ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
********************
NGUYỄN THÀNH TOẢN
LY HÔN Ở NÔNG THÔN:
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC)
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN QUÝ THANH
VII. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ
THUYẾT 11
7.1. Giả thuyết nghiên cứu 11
7.2. Khung lý thuyết 12
PHẦN THỨ HAI – NỘI DUNG CHÍNH 14
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ
CÁC KHÁI NIỆM 14
I. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 14
1.1. Các nghiên cứu về ly hôn ở Việt Nam 14
1.2. Các nghiên cứu về ly hôn trên thế giới 16
II. Các khái niệm 17
2.1. Gia đình 17
2.2. Hôn nhân 18
2.3. Ly hôn 19
2.4. Xung đột vợ chồng 20
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản 2
CHƢƠNG II : THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
HẬU QUẢ LY HÔN 21
I. MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN
CỨU 21
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA TÌNH TRẠNG LY HÔN QUA
PHÂN TÍCH HỒ SƠ LY HÔN 23
2.1. Nguyên đơn ly hôn 23
2.2. Tuổi ly hôn của phụ nữ và nam giới 29
2.3. Nghề nghiệp của người ly hôn 34
2.4. Độ dài của hôn nhân 35
III. PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN LY HÔN 40
mới. Năm 1992, cả nước có 32.000 vụ ly hôn, năm 1996 là 43.000, năm
2001 là 54.479 vụ và 2006 là 69.523 vụ.
Theo số liệu thống kê tỷ lệ ly hôn trên toàn thế giới năm 2005, tỷ lệ
ly hôn hiện nay rất cao. Những nước có tỷ lệ ly hôn cao nhất thế giới là
Belarus 68%, Nga 65 % , Thụy Điển 64 %, Latvia 63%, Vương quốc
Anh 52%, Hoa Kỳ 46%.
1
Hôn nhân và gia đình là hai hiện có mối liên hệ mật thiết, gắn bó.
Hôn nhân là cơ sở, là viên gạch đầu tiên xây dựng nên một gia đình.
Quan hệ hôn nhân được thiết lập một cách tự nguyện, gia đình sẽ bền
vững. Ngược lại, hôn nhân bị ép buộc, lạc hậu thì rất khó để xây dựng
một gia đình hạnh phúc.
Trên thế giới cũng như ở nước ta, quan hệ hôn nhân và gia đình
đang biến đổi mạnh mẽ. Sự biến đổi của xã hội kéo theo những biến đổi
lớn trong đời sống gia đình.
Ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp, để lại cho cá nhân trong
cuộc và xã hội những hậu quả nặng nề. Ly hôn được rất nhiều ban ngành
quan tâm, nghiên cứu, trong đó có xã hội học. Xét từ góc độ xã hội học:
“Nếu hôn nhân là hiện tượng bình thường thì ly hôn là hiện tượng bất
1
www.divorcemag.com:10/8/2007
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản 4
bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng nó không thể thiếu được
khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, khi hôn nhân không còn mang ý
nghĩa như ban đầu, khi tình yêu hôn nhân ấy đã chết, sự tồn tại của nó
5
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi quyết định lựa chọn vấn đề ly
hôn để làm Luận văn Thạc sỹ, với đề tài: “Ly hôn ở nông thôn: thực
trạng, nguyên nhân và hậu quả " (nghiên cứu tại huyện Bình Xuyên,
tỉnh Vĩnh Phúc).
II. Ý NGHĨA KHOA HỌC
Với những nội dung được trình bày trong luận văn, tôi mong muốn
đóng góp thêm một phần nhỏ vào quá trình nhận thức về khái niệm hôn
nhân, gia đình và ly hôn.
III. Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực trạng, nguyên nhân và hậu
quả của ly hôn, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm phần nào hạn chế
được số vụ ly hôn đang ngày có xu hướng gia tăng trên địa bàn nghiên
cứu.
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mô tả, phân tích thực trạng, nguyên nhân chính dẫn tới ly hôn ở
Bình Xuyên- Vĩnh Phúc, đồng thời chỉ rõ hậu quả mà ly hôn để lại cho
cá nhân trong cuộc và cho xã hội.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra một số kết luận,
đánh giá thực trạng, nguyên nhân và hậu quả ly hôn. Từ đó, đưa ra một
số giải pháp và khuyến nghị, với mong muốn giúp cho mọi người hiểu
được hậu quả của ly hôn.
