đầu vụ dịch đến nay đã có 49.477 người
tử vong do HIV/AIDS. Qua các số liệu giám sát cho thấy dịch HIV/AIDS đã xuất
hiện ở 100% tỉnh, thành phố từ năm 1998, đến cuối năm 2010, 97,9% số quận,
huyện và trên 75,23%, số xã, phường có người nhiễm HIV/AIDS được báo cáo.
PHẦN II: NỘI DUNG

hiệu chững lại. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong số người trưởng thành là 1,3% trong
năm 2009, và tỷ lệ nhiễm mới đã giảm xuống còn 0,1%. Tại Cam-pu-chia, tỷ lệ
hiện nhiễm ở người trưởng thành giảm xuống còn 0,5% trong năm 2009, giảm từ
1,2% trong năm 2001. Song tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc
gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấp như Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy
là hình thái lây truyền HIV chính) và Philippin. Về hình thái nhiễm mới HIV ở
châu Á, năm 2009 có 360.000 người mới nhiễm HIV, thấp hơn 20% so với
450.000 người năm 2001. Tỷ lệ nhiễm mới giảm hơn 25% tại các nước Ấn Độ,
Nepal và Thái Lan trong các năm từ 2001 đến 2009. Dịch cũng chững lại tại
Malaysia và Sri Lanka trong khoảng thời gian này. Tỷ lệ nhiễm mới tăng 25% ở
Bangladesh và Philippin từ 2001 đến 2009 dù dịch tại các nước này vẫn ở mức
thấp. Hình thái lây truyền HIV tại châu Á vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm người
tiêm chích ma túy, người bán dâm, khách làng chơi, và nam quan hệ tình dục đồng
giới. Các hình thái nhiễm mới có thể rất khác nhau tại những quốc gia rộng lớn
như Ấn Độ. Khoảng 90% số người nhiễm mới HIV tại Ấn Độ được cho là đã lây
nhiễm từ việc quan hệ tình dục không an toàn, song việc thường xuyên có 2 hoặc
hơn 2 người sử dụng chung bơm kim tiêm mới là hình thái lây truyền HIV chính
tại các bang đông bắc của quốc gia này.
II. THỰC TRẠNG HIV/AIDS Ở VIỆT NAM
1. Tổng quan về tình hình HIV/AIDS ở Việt Nam
Dịch HIV/AIDS đã xẩy ra ở phần lớn các khu vực địa lý khác nhau trên
toàn quốc, thời gian xuất hiện và hình thái dịch ở các khu vực địa lý cũng khác
nhau rất lớn. Dịch HIV có thể xẩy ra ở Việt Nam cuối những năm 1980, lây qua
những người nước ngoài đến Thành phố Hồ Chí Minh hoặc đến những tỉnh biên
giới khu vực tây nam, sau đó dịch xảy ra rất nhanh ở các tỉnh khu vực đông nam
bộ, tiếp đến các tỉnh khu vực đông bắc. Trong thập kỷ qua, dịch phát triển nhanh
nhất ở các tỉnh miền núi phía bắc như các tỉnh Thái Nguyên, Điện Biên, Sơn La và
Yên Bái. Trước năm 2000 dịch chủ yếu tập trung ở các khu vực thành thị, nhưng
hiện nay dịch đã xẩy ra hầu hết cả nước, kể cả ở cả các khu vực vùng sâu, vùng xa,
vùng núi, vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên dịch HIV/AIDS vẫn chủ yếu tập trung

