Hỗ trợ việc làm đối với người cai nghiện từ thực tiễn Trung tâm Giáo dục – Lao động – Tạo việc làm, tỉnh Bình Dương - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN PHÚC ÁNH

HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI CAI NGHIỆN TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM GIÁO DỤC – LAO ĐỘNG –TẠO VIỆC LÀM
TỈNH BÌNH DƢƠNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN NGỌC TOẢN

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài Luận văn thạc sĩ “Hỗ trợ việc
làm đối với người cai nghiện từ thực tiễn Trung tâm Giáo dục – Lao động –
Tạo việc làm, tỉnh Bình Dương” tôi đã nhận được giảng dạy và hướng dẫn
của các thầy cô, sự hỗ trợ của các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình. Với sự
kính trọng và biết ơn tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô
Khoa Công tác xã hội – Học viện Khoa học xã hội, nhất là TS. Nguyễn Ngọc
Toản, hướng dẫn khoa học luận văn. Đồng thời cảm ơn Cục Phòng chống tệ
nạn xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội, Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh Bình Dương, Trung

CAI NGHIỆN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC- LAO ĐỘNG – TẠO VIỆC
LÀM TỈNH BÌNH DƢƠNG ................................................................................... 63
3.1. Bối cảnh và nhu cầu việc làm của học viên cai nghiện...................................... 63
3.2. Giải pháp phát triển hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với học
viên cai nghiện ở trung tâm ....................................................................................... 67
3.3. Giải pháp bảo đảm các điều kiện hoạt động công tác xã hội ............................. 73
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 79
PHỤ LỤC .................................................................................................................................... 81


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTXH

Công tác xã hội

HVCN

Học viên cai nghiện

LĐTBXH

Lao động thương binh và xã hội

NSDMT

Người sử dụng ma túy

NVXH

nhà nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề này trên cơ sở các lý thuyết khác nhau
của tâm lý học như phân tâm học, tâm lý học xã hội, nhận thức và hành vi.
Theo số liệu báo cáo hàng năm Việt Nam đã tổ chức cai nghiện cho khoảng
50.000 người. Trong đó, khoảng 30.000 người đang bị quản lý trong các nhà
tù, trại giam do vi phạm pháp luật và do nhiều nguyên nhân khác nhau. Cũng
theo số liệu báo cáo khoảng 70%- 80% số người sau cai nghiện khi trở về với
gia đình, cộng đồng từ các trung tâm cai nghiện đã sử dụng lại ma túy trong
vòng một năm sau [16].
Những người cai nghiện ma túy trên con đường trị liệu và hướng thiện vẫn
mang trong mình những mặc cảm tội lỗi và không tránh khỏi sự cám dỗ của
ma túy. Đặc biệt, người sử dụng ma túy thường bị lệ thuộc, trói buộc bởi tình
trạng tâm lý, khát khao, thèm muốn, đam mê sử dụng ma túy, đặc biệt là mắc
phải nhiều thứ bệnh. Họ thường hay mặc cảm, tự ti, rất dễ bị tổn thương, thiếu
bản lĩnh, suy nghĩ lưng chừng, nhanh chán nản, dễ từ bỏ khi gặp khó khăn, kỷ
luật lao động chưa cao, nhiều người chưa có thói quen lao động và yêu thích
lao động. Việc dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việc làm, tạo ra thu
1


nhập ổn định cho người nghiện ma túy sau cai là một trong các nội dung quan
trọng của quy trình cai nghiện, đây là một trong những yêu cầu thiết yếu,
nhằm tạo điều kiện để cho ngưởi cai nghiện phục hồi tái hòa nhập cộng đồng,
ổn định cuộc sống và phòng, chống tái nghiện. Qua khảo sát, đánh giá về
“Các giải pháp tạo việc làm tái cộng đồng cho người nghiện ma túy, người
mại dâm sau khi được chữa trị phục hồi” của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) cho thấy những đối tượng
có việc làm ổn định thì tỷ lệ tái nghiện là 25%, đối tượng có việc làm không
ổn định tỷ lệ tái nghiện là 28,5% và không có việc làm là 38,9%.
Vấn đề về hỗ trợ giải quyết việc làm cho người cai nghiện, người sau cai
nghiện ma túy, tạo điều kiện cho họ cai nghiện thành công ổn định cuộc sống
luôn là mối quan tâm hàng đầu cùa Nhà nước, của xã hội, nó ý nghĩa rất lớn