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản
6.1.1. Đoàn kết xã hội của E.Durkheim- Cách tiếp cận vấn đề nghiên
cứu trong luận văn
Đoàn kết xã hội để chỉ sự hội nhập về mức độ hay kiểu loại hội
nhập, được biểu lộ ra bởi xã hội hay nhóm xã hội khác nhau (sơ khai -
hiện đại).
Ông đã chia khái niệm Đoàn kết xã hội thành hai loại đoàn kết, đó
là đoàn kết cơ học và đoàn kết hữu cơ.
Đoàn kết cơ học là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự thuần nhất đơn
điệu của các giá trị và niềm tin. Các cá nhân có sự gắn bó với nhau và có
sự kiềm chế mạnh mẽ từ phía xã hội và vì lòng trung thành của cá nhân
đối với truyền thống và tập tục, quan hệ gia đình. Sức mạnh của ý thức
tập thể có khả năng chi phối và điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành
động của cá nhân. Hay đoàn kết cơ học là một thứ đoàn kết bằng giống
nhau, cái bằng giống nhau ở đây được thể hiện ở góc độ cùng một tình
cảm, cùng chấp nhận một thứ thiêng liêng, các cá nhân xã hội chưa phân
hoá.
1
Đoàn kết hữu cơ là kiểu đoàn kết xã hội dựa trên sự phong phú đa
dạng của các mối liên hệ, tương tác giữa các cá nhân và các bộ phận cấu
thành nên xã hội. Hay đoàn kết hữu cơ là hình thức trong đó nhất trí là
thống nhất gắn bó các tập thể, là kết quả hay tự biểu hiện bằng phân hoá
các cơ thể bây giờ không còn giống nhau mà lại khác nhau và theo một
cách nào đó chính do họ khác nhau mà nhất trí tự thể hiện.
2
Trong xã hội kiểu cơ học, quyền tự do và tinh thần tự chủ, tính độc
lập của cá nhân rất thấp. Sự khác biệt và tính độc đáo của cá nhân là
1
nên trong xã hội truyền thống ở nước ta, phụ nữ dù có khổ đến đâu, họ
vẫn phải theo chồng theo con, họ không được phép bỏ chồng, bỏ con. Xã
hội sẽ lên án và áp đặt những hình thức phạt rất hà khắc khi người phụ
nữ phạm phải những điều cấm kị của xã hội như ngoại tình, có con ngoài
giá thú, quan hệ tình dục trước hôn nhân vv. Từ sự quy định khác nhau
giữa đàn ông và phụ nữ như vậy, cho nên hiện tượng ly hôn trong xã hội
truyền thống ở Việt Nam không nhiều.
1
GS Phạm Tất Dong-TS Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên)- Phạm Văn Quyết- Nguyễn Quý Thanh- Hoàng Bá
Thịnh- NXB ĐHQG Hà Nội-1997(80)
2
2
GS Phạm Tất Dong-TS Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên)- Phạm Văn Quyết- Nguyễn Quý Thanh- Hoàng Bá
Thịnh NXB ĐHQG Hà Nội-1997(81)
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản 9
Trong xã hội hiện đại ở Việt Nam, pháp luật thừa nhận quyền bình
đẳng giữa nam giới và nữ giới trên mọi phương diện xã hội. Trong quan
hệ hôn nhân và gia đình cũng được quy định như vậy, quyền được kết
hôn và ly hôn của nam giới và nữ giới là như nhau. Người phụ nữ được
phép ly hôn khi họ thấy hôn nhân không còn ý nghĩa, họ được phép ly
hôn khi bị nam giới bạo hành.
6.1.2. Lý thuyết xung đột- cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu trong luận
văn
Theo quan điểm của Marx
tế, nó gắn liền với quyền lợi hay lợi ích, khả năng sử dụng những cơ
may vật chất, mô hình này liên quan tới toàn thể các thành viên trong xã
hội. Loại thứ ba là xung đột về mặt đạo đức, tinh thần, nó liên quan đến
cách cư xử giữa con người với nhau liên quan đến giá trị vật chất và tinh
thần, thẩm mỹ và tôn giáo.
Ông đưa ra các cách giải quyết các xung đột như: nếu xung đột về
mặt lợi ích kinh tế, phải lấy lợi ích kinh tế giải quyết; nếu xung đột về
mặt tinh thần và tôn giáo, phải lấy chính các yếu tố đó để giải quyết. Và
phải công khai hoá các xung đột, mức độ công khai hoá càng lớn thì tỷ
lệ giải quyết các xung đột càng nhanh.