tỉnh/thành phố, 97,37% quận/huyện và 67,48% xã/phường, trong đó, các
tỉnh/thành phố có tỷ lệ người nhiễm HIV hiện đang còn sống cao nhất là Thành
phố Hồ Chí Minh có 31.917 người, Hà Nội có 13.447, Hải Phòng 6.161 người,
Sơn La 5.080 người. Hiện nay, diễn biến dịch ngày càng phức tạp hơn, số người
chuyển sang giai đoạn AIDS và sẽ tử vong có xu hướng tăng nhanh. Tỷ lệ
nhiễm trung bình trên toàn quốc là 28,6% với các tỷ lệ khác nhau ở các
tỉnh/thành phố. Một số tỉnh có tỷ lệ nhiễm trung bình cao như Quảng Ninh
54,5%; Thành phố Hồ Chí Minh 47,6%; Hải Phòng 46,25%; Cần Thơ 45,0%;
Thái Nguyên 40,75% và Điện Biên 36,83%
Phần lớn trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam nằm trong độ tuổi trẻ từ 20-
39 tuổi chiếm 83,39%, trong đó số người nhiễm HIV từ 20-29 tuổi chiếm
52,20%; từ 30-39 chiếm 31,19%. Tỷ lệ nhiễm ở độ tuổi từ 40-49 tuổi chiếm
8,05% và trên 50 tuổi chiếm 1,75%. Nhiễm HIV ở lứa tuổi vị thành niên từ 14-
19 tuổi chiếm 4,22%, các trường hợp nhiễm ở trẻ em dưới 13 tuổi chiếm 1,78%.
ở nước ta, HIV chủ yếu qua con đường tiêm chích ma tuý không an toàn. Đầu
những năm 90, có tới 80% người nhiễm HIV là do tiêm chính ma tuý, đến cuối
những năm 90 tỷ lệ này tuy có giảm xuống song vẫn còn khoảng 70%. Đến nay,
số người nhiễm HIV do tiêm chính ma tuý giảm xuống còn 44,35%.
Tuy nhiên theo số liệu thống kê tính đến ngày 30/06/2012 số lượng người
có HIV còn sống trên cả nước là 204.019 người trong đó có đến 58.569 người là
đang trong giai đoạn AIDS chiếm 28,7%.
Tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2012 cả nước ta đã phát hiện số trường
hợp nhiễm HIV mới là 5.927 người, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS
là 2.118 người.
Có sự khác biệt lớn về thời gian xuất hiện dịch HIV tại các địa phương.
Dịch HIV xuất hiện đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi thuộc
vùng Đông Bắc, trong khi các vùng miền khác của đất nước, dịch mới xuất hiện
gần đây. Sự khác biệt này đã đưa đến thực tế là các ca nhiễm HIV tập trung theo
vùng địa lý, tại một số tỉnh và các thành phố lớn, nơi có dịch chủ yếu xảy ra
trong các nhóm tiêm chích ma tuý, mại dâm, tình dục đồng giới. Lây nhiễm có

giảm 01 trường hợp.
• Tại tỉnh Thái Nguyên:
Tính đến ngày 31/10/2012, luỹ tích số người nhiễm HIV được quản lý là
8.657 trường hợp , đã tử vong do AIDS 1.808 trường hợp. Hiện tại còn 6.849
người đang sống chung với HIV ở cộng đồng trong tỉnh, ngoài tỉnh và trong các
cơ sở giáo dưỡng nhân phẩm; trong đó có 3.968 người đã chuyển sang giai đoạn
AIDS. Người nhiễm chủ yếu ở lứa tuổi 20 - 40 (chiếm 83,4%) và nguyên nhân
chủ yếu do tiêm chích ma tuý (chiếm gần 60%). Thái Nguyên hiện là một trong
10 tỉnh, thành phố có số người nhiễm HIV/AIDS đứng đầu của cả nước, tỷ lệ hiện
nhiễm của tỉnh là 565 trường hợp/100.000 dân.
• Tại Tỉnh Quảng Ninh:
Tính đến nay, tỉnh Quảng Ninh có khoảng hơn 3.300 người có HIV, với tỉ
lệ nhiễm thuộc vào các địa phương có tỉ lệ cao nhất cả nước 332/100.000 dân.
Thống kê, tất cả các huyện thị trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đều có người nhiễm
HIV.
• Tại tỉnh Yên Bái:
Với hơn 4.200 trường hợp, Yên Bái là một trong 5 tỉnh có tỷ lệ người
nhiễm HIV/AIDS cao nhất cả nước – khoảng 442/100.000 dân…
Biểu đồ1 . Tỷ lệ % số xã/phường, quận/huyện và tỉnh/ thành phố báo cáo
có người nhiễm HIV.
Như vậy nhìn vào các số liệu thống kê ở trên có thể thấy, số lượng người
có HIV vẫn còn khá cao. Tuy nhiên tỉ lệ nhiễm HIV từ năm 2005 cho đến nay
trên địa bàn toàn quốc có dấu hiệu chững lại – Một tín hiệu đáng mừng cho công
tác phòng chống HIV/AIDS trên cả nước.
Tỉ lệ nhiễm HIV ở các đối tượng là hoàn toàn khác nhau.Thực tế cho thấy
hiện nay số người nhiễm HIV trên toàn quốc có đến khoảng 70% là người
nghiện ma túy. Đây là nguyên nhân, là con đường cơ bản dẫn đến sự lây truyền
HIV thông qua việc sử dụng chung bơm kim tiêm Chính điều này làm cho
công tác phòng chống HIV/AIDS càng trở nên gặp nhiều khó khăn hơn.
ST