vừa qua. Với các mối quan điểm và cách tiếp cận khác khau các tác giả đã có
những hướng nghiên cứu khác nhau về vấn đề này. Cụ thể như:
O.F.Kernberg ( 1975 ), dựa vào quan điểm tiếp cận phân tâm học, tác giả
đã chỉ cho thấy việc dùng ma túy có liên quan tới các xung đột và các rối
nhiễu trong quá trình phát triển. Khi xung đột Edipe còn tồn tại ở tuổi thanh
thiếu niên, thì những người ở lứa tuổi này sẽ tìm kiếm sự giải thoát tội lỗi và
các ức chế khác ở việc dùng ma túy [8, tr. 4]. Điều này lý giải người nghiện
ma túy phản ánh thể thức phòng vệ chống lại sự lệ thuộc vào khách thể (ở đây
là bà mẹ) của chủ thể và đe dọa ái kỷ mà nó quy định. Ma túy sẽ là khách thể
giả thay thế, tượng trưng cho bà mẹ thuộc tuổi ấu thơ. Ma túy đã được khách
thể hóa và lúc này thanh thiếu niên khép mình trong mối quan hệ với ma túy.
Cũng cùng với quan điểm tiếp cận này, A.Bandura (1997) cho rằng cảm giác
về “ cái tôi hiệu quả ” là chìa khóa trả lời cho sự tái nghiện của những bệnh
nhân nghiện rượu và ma túy. Những chương trình trị liệu làm nhằm tăng tính
hiệu quả của cái tôi của ông đã giúp bệnh nhân vượt qua được nỗi sợ hãi của
3


đau đớn và bất lực cũng như ứng phó một cách hợp lý hơn với hoàn cảnh.
Nhờ đó mà quá trình cai nghiện diễn ra có hiệu quả hơn [8, tr. 5].
Khác với quan điểm tiếp cận phân tâm học, Callahan R.J (1997) trong
“Addition – anxiety conection” [ 8, tr. 5], đã nghiên cứu vấn đề nghiện và tác
nhân nghiện bằng quan điểm tiếp cận tâm lý trị liệu nhận thức. Với quan điểm
này, Ông cho rằng nguyên nhân của nghiện ngập và thôi thúc một số người sử
dụng các chất gây nghiện chính là những cảm xúc tiêu cực mà họ phải trải
nghiệm. Đồng thời đã phát hiện ra mối liên hệ giữa nghiện và sự sợ hãi. Với
phát hiện này đã giúp tìm ra phương pháp chữa trị cho hầu hết các nguyên
nhân gây nghiện. Phương pháp trị liệu này là tìm cách vượt qua được sự lo
hãi và gọi đó là “liệu pháp trường tư duy”.
Cùng với quan điểm trị liệu thông qua tâm lý, Richardson, Myers, Bing

những lời phê phán về các nguyên tắc và điều cấm của xã hội.
Tổng quan một số nghiên cứu quốc tế cho thấy có các quan điểm khác
nhau thảo luận về vấn đề nghiện ma túy, tác nhân gây nghiện và các phương
thứ giải quyết. Tùy vào mỗi quan diểm mà có các biện pháp trị liệu khác
nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu có tính chất cơ sở khoa học, mang nặng tính
lý thuyết, thường gắn với cá nhân, mang tính chủ quan của một vài tác nhân
gây nghiện. Mục đích trị liệu quan tâm đến yếu tố cá nhân, ít quan tâm đến
các yếu tố xã hội. Trong khi đó con người chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi các
yếu tố xã hội, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải quan tâm nghiên cứu loại đối
tượng này theo quan điểm hệ thống.
2.2. Nghiên cứu trong nước
Thời gian qua, ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan
tới vấn đề về việc làm cho người cai nghiện ma túy, dưới nhiều góc độ khác
nhau, có thể nêu một số đề tài sau:

5


Nguyễn Văn Minh (2001) làm chủ nhiệm đề tài cấp Bộ về “Các giải pháp
tạo việc làm cho người nghiện ma túy, người mại dâm sau khi được chữa trị
phục hồi”. Đề tài nghiên cứu chỉ ra nhiều khả năng tái nghiện của người cai
nghiện ma túy sau cai do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó không có
việc làm là một trong những lý do dẫn đến tái nghiện của người sau cai
nghiện. Số liệu chứng minh mặc dù nghị lực của đối tượng là yếu tố quyết
định, sự quan tâm của gia đình là yếu tố hàng đầu giúp đối tượng từ bỏ tệ nạn
xã hội. Do vậy, tác giả kiến nghị cần hoàn thiện hệ thống các giải pháp tạo
việc làm cho đối tượng nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, giảm tỷ lệ tái phạm,
tái nghiện [12].
Viện nghiên cứu xã hội thành phố Hồ Chí Minh (2004-2005) đã thực hiện
đề tài nghiên cứu về“Những giải pháp chủ yếu quản lý, dạy nghề cho người

nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện tại cộng đồng. Đã đề xuất được cơ cấu
tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng tư vấn hướng nghiệp cho thanh
niên sau cai nghiện làm cơ quan đầu mối cho hoạt động tư vấn hướng nghiệp
cho thanh niên sau cai nghiện ở cộng đồng; đề xuất đổi mới mô hình tổ chức
và phương thức hoạt động của Đội tình nguyện; xây dựng nội dung chương
trình giáo dục chuyển biến nhận thức và hành vi thanh niên sau cai nghiện ở
cộng đồng [11].
Phan Xuân Biên và Hồ Bá Thâm (2004) đồng chủ biên “Tâm lý học giáo
dục nhân cách người cai nghiện ma túy từ thực tế thành phố Hồ Chí Minh”.
Các tác giả nghiên cứu lý giải về nguyên nhân, đặc điểm tâm lý, công tác giáo
dục nhân cách, đạo đức xã hội dành cho những người liên quan đến nghiện
ma túy. Các tác giả cho rằng, người nghiện là người rối loạn về tâm lý, không
làm chủ được hành vi của mình, từ không làm chủ được bản thân, họ hành
động chủ yếu theo ham muốn bản năng, dẫn tới lệch chuẩn xã hội, khủng
hoảng nhân cách, tha hóa - rối loạn nhân cách và việc cai nghiện, phục hồi
7


nhân cách, sửa đổi và phát triển nhân cách người cai nghiện thành công hay
không phụ thuộc vào thái độ, tình thương, trách nhiệm của cộng đồng, gia
đình, xã hội và bản thân người nghiện. Do vậy, công tác điều chỉnh tâm lý,
giáo dục, phục hồi nhân cách cho người cai nghiện và những giải pháp giúp
người sau cai nghiện ma túy trở về với gia đình, cộng đồng được thực hiện
bằng biện pháp tâm lý [1].
Phan Thị Mai Hương (2005) với nghiên cứu “Thanh niên nghiện ma túy
nhân cách và hoàn cảnh xã hội” là một cách tiếp cận mới về thanh niên
nghiện ma túy – từ góc độ của tâm lý học. Tác giả đã phân tích, hệ thống hóa
những lý luận về đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và sự ảnh hưởng của
chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện ma túy, cũng như quan
điểm về việc giải quyết chúng trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra một

tạo việc làm cho học viên cai nghiện tại trung tâm trên địa bàn tỉnh Bình
Dương, đề tài đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác hỗ
trợ việc làm cho học viên cai nghiện tại trung tâm giáo dục – lao động – Tạo
việc làm dưới góc độ công tác xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận về CTXH trong hỗ trợ việc làm cho HVCN ma
túy.
- Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm và hoạt động CTXH hỗ trợ tạo
việc làm đối với HVCN của trung tâm trong thời gian qua.
- Đề xuất giải pháp, phương pháp thực hiện CTXH trong tạo việc làm đối
với HVCN.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu

9


Công tác hỗ trợ việc làm cho HVCN ma túy tại Trung tâm giáo dục - lao
động – tạo việc làm tỉnh Bình Dương.
* Khách thể nghiên cứu
- HVCN tại trung tâm ( chọn ngẫu nhiên 200 học viên).
- Cán bộ, nhân viên đang công tác làm việc tại trung tâm (chọn phỏng vấn
02 lãnh đạo và 03 cán bộ trực tiếp phụ trách công tác dạy nghề, hướng nghiệp
cho HVCN ).
- Cơ quan, tổ chức và cá nhân đã và đang phối hợp thực hiện công tác dạy
nghề, tạo việc làm đối với HVCN tại trung tâm( phỏng vấn 02 cán bộ ở cơ sở
dạy nghề, 02 doanh nghiệp đang là đối tác cung cấp hang gia công cho
HVCN).
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm Giáo dục - Lao động - Tạo việc

tâm lý, giao tiếp hay không? cơ sở vật chất, các trang thiết bị, dụng cụ dùng
để học tập làm việc để biết cách thức tổ chức, bố trí, sắp xếp việc làm cho
HVCN của trung tâm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu chỉ cho thấy được vai trò của CTXH trong việc đánh giá nhu
cầu về việc làm của HVCN. Với việc kết hợp vận dụng các lý thuyết học
thuyết nhu cầu, cấu trúc chức năng và phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ của
CTXH có thể hỗ trợ tốt hơn cho công tác giải quyết việc làm đối với HVCN
tại Trung tâm Giáo dục - Lao động - Xã hội. Ngoài ra còn có ý nghĩa tham
khảo cho những người đang nghiên cứu, quan tâm về lĩnh vực này.
* Ý nghĩa thực tiễn

11


Kết quả nghiên cứu tổng hợp thực trạng về việc làm của HVCN tại Trung
tâm Giáo dục – Lao động – Tạo việc làm, tỉnh Bình Dương. Đồng thời đánh
giá kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân nhìn trên góc độ
CTXH. Đề xuất các giải pháp thực hiện hỗ trợ việc làm dựa trên quan điểm
tiếp cận CTXH đối với HVCN tại các Trung tâm Giáo dục – Lao động – Xã
hội.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn
được kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Cở sở lý luận về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho học
viên cai nghiện ma túy tại Trung tâm Giáo dục – lao động – Tạo việc làm.
Chương 2: Thực trạng hỗ trợ việc làm cho học viên cai nghiện ma túy tại
Trung tâm Giáo dục – lao động – Tạo việc làm, tỉnh Bình Dương.
Chương 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện và phát triển hoạt động công

danh mục do Chính phủ ban hành [5, tr. 87]
- Khái niệm nghiện ma túy
Hiện nay các cơ quan, tổ chức quốc tế như Hiệp hội tâm thần Mỹ, tổ chức
13