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận theo lý thuyết xung đột xã
hội để giải thích các nguyên nhân chính dẫn tới ly hôn ở huyện Bình
Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Theo quan điểm của Dahrendorf, bất cứ một mô hình xã hội nào
cũng xảy ra xung đột. Trong thiết chế gia đình, tồn tại rất nhiều quan hệ
xã hội khác nhau, nếu các thành viên của gia đình thực hiện các mối
quan hệ đó không thỏa mãn hay cân bằng về mặt lợi ích kinh tế, giá trị
tinh thần giữa họ, thì các quan hệ xã hội này có nguy cơ bị phá vỡ. Do
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản 11
vậy, khi có xung đột xã hội trong gia đình, các thành viên phải cùng
nhau trao đổi và công khai hóa các mâu thuẫn, và phải lấy chính những
giá trị mâu thuân để giải quyết các mâu thuẫn, chỉ có vậy mới giải quyết
được các xung đột trong thiết chế gia đình.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Nguồn thông tin bao gồm các hồ sơ ly hôn tại toà án huyện Bình
Xuyên - Vĩnh Phúc. Số liệu thống kê của toà án trong các năm, cho phép
Các yếu tố tác động tới độ bền vững của gia đình gồm các yếu tố
chủ quan và khách quan. Các yếu tố khách quan chính là chính là các
điều kiện kinh tế xã hội liên quan tới môi trường sống, mức sống, chính
sách, luật pháp, phong tục, dư luận xã hôi… Các nhân tố chủ quan như
nghề nghiệp, tuổi, giới tính, trình độ học vấn của các cặp vợ chồng.
Hậu quả
pháp lý của
ly hôn
Hậu quả cá
nhân và xã
hội của ly
hôn
Yếu tố
khách quan
Yếu tố
chủ quan
Gia đình
Ly hôn
gần đây đã tạo sự sự chú ý và thu hút mối quan tâm của các nhà nghiên
cứu.
Tình hình ly hôn của Việt Nam từ năm
1992 - 2006
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
80000
1992
1995
1997
2000
2001
2002
2005
2006
Năm
Số vụ ly hôn
Thụ lý
Giải quyết
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản 15
Nghiên cứu chúng tôi đề cập đến là công trình nghiên cứu “Gia
Trong khi các đề tài nghiên cứu về ly hôn còn quá ít thì báo chí lại
cung cấp một nguồn thông tin khá dồi dào về tình hình ly hôn ở nước ta,
đặc biệt là trong các gia đình đô thị như báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí
Minh, Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô, báo điện tử vnexpress.net,
dantri.com.vn.
Trong các công trình nghiên cứu nêu trên chưa phân tích sâu tới đặc
điểm của ly hôn như: tuổi ly hôn, thời gian sống chung, sự khác biệt
giữa nghề nghiệp của vợ và chồng. Đây là những đặc điểm có ảnh
hưởng tới độ dài của hôn nhân. Vì thế, trong luận văn này, chúng tôi
muốn tập trung phân tích những đặc điểm khác biệt giữa vợ và chồng
dẫn tới ly hôn.
1.2. Các nghiên cứu về ly hôn trên thế giới
Theo thống kê của Viện Thống kê quốc gia Pháp - tính từ năm 1970
tới 1980 số vụ ly hôn tăng gấp ba lần. Và tới đầu những năm 1990 thì cứ
trong 100 đôi nam nữ kết hôn thì có 30 đôi ly hôn. Ở Thuỵ Điển, năm
1989 cả nước có 110.000 đám cưới, thì cùng trong năm có tới 18.000 vụ
ly hôn. Tức là cứ 16 đám cưới thì có 1 vụ ly hôn. Ở Na Uy: Vào năm
1993 có 100 người phụ nữ đã kết hôn thì có 13 người đã ly dị chồng.”
1
Hiện tượng ly hôn đã được đề cập nhiều và trở thành đối tượng
nghiên cứu của nhiều tác giả phương Tây. Cùng với quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá, các mâu thuẫn gia đình ngày càng gia tăng. Qua
kết quả nghiên cứu các tác giả chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản dẫn tới
ly hôn: “Mức khó khăn về tài chính và sự chưa chín chắn trong tình cảm
có thể là yếu tố chính gây nên tỷ lệ ly hôn cao ở thanh niên hay tuổi kết
hôn quá sớm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc tăng tỷ lệ ly hôn”
1
“Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà
các thành viên của nó gắn với nhau bằng mối quan hệ hôn nhân, huyết
thống hoặc mối quan hệ nhận con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt
1
Lê Thi, Vấn đề ly hôn, nguyên nhân và xu hướng vận động. Tạp chí Xã hôI học, số 1 (57), năm 1997
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản 18
trách nhiệm, đạo đức với nhau, nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các
thành viên, cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con
người”.