túy, HIV/AIDS nói riêng. Theo số liệu điều tra của Bộ Công an, có đên
trên 30% thanh niên nghiện ma túy được hỏi đến nói răng họ không có kiến
thức gì về vấn đề này.Đây là vấn đề rất đáng lo ngại, bởi chính điều này
làm cho các cá nhân dễ bị lôi kéo dụ dỗ bởi các đối tượng xấu ngoài xã hội.
- Không có ý thức trong việc bảo vệ phòng ngừa cho bạn bè người thân, hay
muốn trả thù đời cũng là nguyên nhân gây nên sự gia tăng về tình trạng
nghiện ma túy nhiễm HIV
2. Nguyên nhân từ phía gia đình – nhà trường.
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi của mỗi cá nhân, nhưng khi gia
đình không thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình thì sẽ là rất nguy hiểm
và đây chính là một trong hững nguyên nhân gây nên nhiều số lượng người
nghiện ma túy nhiễm HIV.
- Gia đình bất hòa xảy ra nhiều mâu thuẫn khiến cá nhân cảm thấy chán
trường, muốn tìm đến sự giải tỏa và khi đó nếu không có sự hỗ trợ từ gia
đình họ sẽ rất rễ bị lao vào các tệ nạn xã hội.
- Gia đình quá chú trọng đến làm ăn phát triển kinh tế, mà không quan tâm
chăm lo con cái để mặc cho tự do cũng là một nguyên nhân nữa. Khá
nhiều đối tượng nghiện ma túy, nhiễm HIV là con của các gia đình khá giả
có điều kiện.
- Gia đình không có phương pháp giáo dục con cái hợp lý, khi thì quá cứng
nhắc khuôn mẫu, gò ép không cho con cái có quyền được thể hiên cá nhân
mình, khi thì dễ dãi nuông chiều con cái quá mức.
- Nhiều nhà trường tại các địa phương chưa chú trọng đến giáo dục ý thức
pháp luật, còn buông lỏng trong công tác quản lý học sinh, sinh viên.
- Chưa có biện pháp can thiệp kịp thời khi xảy ra các tệ nạn xã hội trong
trường học.
- Chưa có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ giữa nhà trường, các cơ quan chính
quyền địa phương và gia đình
3. Nguyên nhân từ xã hội.
- Xã hội đi lên phát triển nền kinh tế thị trường nhưng chưa kìm chế những