Y tế thế giới, Tổ chức áp dụng phương pháp cai nghiện phục hồi theo nguyên
lý cộng đồng trị liệu, Tổ chức sức khỏe gia đình quốc tế… với các cách tiếp
cận trị liệu can thiệp khác nhau đã đưa ra các khái niệm khác nhau về nghiện
ma túy. Tuy nhiên, hầu hết trên các quốc gia trên thế giới và Việt Nam đều
thống nhất sử dụng khái niệm do Tổ chức Y tế thế giới đưa ra là: Nghiện ma
túy là tình trạng lệ thuộc về mặt thể chất hoặc tinh thần hoặc cả hai. Có nghĩa
là, khi một người dùng lặp lại nhiều lần hoặc kéo dài một hay nhiều thứ thuốc
sẽ bị lệ thuộc vào nó, tạo sự thèm muốn không cưỡng lại được, nếu không đáp
ứng kịp thời sẽ bị vật vã, đau đớn. Trong đó, lệ thuộc về thể chất được hiểu là
khi đã mắc nghiện mà không cung cấp đủ chất ma túy như nhu cầu thì sẽ gây
ra những phản ứng về thể chất mà người ta thường gọi là thuốc hành. Sự lệ
thuộc về mặt tinh thần là trạng thái người nghiện bị thôi thúc tự đi tìm chất
ma túy để thỏa mãn cơn nghiện, nếu không có thì có thể đi ăn cắp, thậm chí
gây tội ác cướp của giết người để có tiền mua ma túy sử dụng với mục đích
thỏa mãn được cơn nghiện của mình [3]. Sự lệ thuộc của người nghiện theo 6
giai đoạn từ khởi đầu, bắt đầu, trải nghiệm, hình thành thói quen, lệ thuộc
thuốc và ám ảnh - bắt buộc dùng thuốc.
Hình 1.1. Các giai đoạn của nghiện ma tuý

Các
giai
đoạn

Sự hài lòng, thích thú

sức khỏe, điều trị các bệnh cơ hội đến các biện pháp điều trị tổng hợp trị liệu
như giáo dục, tâm lý, vật lý, lao động trị liệu, giải trí đối với người nghiện.
Việc tiến hành các biện pháp trên, cùng với hoạt động tư vấn, hướng nghiệp,
dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, học tập, các hoạt động văn hóa, thể
thao... nằm trong một quy trình thống nhất của công tác cai nghiện, phục hồi.
Hoạt động cai nghiện, phục hồi có hiệu quả khi làm thay đổi nhận thức và
chuyển đổi hành vi của người nghiện, giúp họ từ bỏ được ma túy.
- Khái niệm học viên cai nghiện ma túy
HVCN ma túy là những người bị nghiện ma túy đang thực hiện các biện
pháp chữa trị và cai nghiện tác các trung tâm cai nghiện. Trong đó có loại
hình trung tâm giáo dục, lao động, tạo việc làm.
1.1.2. Phương pháp cai nghiện ma túy
* Phương pháp cai nghiện bằng các thuốc đối kháng với ma túy:
Trong y tế hiện nay người ta sử dụng rộng rãi các thuốc như Nalocphin,
Naloxon để gây ra các tác dụng dược lý đối kháng với tác dụng của ma túy
như làm giảm hoặc mất hẳn tác dụng của các chất tác động hệ thần kinh gây
nghiện, làm mất các triệu chứng giảm đau, sảng khoái, suy giảm hô hấp, táo
bón, co thắt đường mật, co thắt đường tiết niệu, giảm huyết áp. Tuy nhiên,
hiện nay giá thành các loại thuốc này rất cao.
* Phương pháp “lấy độc trị độc”:
Là phương pháp dùng các loại thuốc như methadone, lacetyl methadone và
propoxyphen là các chất gây nghiện cùng nhóm nhưng có tác dụng dài hơn và
độc tính thấp hơn. Phương pháp này cho những người nghiện dùng liều nhỏ
dần cho đến khi cắt cơn nghiện. Thời gian bán hủy của Methadone từ 24-36
tiếng (heroin là 3-7 tiếng). Do vậy khi sử dụng Methadone, người nghiện chỉ
15


cần dùng một liều duy nhất phù hợp cho từng người trong ngày là đủ để
không xuất hiện hội chứng cai. Để cai nghiện, chỉ cần cho một người nghiện