1
Con người, phần lớn được sống trong một nhóm gọi là gia đình.
Trong nhóm đó, con người lần đầu tiên được học về luật lệ, sự bất bình
đẳng, quyền lực, những giá trị, những chuẩn mực, ngôn ngữ, nhận dạng
tất cả các yếu tố khác tồn tại trong đời sống xã hội Gia đình là mối liên
hệ giữa vợ chồng và con cái. Mọi thay đổi lớn trong xã hội chắc chắn sẽ
ảnh hưởng tới cấu trúc và văn hoá của từng nhóm, từng gia đình. Gia
đình chính là một nhân tố đặt con người trong một hệ thống phân tầng,
đặt con người vào vị trị của mình trong hệ thống xã hội.
2.2. Hôn nhân
“Hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà trên
cơ sở tự nguyện, bình đẳng được thực hiện với sự tuân theo các quy định
của pháp luật hôn nhân và gia đình, nhằm để chung sống với nhau và xã
hội gia đình hạnh phúc, hoà thuận dân chủ”.
2
trên tình yêu dần dần được phổ biến, nhưng tác động của yếu tố ngoài
tình yêu còn khá mạnh (kết hôn vì tiền của, không kể tuổi tác, lấy người
nước ngoài vì danh vọng ). Tuy nhiên, “các cuộc hôn nhân khập khiễng
không thể là tế bào khoẻ cho xã hội”
1
. Việc chuyển từ hôn nhân cưỡng
ép sang hôn nhân tự nguyện dựa trên cơ sở tình yêu là biểu hiện của sự
khẳng định cá nhân con, người ngày càng lớn và là một tiến bộ xã hội.
2.3. Ly hôn
Nếu như kết hôn là sự kiện bình thường, là thời điểm bắt đầu của
hôn nhân, là bước khởi đầu cho việc tạo lập gia đình, thì ly hôn là mặt
bất bình thường, là sự tan vỡ các quan hệ hôn nhân và gia đình, hay nói
cách khác ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình. “Ly
hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ - chồng khi hai người còn sống do một
bên yêu cầu hoặc do hai bên thuận tình, được toà án nhân dân công nhận
1
Tạp chí Hạnh phúc gia đình tháng 8 năm 2000
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản 20
bằng bản án xử cho ly hôn hoặc bằng quyết định thuận tình ly hôn. Nói
cách khác, ly hôn là việc làm chấm dứt quan hệ vợ - chồng trước pháp luật”
1
Trong xã hội truyền thống của Việt Nam, ly hôn bị coi là một điều
xấu xa về đạo lý. Ly hôn do người chồng và gia đình nhà chồng quyết
định. Trong xã hội hiện đại quyền tự do kết hôn cũng như quyền tự do ly
21
CHƢƠNG II : THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
LY HÔN
I. MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Huyện Bình Xuyên nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Vĩnh Phúc,
được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1998, với diện tích 145,59 km
2
và
dân số 104.555 người, trong đó 54.791 nữ, 49.764 nam. Toàn huyện có
23.515 hộ gia đình
1
Cơ cấu hành chính của huyện bao gồm 11 xã và 2 thị trấn. Sau gần
mười năm thành lập, nền kinh tế của Bình Xuyên đang trên đà phát triển,
sản xuất công nghiệp ổn định, giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp
trên địa bàn tăng. Sản xuất công nghiệp và xây dựng cơ bản: Toàn
huyện có 109 doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đăng ký hoạt
động, trong đó có 62 doanh nghiệp đã hoạt động, với số vốn điều lệ là
430 tỷ đồng. Huyện có hai xã làng nghề là Thanh Lãng- làm mộc và
Hương Canh- làm gốm. Nông nghiệp phát triển toàn diện cả về trồng
trọt lẫn chăn nuôi. Trong quá trình phát triển kinh tế, các ngành nghề
mới đặc biệt được chú trọng, nghề truyền thống thu hút người lao động,
tạo việc làm có thu nhập cao.
