VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH SƠN
HỖ TRỢ VIỆC LÀM
ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHIỆN MA TÚY SAU CAI NGHIỆN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
HÀ NỘI - năm
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH SƠN
HỖ TRỢ VIỆC LÀM
ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHIỆN MA TÚY SAU CAI NGHIỆN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
2.1. Thực trạng người nghiện ma túy sau cai nghiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ...25
2.2. Thực trạng công tác xã hội đối với hỗ trợ việc làm cho người nghiện ma túy sau
cai nghiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc .....................................................................35
Chƣơng 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỖ TRỢ VIỆC
LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHIỆN MA TÚY SAU CAI NGHIỆN NHÌN
TỪGÓC ĐỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI .......................................................................58
3.1. Biện pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ việc làm đối với người nghiện ma túy sau
cai nghiện nhìn từ góc độ công tác xã hội .................................................................58
3.2. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hỗ trợ việc làm đối với người nghiện ma
túy sau cai nghiện ......................................................................................................61
KẾT LUẬN………………………………………………………………….. ........68
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................71
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tên đầy đủ
NSCNMT
Người sau cai nghiện ma túy
PVS
Phỏng vấn sâu
THNCĐ
Tái hòa nhập cộng đồng
Biểu đồ 2.9: Hình thức hợp đồng lao động trước cai và sau THNCĐ (người) .........38
Biểu đồ 2.10: Mức độ hài lòng với nghề nghiệp và việc làm hiện tại (người) .........41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam tệ nạn ma túy gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước, với trên
204.377 người nghiện ma túy và số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng
gần 4 lần trong 20 năm qua, kể từ năm 1994 (55.445 người) [35, tr.6]. Hơn thế nữa,
tệ nạn ma túy đã làm cho Nhà nước ta hàng năm phải dành một khoản ngân sách
khổng lồ cho công tác phòng chống ma túy như: chi phí cho công tác tuyên truyền,
giáo dục, vận động; hoạt động kiểm soát ma túy; hoạt động hợp tác quốc tế; công
tác tổ chức cai nghiện và chi phí giam giữ, cải tạo. Những con số đó có thể thấy
rằng, tệ nạn ma túy chính là một mối hiểm họa lớn đối với toàn nhân loại. Mỗi quốc
gia trên thế giới, không có một quốc gia nào không phải gánh chịu những hậu quả
nghiêm trọng của tệ nạn này, nó trở nên nhức nhối hơn khi tệ nạn này đang ngày
càng gia tăng không ngừng về số lượng, diễn biến ngày càng phức tạp hơn và
những kẻ bất lương có những hành vi ngày càng xảo quyệt nhằm duy trì tệ nạn này
trong xã hội.
Sử dụng ma túy không chỉ làm tăng tỷ lệ chết trẻ và mất chức năng xã hội mà nó
còn ảnh hưởng đến chính bản thân người nghiện ma túy, nó làm xói mòn đạo đức con
người…nguy cơ gia tăng phạm tội: giết người, cướp của, trộm cắp, vắt kiệt nguồn nhân
lực, tài chính, hủy hoại con người. Nghiêm trọng hơn cả, ma túy chính là nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến nguy cơ lây nhiễm căn bệnh thế kỉ HIV/AIDS [35, tr.2].
Trước tình hình ngày càng phức tạp của tệ nạn ma túy hiện nay, Nhà nước ta
đã ban hành nhiều chủ trương và cùng những biện pháp quyết liệt nhằm chống lại
vấn đề tội phạm ma túy, cùng với đó là có những biện pháp điều trị nghiện, giúp đỡ
những người lâm vào con đường nghiện ngập có thể thoát khỏi được ma túy và
phục hồi sức khỏe. Một trong những chủ trương hàng đầu hiện nay của Nhà nước là
tạo công ăn việc làm cho người sau khi cai nghiện, tạo cho họ có một sự tin
đang là một nội dung vô cùng quan trọng và bức thiết trong xã hội hiện nay. Cũng
chính điều này đã đặt ra một yêu cầu cho Nhà nước ta, phải nhanh chóng đề ra
những biện pháp mang tính hệ thống hơn, nhằm giảm thiểu tối đa sự gia tăng của tệ
nạn xã hội và giúp người nghiện ma túy sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, có một
cuộc sống ổn định và trở thành người có ích cho xã hội.
Vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Hỗ trợ việc làm đối với người nghiện
ma túy sau cai nghiện từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu cho
2
luận văn của mình với mong muốn đóng góp nghiên cứu của mình để vận dụng vào
công tác hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy có việc làm ổn định, tái hoà nhập cộng
đồng, giảm tái nghiện, tăng sức sản xuất và góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở tiếp cận chuyên ngành khác nhau, một số nghiên cứu gần đây đã đi
sâu khảo cứu về việc làm củangười sau cai nghiện ma túy trong thời gian qua, có
thể kể đến một số công trình nghiên cứu đã công bố như:
Đề tài cấp Bộ“Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy sau khi
được chữa trị phục hồi” do Nguyễn Văn Minh (2002) làm chủ nhiệm. Đề tài tập
trung nghiên cứu thực trạng việc làm, đời sống người nghiện ma túy. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều khả năng tái nghiện của người nghiện ma túy sau cai là
do không có việc làm, mặc dù nghị lực của đối tượng là yếu tố quyết định, sự quan
tâm của gia đình là yếu tố quan trọng giúp đối tượng từ bỏ tệ nạn xã hội. Do vậy,
các đề xuất của tác giả hướng tới hoàn thiện hệ thống các giải pháp tạo việc làm cho
đối tượng nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, giảm tỷ lệ tái phạm, tái nghiện [16].
Viện nghiên cứu xã hội thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) (2004 - 2005) thực
hiện đề tài “Những giải pháp chủ yếu quản lý, dạy nghề cho người sau cai nghiện
ma túy trong chương trình ba năm ở các trường, trung tâm tại Thành phố Hồ Chí
Minh”. Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp thực tiễn để đáp ứng nhiệm
vụ quản lý và dạy nghề cho người sau cai nghiện ma túy thuộc Đề án “Tổ chức
cai nghiện ma túy sẽ góp phần giải quyết tốt vấn đề việc làm cho những người
nghiện ma túy khi tái hòa nhập cộng đồng [13].
Lê Hồng Minh (2010), với đề tài “Tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho thanh
niên sau cai nghiện ở thành phố Hồ Chí Minh” đã đề cập khá cụ thể các loại hình tổ
chức, quản lý giáo dục người nghiện ma túy và sau cai nghiện trên địa bàn TP
HCM; các nội dung, phương pháp để hoàn thiện tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho
thanh niên sau cai nghiện tại cộng đồng. Về thực tiễn, luận án đã hệ thống hoá được
các loại hình tổ chức, quản lý giáo dục người nghiện ma túy và sau cai nghiện trên
địa bàn TP HCM; đánh giá được thực trạng về cách tổ chức các hoạt động quản lý,
giáo dục thanh niên sau cai (TNSCN) ở TP HCM và chỉ ra những mặt hạn chế để
tìm giải pháp khắc phục, hoàn thiện tổ chức tư vấn hướng nghiệp (TVHN) cho
thanh niên sau cai nghiện tại cộng đồng. Đã đề xuất được cơ cấu tổ chức và cơ chế
4
hoạt động của Văn phòng tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN làm cơ quan đầu mối
cho hoạt động TVHN cho TNSCN ở cộng đồng; đề xuất đổi mới mô hình tổ chức
và phương thức hoạt động của Đội tình nguyện; xây dựng nội dung chương trình
giáo dục chuyển biến nhận thức và hành vi TNSCN ở cộng đồng [15].
Từ cách tiếp cận tâm lý học, tác giả Hoàng Thị Hương (2013) trong “Nhu cầu
về việc làm của người sau cai nghiện ma túy”đã nhận định rằng, sau khi được cai
nghiện và trở về tái hòa nhập cộng đồng, đa số người nghiện ma túy đều có nhu cầu
việc làm. Tuy nhiên, chất lượng việc làm của người sau cai nghiện ma túy chưa tốt
là do chưa thực sự đáp ứng, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của họ. Nếu được
giúp đỡ, hỗ trợ đúng nhu cầu về việc làm của người sau cai nghiện ma túy thì công
việc của họ sẽ thuận lợi hơn [10].
Tóm lại, nhiều nhà khoa học với nhiều hướng tiếp cận khác nhau đã nghiên cứu
việc làm, đặc biệt là việc làm cho người sau cai nghiện ma túy. Riêng vấn đề việc
làm, đã được nhiều nhà khoa học tiếp cận trên các khía cạnh như tâm lý học, giáo dục
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhằm hỗ trợviệc làm cho người sau cai nghiện từ thực tiễn
Trung tâm Giáo dục Lao động Xã Hội Vĩnh Phúc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Từ tháng 12/2015 đến 06/2016.