chất cặn độc hiện diện thật sự trong cơ thể; hai là, những hình ảnh ấn tượng
trong tâm trí do hồi tưởng quá khứ dùng thuốc bị tái kích thích. Nếu chương
trình thanh tẩy giải quyết được một mặt của vấn đề, tức là tẩy sạch được chất
cặn độc của ma túy thì sẽ điều chỉnh được cho người bệnh, khiến cho mặt kia,
những hình ảnh ấn tượng trong tâm trí không còn bị kích thích thêm nữa...
chương trình thanh tẩy là một chế độ tự điều trị được áp dụng chuẩn xác.
Việt Nam đã và đang sử dụng kết hợp nhiều phương pháp cai nghiện khác
nhau như phương pháp giải độc, cai nghiện bằng luyện tập, thư giãn và tự ám
thị kết hợp châm cứu, cai nghiện cổ truyền dân tộc, cai khan và đang thí điểm
và nhân rộng mô hình cai nghiện mới có điều trị bằng thuốc thay thế
Methadone. Đồng thời, cũng đa dạng các hình thức cai nghiện cai nghiện ma
túy tự nguyện và cai nghiện ma túy bắt buộc, cai nghiện ma túy tại gia đình,
cai nghiện ma túy tại cộng đồng và cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện.
Trong đó cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện là hình thức người nghiện ma
túy được đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc khi người nghiện ma túy
từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được
giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có
nơi cư trú nhất định. Thời hạn cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc
từ một đến hai năm.
1.1.3. Quản lý sau cai nghiện
Đây là các hoạt động nhằm hỗ trợ đối tượng trong việc duy trì, củng cố
những kết quả đã đạt được sau khi kết thúc quá trình cai nghiện tại các trung
tâm nhằm để giúp họ có được những điều kiện cần thiết để tiếp tục làm việc,
phấn đấu nhằm phòng, chống tái nghiện. Người sau cai nghiện sẽ được theo
dõi, quản lý, định kỳ đánh giá quá trình chấp hành biện pháp quản lý sau cai
17


nghiện, được tổ chức lao động, làm việc trong các điều kiện phù hợp để vừa
tạo thu nhập và vừa ràng buộc họ tránh xa môi trường ma túy. Bên cạnh đó họ

để bày tỏ những thách thức trong cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc
sống” [6].
Nguyễn Thị Oanh cho rằng (trích tài liệu hội thảo 2004): cho rằng CTXH
nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp. Nó không phải là một hành động
ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá
nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình.
Bùi Thị Xuân Mai nêu khái niệm “CTXH là một nghề, một hoạt động
chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao
năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy
môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm trợ giúp cá nhân,
gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần
bảo đảm an sinh xã hội”[4, tr. 3]
Theo thuật ngữ Lao động – Xã hội thì “CTXH là một chuyên môn có mục
tiêu giúp cá nhân, cộng đồng thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo
điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó. CTXH hướng đến cải
thiện các điều kiện xã hội của cộng đồng, tăng cường nguồn lực của các cá
nhân và cải thiện mối quan hệ giữa cá nhân và môi trường xã hội. Nhân quyền
và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề CTXH. Công tác xã
hội thúc đẩy cá nhân, cộng đồng và xã hội tham gia cải thiện các điều kiện xã
hội của cộng đồng, cải thiện nguồn lực và khả năng của cá nhân, cải thiện mối
quan hệ giữa cá nhân và môi trường xã hội. CTXH trú trọng đến nhu cầu của
những nhóm thiệt thòi và bị cô lập về mặt xã hội” [2].
Như vậy, có nhiều các khái niệm, định nghĩa khác nhau về CTXH, nhưng
nhìn chung các quan niệm đều thống nhất:

19


Thứ nhất, CTXH là một nghề, một khoa học ứng dụng, một dịch vụ xã hội
cung ứng cho các cá nhân, gia đình, nhóm người, cộng đồng khoa học gặp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status