Hình 3: Một bệnh nhân HIV/AIDS.
- Thứ hai là vấn đề tâm lý, người nghiện ma túy thường đã có những vấn đề
tâm lý bất thường nếu có thêm HIV trong người họ càng gặp nhiều khó
khăn về tâm lý hơn, sự hụt hẫng, đau khổ, suy sụp về tâm lý là điều thường
gặp nhất ở các đối tượng nhiễm HIV. Điều này cũng là một phần kéo theo
sự ảnh hưởng tới sức khỏe.
- Thứ ba là vấn đề đạo đức, nghiện ma túy có HIV làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đạo đức lối sống của mỗi cá nhân, đạo đức suy thoái, không coi
trọng giá trị của chính bản thân mình và cả những người thân trong gia
đình và ngoài xã hội.
- Thứ tư là vấn đề việc làm, do còn nhiều hạn chế trong cách nhìn nhận nên
những người có HIV thường mất hay không có việc làm hoặc việc làm có
thu nhập rất thấp. Điều nay gây ra rất nhiều khó khăn cho kinh tế của mỗi
cá nhân, làm cho họ càng trở nên kiệt quệ hơn
2. Hậu quả cho gia đình.
Mỗi cá nhân đều là một thành viên của môt gia đình, nếu cá nhân bị nhiễm
HIV sẽ chịu hậu quả nghiêm trọng không chỉ ở bản thân mà còn để lại cho gia
đình những hậu quả nặng nề.
- Gây ảnh hưởng thậm chí kiệt quệ nền kinh tế của mỗi gia đình.
- Gây ra sự xáo trộn tình cảm, mất đoàn kết giữa các thành viên trong gia
đình, xung đột dẫn đến bạo lực, bạo hành trong gia đình. Thực tế cho thấy
đã xảy rất nhiều câu chuyện đau lòng, thương tâm: Con trai có HIV bị
nghiện khi lên cơn đã giết cả mẹ đẻ của mình, Chồng đánh đập vợ trẻ giết
con nhỏ chỉ để được thỏa mãn sự lôi kéo của nàng tiên nâu
- Người nghiện có HIV thậm chí còn bị chính gia đình xa lánh, kì thị, phân
biệt. Dòng họ coi đó là nghịch tử, làm ảnh uy danh của dòng tộc Đây là
một trong những vấn đề quan trọng cân có sự hỗ trợ can thiệp của chính
quyền địa phương, cơ quan chức năng và nhân viên CTXH. Bởi những
người nghiện ma túy có HIV rất cần nhận được tình yêu thương sự quan
tâm của gia đình người thân.

với người nghiện có HIV bởi công tác quản lý găp quá nhiều khó khăn.
- Nghiện ma túy có HIV còn gây ra những “thảm cảnh hàng loạt” cho cộng đồng.
Minh chứng cho điều này, Xã Yên Phong huyện Ý Yên tỉnh Nam Định có đến
16 người có HIV trong đó 3 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và hơn 30
người nghiện ma túy.
- Nghiện ma túy, HIV còn mang đến những hậu quả nặng nề trong trường học.
Hiện nay theo điều tra đã có rất nhiều trường Cao đẳng, đại học, trường THPT
có học sinh sinh viên mắc nghiện và nhiêm HIV. Tỷ lệ này có thể kể đến một số
địa phương như: Thái Nguyên. Quảng Ninh, Điện Biên, Nghệ An, TP. Hồ Chí
Minh… Điều này gây nên những hậu quả hết sức nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn
đến chất lượng giáo dục của quốc gia…
- Gây ra sự mất ổn định an ninh trật tự xã hội, mang nhiều mối nguy hại cho cộng
đồng… Chính ma túy, HIV/AIDS gây nên sự kỳ thị, hắt hủi xa lánh trong cộng
đồng, bởi trình độ nhận thức về vấn đề này chưa thực sự sâu sắc.
- Tạo nên hệ lụy xấu cho nền văn hóa nước nhà. ảnh hưởng nghiêm trọng nền
chính trị quốc gia.
V. NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN THỰC HIỆN TRONG CÔNG TÁC
PHÒNG CHỐNG MA TÚY, HIV/AIDS.
Trong quá trình nghiên cứu, xin được đưa ra những giải pháp để góp phần nâng
cao hiệu quả trong công tác phòng chống ma túy, HIV/AIDS.
A. CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Chính quyền các cấp đối với công tác
phòng, chống HIV/AIDS
1.1. Tăng cường sự Lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống HIV/AIDS
- Tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của các cấp uỷ Đảng trong lãnh đạo,
chỉ đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS. Các cấp uỷ Đảng thường xuyên theo
dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo đưa công tác phòng, chống HIV/AIDS trở thành
mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế -xã hội.
- Đánh giá 10 năm thực hiện Chỉ thị 54 của Ban Bí thư, Kết luận 27 của Ban
Bí thư và xây dựng, trình Nghị quyết của Bộ Chính trị về tăng cường lãnh đạo