Phạm vi không gian: Khảo sát, tìm hiểu trong phạm vi Trung tâm Giáo dục
Lao động Xã Hội Vĩnh Phúc.
Phạm vi nội dung: Trong luận văn này, tôi tập trung vào việc xây dựng cơ sở
lý luận nghiên cứu công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người nghiện ma túy
sau cai và phân tích thực trạng về vấn đề này.
Phạm vi khách thể nghiên cứu: 200 đối tượng NSCNMT.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Dựa trên quan điểm của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nhìn
nhận, đánh giá hoạt động dịch vụ công tác xã hội đối với công tác hỗ trợ việc làm cho
NSCNMT phải xuất phát từ thực tiễn và đặt hoạt động dịch vụ công tác xã hội đối với
NSCNMT trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khách quan và chủ quan.
6
- Thuyết nhu cầu: Tiếp cận theo nhu cầu của NSCNMT là cách tiếp cận dựa
trên việc đáp ứng tốt nhất các dịch vụ công tác xã hội đối với các nhu cầu của
NSCNMT. Đây là những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển củaNSCNMT. Vận
dụng thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm hiểu các nhu
cầu của NSCNMTtại Trung tâm Giáo dục Giáo dục lao động tỉnh Vĩnh Phúc và
xem xét việc bảo đảm các nhu cầu đó như thế nào qua việc cung cấp dịch vụ công
tác xã đối với nhóm đối tượng này tốt hay chưa, vì sao.
- Thuyết vai trò: Đối với cán bộ, NVCTXH cung cấp dịch vụ CTXH cho
của họ với mục đích tìm hiểu sâu hơn thực trạng hoàn cảnh cử đối tượng này tại đơn
vị nghiên cứu.
5.2.5. Phương pháp tổng hợp điển hình
Phân tích tổng hợp là hai mặt của một quá trình, chúng không thể tách rời
nhau mà hợp lại để bổ trợ cho nhau. Phân tích là giai đoạn cần thiết của bất kì một
quá trình nghiên cứu nào. Tổng hợp là việc xác định những thuộc tính, những mối
liên hệ chung, cũng như những quy luật tác động qua lại giữa các yếu tố liên quan
về công tác xã hội đối với hỗ trợ việc làm cho NSCNMT trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc. Tổng hợp có được nhờ những kết quả phân tích, sau đó kết hợp chúng lại với
nhau thành một thể hoàn chỉnh, thống nhất. Áp dụng phương pháp phân tích tổng
hợp trong luận văn để xem xét có các nghiên cứu nào công tác xã hội đối với hỗ trợ
việc làm cho NSCNMT đã được nghiên cứu, các nghiên cứu đó đã được thực hiện
như thế nào, kết quả của các nghiên cứu là gì? v.v... phân tích tổng hợp để phát hiện
những “khoảng trống” trong các nghiên cứu trước, làm cơ sở cho việc thực hiện các
nội dung của đề tài. Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng của các phương pháp
nghiên cứu trong khoa học KT -XH, luận văn phân tích làm rõ thực trạng công tác
xã hội đối với hỗ trợ việc làm cho NSCNMT.
5.2.6. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích và xử lý dữ liệu có được
qua các kết quả nghiên cứu, các kết quả phỏng vấn và số liệu thu thập được trong
quá trình nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Về mặt lý luận
Nghiên cứu sẽ xác định khung lý thuyết đã xây dựng được hệ thống khái niệm
công cụ về hỗ trợ việc làm đối với người cai nghiện ma túy, các nhiệm vụ của công
8
tác xã hội đối với người nghiện ma túy, các yếu tố tác động đến công tác xã hội đối
với hỗ trợ việc làm cho người nghiện ma túy sau cai nghiện. Cơ sở lý luận này góp
1.1. Một số khái niệm công cụ nghiên cứu của đề tài
1.1.1. Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội (CTXH) là một nghề chuyên môn, được ra đời vào khoảng thế
kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới [13, tr.14]. Từ đó, nó đã đóng góp đáng kể vào
thành tựu lĩnh vực an sinh xã hội của các nước này trong giải quyết các vấn đề xã
hội, tạo ra sự an sinh cho người dân, đặc biệt là những cá nhân yếu thế như trẻ mồ
côi, người tàn tật, trẻ đường phố, trẻ bị lạm dụng
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH: Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp
giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm
năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội
phù hợp với các mục tiêu của họ. CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội
mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội
giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống [13, tr.14].