Cùng với sự biến đổi chung của xã hội, các gia đình ở Bình Xuyên
cũng đang có những biến đổi như: sự gia tăng gia đình hiện đại (gia đình
hạt nhân) thay thế gia đình truyền thống (gia đình mở rộng). Tỷ lệ gia
đình hạt nhân ở Bình Xuyên chiếm khoảng 60 - 70%
không còn giữ nguyên ý nghĩa ban đầu của nó. Giờ đây, gia đình đang
chuyển giao dần chức năng này cho xã hội. Thứ hai, vai trò giới trong
gia đình cũng có nhiều thay đổi. Quan niệm nam giới là người kiếm tiền
nuôi cả gia đình hiện nay không còn ảnh hưởng mạnh mẽ như trước.
Nền kinh tế thị trường tạo ra những cơ hội thuận lợi cho phụ nữ tham gia
vào các hoạt động xã hội khác nhau. Điều kiện kinh tế khiến cho họ
không còn phải phụ thuộc nhiều vào người chồng như trước kia nữa.
Thứ ba, sự phân công lao động xã hội tuy vẫn theo quan điểm truyền
thống, song nó cũng có những biến đổi khác: Người phụ nữ phải gánh
vác công việc gia đình và công việc ngoài xã hội nhiều như nam giới.
Tuy nhiên, không phải ở vị nào xã hội nào người phụ nữ cũng có được
tiếng nói quyết định. Bởi quan niệm về phụ quyền và gia trưởng vẫn
còn tồn tại ở nước ta.
1
Báo cáo tổng kết năm 2006 của ủy ban dân số gia đình và trẻ em huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc
2
Báo cáo tổng kết năm 2006 của ủy ban dân số gia đình và trẻ em huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc
Luận văn Thạc Sĩ Khoa học Nguyễn Thành Toản 23
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA TÌNH TRẠNG LY HÔN QUA PHÂN TÍCH HỒ
SƠ LY HÔN
Trong những năm gần đây, tỷ lệ ly hôn trên địa bàn huyện Bình
Xuyên và tỉnh Vĩnh Phúc có xu hướng gia tăng. Số liệu các trường hợp
ly hôn do tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thống kê trong ba năm 2004,
2005 và 2006 như sau:
Qua phân tích tài liệu chúng tôi cũng thấy rằng, tình trạng nữ đứng
đơn cao hơn nam giới không chỉ xảy ra trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, mà
còn xảy ra ở một số tỉnh khác của cả nước.
Theo báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện luật hôn nhân và gia đình
(1986 - 1994) của Bộ tư pháp, tỷ lệ đứng đơn của phụ nữ tăng nhanh
một cách đáng kể. Nhiều địa phương, tỷ lệ phụ nữ đứng đơn thường
vượt quá 50% so với tổng số đơn. Tại Thái Bình và Lạng Sơn, có 50% tỷ
lệ nguyên đơn là nữ. Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, Hoà Bình và Cần Thơ,
phụ nữ đứng đơn chiếm tỷ lệ 65% - 66%. Tại tỉnh Thanh Hoá có đến
73% người đứng đơn là phụ nữ. Trong số 903 trường hợp ly hôn ở
Thanh Trì từ 1988-1994, có 67% người vợ đứng đơn.
1
.
Trong xã hội truyền thống nước ta, những tư tưởng, giá trị và
chuẩn mực xã hội chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của tư tưởng Nho giáo.
Những quy định của xã hội đã làm mất đi quyền bình đẳng giữa nam và
nữ.
Trong chế độ phong kiến, tư tưởng trọng nam khinh nữ, gia trưởng
rất phổ biến. Người phụ nữ sống trong thời kỳ này không có thực quyền.
Vị trí, vai trò của phụ nữ ít được xã hội coi trọng và thừa nhận. Nam giới
là người cai trị, nắm quyền quyết định trong gia đình cũng như ngoài xã
hội. Người phụ nữ luôn luôn phải phụ thuộc vào người đàn ông, “Tại gia
tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Trong cuốn "Việt Nam
phong tục" của Phan Kế Bính có viết: “Tục ta đi lấy chồng dù hay dở
sống chết thế nào cũng là người nhà chồng chỉ nương nhờ vào chồng
con chứ không ai khác nữa, vì lẽ ấy mà người đàn bà phải hết sức lo cho
1 báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện luật hôn nhân và gia đình (1986 - 1994) của Bộ tư pháp