hoá trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
1.3. Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của Chính quyền các cấp trong tổ
chức thực hiện công tác phòng, chống HIV/AIDS
- Chính phủ tăng cường chỉ đạo và coi công tác phòng, chống HIV/AIDS là
một trong các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; tăng cường chỉ đạo
các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp tích
cực triển khai các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS; tổ chức các cuộc họp định
kỳ nghe báo cáo về HIV/AIDS để có sự chỉ đạo kịp thời.
- Tăng cường sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác
phòng, chống HIV/AIDS, coi công tác phòng, chống HIV/AIDS là một trong các
nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Lồng ghép các hoạt động
phòng, chống HIV/AIDS vào các chương trình xoá đói, giảm nghèo; ưu tiên cho
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
- Uỷ ban nhân dân các cấp bảo đảm đầu tư thích hợp về kinh phí, nhân lực,
vật lực và tăng cường về tổ chức bộ máy cho công tác phòng, chống HIV/AIDS.
- Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi chặt chẽ và có kế hoạch đẩy mạnh các biện
pháp phòng, chống HIV/AIDS trong đó chú ý đẩy mạnh áp dụng các biện pháp, kỹ
thuật mới của thế giới vào công tác phòng, chống HIV/AIDS được đưa vào áp
dụng Việt Nam.
2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách trong phòng, chống HIV/AIDS
2.1 Tăng cường hệ thống pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS.
- Sơ kết thực hiện 5 năm Luật phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng
suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (Luật phòng, chống HIV/AIDS), sửa đổi, bổ
sung các quy định cho phù hợp với điều kiện thực tiễn và đảm bảo tính đồng bộ
trong các quy định của luật pháp và tính phù hợp với các quy định quốc tế.
- Sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với quy định Luật
phòng, chống HIV/AIDS. Thường xuyên tiến hành rà soát, hệ thống hoá để kịp
thời sửa đổi hoặc bãi bỏ những quy định, văn bản pháp luật không còn phù hợp; bổ
sung hoặc ban hành văn bản dưới luật và văn bản hướng dẫn chuyên môn mới để
quy định những vấn đề về HIV/AIDS còn thiếu hoặc không còn phù hợp chưa

- Xây dựng chính sách, cơ chế phù hợp huy động sự tham của người nhiễm
HIV, người dễ bị cảm nhiễm HIV, gia đình người nhiễm HIV tham gia hoạt động
phòng, chống HIV/AIDS.
- Xây dựng các chính sách phù hợp huy động các cơ sở y tế tư nhân đủ điều
kiện tham gia điều trị bệnh nhân AIDS.
3. Phối hợp liên ngành trong phòng, chống HIV/AIDS
- Tiếp tục xây dựng và tăng cường tổ chức thực hiện chương trình phòng,
chống HIV/AIDS mang tính liên ngành, toàn diện, đặc biệt chú trọng việc lồng
ghép có hiệu quả với các chương trình phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm để
ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS; huy động mọi tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt
động phòng, chống HIV/AIDS. Tăng cường sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ
đối với các hoạt động liên ngành trong công tác phòng, chống HIV/AIDS.
- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các Bộ, ngành, trong
công tác phòng, chống HIV/AIDS. Các Bộ, ngành chủ động đưa công tác phòng,
chống HIV/AIDS vào kế hoạch hoạt động hàng năm và chịu trách nhiệm trước
Chính phủ về việc tổ chức thực hiện.
- Tăng cường vận động toàn dân tham gia công tác phòng, chống
HIV/AIDS, lồng ghép các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vào trong các phong
trào vận động quần chúng. Phát huy vai trò, tính chủ động của các tổ chức đoàn thể
trong việc vận động người dân tích cực tham gia phòng, chống HIV/AIDS nhất là
trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân. Thực hiện lồng ghép công tác
phòng, chống HIV/AIDS vào trong các phong trào, các cuộc vận động thi đua yêu
nước. Phát huy vai trò của những người tiêu biểu, các già làng, trưởng bản, trưởng
thôn, tổ trưởng dân phố, trưởng các dòng họ, trưởng tộc, các chức sắc, tôn giáo,
người cao tuổi làm nòng cốt cho việc vận động người dân tham gia phòng, chống
HIV/AIDS.
- Xã hội hoá cao công tác phòng, chống HIV/AIDS, có các quy định cụ thể
về công tác xã hội hoá nhằm mục đích huy động nhiều hơn nữa sự tham gia của tất
cả các tổ chức đoàn thể, cộng đồng và cá nhân trong công cuộc phòng, chống
HIV/AIDS.