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế tại Hội nghị Quốc tế Montreal,
Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến
trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải
phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ
chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH
can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ [13, tr.15].
Như vậy trên cơ sở những khái niệm nêu dẫn ở trên, chúng tôi xác địnhkhái
niệm CTXH làmột môn khoa học, nghề, hoạt đồng chuyên nghiệp nhằm trợ giúp cá
nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường
chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và
dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các
vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
10
1.1.2. Khái niệm Ma tuý
Như vậy, nghiện ma tuý là một rối loạn mãn tính, tái diễn, được biểu hiện
bằng hành vi bắt buộc phải tìm kiếm và sử dụng ma túy bất chấp những hậu quả bất
lợi của việc sử dụng.
Vì sự lệ thuộc buộc phải sử dụng thuốc, người mắc nghiện ma túy được xem
như mắc một bệnh mãn tính, khó chữa và việc điều trị cần phải được tiến hành liên
tục, lâu dài và giữ cho người bệnh không sử dụng ma túy càng lâu càng tốt (chống
tái nghiện), giúp họ tái hòa nhập gia đình và xã hội trong một tình trạng hoàn toàn
thoải mái về thể chất và tâm thần, giảm thiểu những tác hại cho bản thân, gia đình
và xã hội.
1.1.4. Khái niệm người nghiện ma túy
Theo quy định tại Khoản 11, Điều 2, Luật phòng, chống ma túy quy định
“Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc
hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này” [20, tr.2].
Khái niệm “Người nghiện ma túy” nêu trên là khái niệm công cụ chúng tôi sẽ
sử dụng để nghiên cứu đề tài luận văn này.
1.1.5. Khái niệm người sau cai nghiện ma túy
Người sau cai nghiện ma túy là người nghiện ma túy đã thực hiện xong quy trình
cai nghiện ma túy theo quy định tại các cơ sở cai nghiện ma túy để tái hòa nhập
cộng đồng và làm việc [1].
Điều trị nghiện ma túy bao gồm các hình thức điều trị cắt cơn kết hợp với dự
phòng tái nghiện và điều trị thay thế [14, tr.3]. Trong đó:
Điều trị cắt cơn là sử dụng các thuốc đặc hiệu hoặc thuốc điều trị làm giảm
triệu chứng, có hoặc không kết hợp với các liệu pháp tâm lý để giúp người nghiện
vượt qua hội chứng cai dễ dàng hơn. Gồm có cắt cơn có dùng thuốc và cắt cơn
không dùng thuốc, chỉ hỗ trợ tâm lý xã hội [14, tr.3].
Điều trị thay thế giảm hại bằng Methadonehay Buprenorphin là một biện pháp
điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới
dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm
người trung gian kết nối người sau cai nghiện với các nguồn lực cần thiết. Nguồn
lực này có thể là cá nhân, tổ chức, ban, ngành đòn thể có liên quan đến vấn đề cần
giải quyết; hoặc có thể là các dịch vụ sẵn có trong cộng đồng. Trước hết đó là vai
trò của nhân viên công tác xã hội trong việc kết nối nguồn lực kết nối người sau cai
nghiện với các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhận người sau cai nghiện vào làm
13
việc. Ở đây nhân viên công tác xã hội có nghiệm vụ tìm hiểu về các cơ sở sản xuất,
doanh nghiệp có công việc phù hợp với trình độ, sức khỏe của người sau cai và sau
đó giới thiệu cho người sau cai nghiện ma túy để họ có thể tìm được cho mình một
công việc.
* Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ tham vấn tư vấn để người nghiện tái hòa
nhập cộng đồng.
Vai trò tham vấn của nhân viên công tác xã hội được thể hiện qua việc tham
vấn cho thân chủ chưa có kỹ năng nghề những đặc điểm cơ bản của các lĩnh vực
nghề nghiệp khác nhau để từ đó họ có thể lựa chọn học một nghề phù hợp để có
thêm kiến thức, kỹ năng khi đi xin việc. Họ sẽ cảm thấy tự tin hơn khi là một người
lao động có tay nghề.
Không chỉ tham vấn cho người sau cai nghiện mà nhân viên công tác xã hội
cũng cần phải tiến hành tham vấn cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhận người
sau cai nghiện vào làm việc về kỹ năng ứng xử, giao tiếp, động viên, khuyến khích
để người sau cai nghiện khi làm việc tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất không cảm
thấy bị kỳ thị, phan biệt đối xử, giúp họ có thêm niềm tin và động lực phấn đấu
trong công việc khi được quan tâm, khích lệ đúng lúc.
* Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ nâng cao kỹ năng tay nghề để dễ kiếm việc
làm ổn định cuộc sống tránh tái nghiện.
Một trong những mục tiêu giáo dục của nhân viên công tác xã hội là hỗ trợ
giúp cho người sau cai có thêm kiến thức, kỹ năng và hình thành những thái đội và
hành vi mới để họ có thể tự tin hơn trong cuộc sống. Chúng ta đều biết rằng người
các tổ chức xã hội và cá nhân trong việc xóa bỏ thái độ, hành vi định kiến, kỳ thị
đối với NSCNMT và quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ họ THNCĐ, chống tái nghiện;
tuyên truyền những mô hình, cách làm sáng tạo, có hiệu quả thiết thực giúp đỡ họ
ổn định cuộc sống.
1.2.1. Hình thức hỗ trợ việc làm cho ngƣời nghiện ma túy sau cai nghiện
* Hình thức hỗ trợ gián tiếp
Hỗ trợ gián tiếp nhằm nâng cao năng lực của ngườinghiện ma túy sau cai
nghiện trong giải quyết vấn đề, đương đầu và hành động có hiệu quả. Để hoàn thành
mục tiêu này, nhân viên CTXH đánh giá những cản trở đối với khả năng thực hiện
15
chức năng của thân chủ. Nhân viên CTXH cũng xác định các nguồn lực và những
thế mạnh, nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống, phát triển các kế
hoạch để giải quyết và ủng hộ các nỗ lực của thân chủ để tạo ra những thay đổi
trong cuộc sống và hoàn cảnh của họ. Nối kết thân chủ và các nguồn lực cần thiết.
Giúp đỡ thân chủ sử dụng các nguồn lực mà họ cần thiết để thay đổi có hiệu quả
tình trạng của họ. Nhân viên CTXH ủng hộ các chính sách và dịch vụ cung cấp
phúc lợi tốt nhất, nâng cao giao tiếp giữa các nhà chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ,
xác định những lỗ hổng, những trở ngại trong các dịch vụ xã hội cần giải quyết. Hỗ
trợ trong CTXH thúc đẩy chất lượng mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội. Mục tiêu
này có nghĩa là nhân viên CTXH cần đảm bảo rằng hệ thống cung cấp các dịch vụ
xã hội mang tính nhân đạo và cung cấp các nguồn lực và dịch vụ cho con người. Để
hoàn thành mục tiêu này, nhân viên CTXH tham gia và ủng hộ các kế hoạch tập
trung vào thân chủ, có hiệu lực và hiệu quả, kết hợp với các biện pháp trách nhiệm
giải trình. Hỗ trợ trong CTXH thúc đẩy sự công bằng xã hội thông qua phát triển
chính sách xã hội. Đối với việc phát triển chính sách xã hội, nhân viên CTXH
nghiên cứu các vấn đề xã hội để thực hiện chính sách. Nhân viên CTXH đưa ra
những đề xuất những chính sách mới và biện hộ để dừng áp dụng thực hiện các
chính sách không hữu ích. Ngoài ra, nhân viên CTXH cụ thể hóa các chính sách
[31, tr.8].
Công tác tái hòa nhập cộng đồng cho người người nghiện sau cai còn được
gắn với việc tham gia vào các hoạt động của các Câu lạc bộ và các tổ tự quản. Đã
có nhiều địa phương duy trì hoặc thành lập mới các Câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng để
trợ giúp, hỗ trợ người nghiện sau cai, người phụ nữ bán dâm hoàn lương, kết hợp
với cho vay tín dụng và trợ cấp khó khăn. Đã có 4.774 người nghiện sau cai trở về
tái hòa nhập cộng đồng được vay vốn để tạo việc làm và ổn định cuộc sống.
Căn cứ vào kết quả triển khai công tác phòng chống ma túy. Thủ tướng chính
phủ đã ban hành Quyết định số 1001/QĐ-TTg về “phê duyệt Chiến lược Quốc gia
phòng, chống và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến
năm 2030” [27] với những nhiệm vụ chính như sau:
Tổ chức tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức, nội dung phù hợp trong
từng vùng miền, cho từng đối tượng; kết hợp giữa tuyên truyền các chủ trương của
Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống ma túy với các tác hại, hậu quả
17