- Khuyến khích các tổ chức tư nhân, các doanh nghiệp, các hiệp hội nghề
nghiệp tham gia tích cực vào các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS. Xây dựng,
ban hành các chính sách, quy định cụ thể về triển khai các hoạt động phòng, chống
AIDS tại nơi làm việc. Vận động, đề xuất các hình thức thích hợp về đóng góp các
nguồn lực của tổ chức doanh nghiệp đồng thời nghiên cứu xây dựng, tiến tới luật
hoá các chế tài xử lý hành chính đối với doanh nghiệp hay tổ chức không thực hiện
nhiệm vụ phòng, chống HIV/AIDS bảo vệ sức khoẻ cho người lao động.
- Khuyến khích các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế tổ chức đào tạo và nhận
người nhiễm HIV, những người dễ bị cảm nhiễm HIV và những người bị ảnh
hưởng do HIV/AIDS được làm việc.
- Tăng cường các biện pháp thúc đẩy các doanh nghiệp triển khai các hoạt
động cung cấp thông tin phòng, chống HIV/AIDS cho cán bộ, công nhân của đơn
vị. Lồng ghép việc tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS vào chương trình vui
chơi, giải trí lành mạnh tại doanh nghiệp.
- Lồng ghép hoạt động phòng, chống HIV/AIDS với các hoạt động y tế tại
doanh nghiệp, tổ chức hoạt động tư vấn về HIV/AIDS, khám sức khoẻ định kỳ,
khám, chữa các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cho người lao động,
đặc biệt là lao động nữ. Xây dựng cơ chể chuyển tiếp giữa y tế doanh nghiệp và
các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương.
- Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân gắn
hoạt động quảng cáo sản phẩm với các thông điệp về dự phòng và chăm sóc người
nhiễm HIV/AIDS.
7. Phát huy tiềm năng của từng cá nhân và gia đình trong phòng, chống
HIV/AIDS
- Nâng cao trách nhiệm của các thành viên trong gia đình về hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS thông qua việc tuyên truyền giáo dục, tư vấn. Giáo dục, phát huy
việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức gia đình, phong tục, tập quán tốt đẹp, duy trì
nếp sống văn hoá lành mạnh, nâng cao trách nhiệm của từng cá nhân và gia đình để
phòng lây nhiễm HIV/AIDS.
- Giáo dục, bảo đảm quyền bình đẳng của người nhiễm HIV/AIDS cũng như

- Ổn định và kiện toàn bộ máy phòng, chống HIV/AIDS của các bộ ban
ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương.
- Duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên, tuyên
truyền viên đồng đẳng trong việc tuyên truyền vận động, quản lý đối tượng và
cung cấp các dịch vụ thích hợp đến tất cả các đối tượng.
- Duy trì, mở rộng và phát huy hiệu quả hoạt động phòng, chống HIV/AIDS
của mạng lưới tổ chức phi chính phủ, các nhóm tự lực, nhóm đại diện cho người
nhiễm HIV, các nhóm đại diện cho người dễ bị cảm nhiễm HIV.
9.2 Nâng cao năng lực cho cán bộ phòng, chống HIV/AIDS trong hệ thống y tế,
các bộ ban ngành đoàn thể và các tổ chức xã hội hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS.

- Có các chính sách nhằm huy động nhân lực tham gia các hoạt động phòng,
chống HIV/AIDS. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có đầy đủ hiểu biết,
kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn để quản lý, giám sát, triển khai có hiệu quả
công tác phòng, chống HIV/AIDS.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống HIV/AIDS trong hệ
thống y tế, các cán bộ chuyên trách của các bộ, ban, ngành đoàn thể đủ kiến thức
và năng lực đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống HIV/AIDS. Tập trung ưu tiên
đào tạo cho cán bộ tuyến cơ sở, đào tạo cho các nhóm tự lực, mạng lưới người
nhiễm để họ có thể đóng góp hiệu quả cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
- Tuyển chọn, đào tạo đội ngũ chuyên gia và đội ngũ giáo viên giáo dục
phòng, chống HIV/AIDS trong các nhà trường.
- Tuyển chọn, đào tạo mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên, tuyên
truyền viên đồng đẳng bao gồm cả những người nhiễm HIV/AIDS và bị ảnh hưởng
bởi HIV/AIDS.
- Huy động việc sử dụng các cơ sở đào tạo hiện có của các ngành, nhất là hệ
thống trường Y, huy động đội ngũ giảng viên của các trường đại học, cán bộ thuộc
các ngành, đoàn thể có kinh nghiệm thực tiễn tham gia giảng dạy, đào tạo về
HIV/AIDS.

bảo đảm kế hoạch được thực hiện có hiệu quả.
- Ngoài ngân sách của Trung ương cấp, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách
nhiệm chủ động bố trí ngân sách đầu tư cho chương trình phòng, chống
HIV/AIDS. Công khai hoá việc đầu tư cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS
tại mỗi địa phương.
B. CÁC GIẢI PHÁP CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT
1. Công tác dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS
1.1 Tăng cường các biện pháp thông tin, giáo dục, truyền thông phòng, chống
HIV/AIDS trong dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS
- Tăng cường công tác thông tin giáo dục truyền thông nâng cao kiến thức
phòng, chống HIV/AIDS trong cộng động dân cư nói chung, đặc biệt tăng cường
hoạt động truyền thông thay đổi hành vi cho các nhóm người dễ bị cảm nhiễm
HIV, những người dễ bị tổn thương và thanh thiếu niên.
- Tận dụng và phối hợp các kênh truyền thông, các loại hình truyền thông để
chuyển tải các kiến thức về phòng, chống HIV/AIDS cho mọi người, đặc biệt là
cho những người thuộc các nhóm đối tượng ưu tiên;
- Đa dạng hoá và làm phong phú các hình thức truyền thông, như: thành lập
các câu lạc bộ; tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan văn hoá văn nghệ, biểu diễn
các tiểu phẩm, các tác phẩm văn học nghệ thuật, các ca khúc; xây dựng các chuyên
trang, chuyên mục; tổ chức các cuộc toạ đàm về phòng, chống HIV/AIDS
v.v trong các cơ quan, đơn vị, cộng đồng, trường học và trên các phương tiện
thông tin đại chúng;
- Xây dựng, củng cố và phát triển đội ngũ tuyên truyền viên phòng chống
HIV/AIDS dựa trên đội ngũ y tế thôn bản, cộng tác viên dân số và các cán bộ, các
vị chức sắc ở cơ sở.
- Triển khai và nâng cao chất lượng hiệu quả chương trình đào tạo về dự
phòng lây nhiễm HIV trong các nhà trường.
- Sử dụng các hình thức tiếp cận phù hợp với từng đối tượng cụ thể, chú
trọng truyền thông trực tiếp, truyền thông theo nhóm nhỏ, giáo dục đồng đẳng;
- Xây dựng và mở rộng các mô hình truyền thông có hiệu quả phù hợp với

Trích đoạn KINH NGHIÊM/ MÔ HÌNH CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status