ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN PHƢƠNG OANH
TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN ĐẾN VIỆC LÀM
CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
(Nghiên cứu trƣờng hợp huyện Quốc Oai, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Mai Thị Thanh Xuân. Các số liệu, tài liệu
trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan. Các tài liệu tham
khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 14 tháng 1 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Phương Oanh
2.2. Phân tích tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn tới việc làm của ngƣời lao động ở huyện Quốc Oai 49
2.2.1. Tác động tích cực 49
2.2.2. Tác động tiêu cực 64
2.3. Đánh giá chung 70
2.3.1. Những thành tựu cơ bản 70
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 72
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU
CỰC CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN ĐẾN VIỆC LÀM CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI
HUYỆN QUỐC OAI 77
3.1. Quan điểm và định hƣớng giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn huyện Quốc Oai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020 77
3.1.1. Quan điểm 77
3.1.2. Định hướng 79
3.2. Một số giải pháp cơ bản hạn chế tác động tiêu cực của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến việc làm của ngƣời lao
động tại huyện Quốc Oai 81
3.2.1. Đẩy mạnh phát triển ngành nghề ở nông thôn để tạo thêm việc làm mới 81
3.2.2. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm 82
3.2.3. Nâng cao hiệu quả của hoạt động đào tạo nghề 85
3.2.4. Cung cấp thông tin thị trường đầy đủ và kịp thời cho người lao động 90
3.2.5. Phát triển thị trường lao động tại địa phương đi đôi với đẩy mạnh
xuất khẩu lao động 92
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
10
TB- XH
Thương binh- Xã hội
11
TM- DV
Thương mại- Dịch vụ
12
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1
2.1
Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành
44
2
2.2
Nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp
năm 2012
49
Cơ cấu lao động theo giới và nhóm tuổi của lao
động huyện Quốc Oai
66
10
2.10
Tình hình tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện Quốc
Oai
69 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là
một quá trình tất yếu để chuyển một nền nông nghiệp lạc hậu thành một nền
nông nghiệp hiện đại. Trên thế giới, quá trình này diễn ra và đã thành công ở
nhiều nước. Ở Việt Nam, cho đến nay, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan
trọng, đóng góp khoảng 20% trong GDP và là nguồn tạo việc làm cho khoảng
50% lao động xã hội, và nông thôn vẫn là địa bàn sinh sống của gần 70% dân
cư. Tuy nhiên, một quốc gia không thể phát triển mạnh nếu chỉ dựa chủ yếu
vào sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác
định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ chiến lược, có tầm quan
trọng đặc biệt cả trước mắt cũng như lâu dài. Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X chỉ rõ: “Nông nghiệp,
tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, phân hóa giàu nghèo ngày càng xa,
ô nhiễm môi trường ngày càng nặng, …và đặc biệt là tình trạng thất nghiệp,
thiếu việc làm gia tăng, theo đó là sự tăng lên của các tệ nạn xã hội.
Để giải quyết vấn đề này, chính quyền địa phương cũng đã thực hiện
nhiều giải pháp: đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; phát
triển các hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn; đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tạo mở việc làm mới, Dù vậy, thất nghiệp và thiếu việc
làm đối với lao động nông thôn vẫn đang và sẽ tiếp diễn rất phức tạp cùng với
quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH. Vậy nên, việc tìm ra những giải pháp hiệu
quả để thúc đẩy các tác động tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực của
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những yêu cầu cấp thiết đối
với cả nước nói chung và huyện Quốc Oai nói riêng.
3
Từ cách đặt vấn đề trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tác động của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến việc làm của người
lao động (Nghiên cứu trường hợp huyện Quốc Oai, Hà nội)” làm luận văn
tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế chính trị của mình.
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn là: CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
đã tác động thế nào đến việc làm của người lao động tại huyện Quốc Oai? Và
chính quyền Huyện đã và sẽ phải làm gì để hạn chế tác động đó?
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình, bài viết về CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn cũng như về tác động của CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở các góc độ, khía cạnh khác nhau. Trong đó, các công trình tiêu
biểu liên quan trực tiếp đến nội dung luận văn có thể chia thành 2 nhóm:
Nhóm 1, gồm những bài nghiên cứu về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
và nhóm 2, là những bài viết về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
trong quá trình CNH ở Việt Nam và tại các địa phương.
Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm 1 có thể kể đến là:
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiêp, nông thôn từ Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ III (1960) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
(2011). Từ định hướng của Đảng về quan hệ công – nông nghiệp, qua các Đại
hội và các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, các tác giả làm rõ sự
thay đổi tư duy lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ.
Từ việc trình bày các chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, các tác giả cũng chỉ rõ
thực trạng một số vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh trong thực hiện công nghiệp
hóa ở nông thôn Việt Nam như: tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, phân
hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội, ô nhiễm môi trường và suy thoái văn
5
hóa ở nông thôn. Các tác giả đã đề xuất các giải pháp chung, và các giải pháp
cụ thể để khắc phục các bức xúc trên.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Trung
Bộ( qua khảo sát các tỉnh Thanh- Nghệ- Tĩnh) của Mai Thị Thanh Xuân,
NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2004. Trong cuốn sách này tác giả đã trình
bày những vấn đề lý luận cơ bản nhất về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Qua nghiên cứu thực trạng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh
Thanh- Nghệ- Tĩnh, đưa ra những đánh giá chung về thành tựu cũng như hạn
chế mà các tỉnh này đạt được để từ đó đưa ra những định hướng, mục tiêu và
các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn ở các tỉnh trên.
Một số công trình thuộc nhóm thứ hai gồm có:
- Giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn ở Hà Nội, của
Phạm Thị Thanh Hương, luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị, Đại học quốc gia
Hà nội, 2010. Luận văn đưa ra những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn
giải quyết việc làm ở một số tỉnh trên cả nước. Đưa ra thực trạng giải quyết
việc làm ở khu vực Hà Nội đồng thời đề xuất những định hướng và giải pháp
để khắc phục những hạn chế còn tồn tại đối với vấn đề giải quyết việc làm
thực tiễn của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; việc làm và thị trường lao
động; thực trạng và những giải pháp để giải quyết vấn đề việc làm cho người
lao động ở nông thôn. Đó là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi kế thừa trong
quá trình thực hiện luận văn này. Tuy vậy, vấn đề tác động của quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tới việc làm của người lao động nhất là
tại địa bàn huyện Quốc Oai thì vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một
7
cách toàn diện và hệ thống. Đây là khoảng trống kiến thức mà luận văn này
mong muốn tìm hiểu và giải đáp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là từ sự nghiên cứu, phân tích tác động của quá
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tới việc làm của nông dân đặc biệt
là tại huyện Quốc Oai, đề xuất những quan điểm, định hướng và giải pháp hạn
chế tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến việc làm của người lao động trên
địa bàn huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và bổ sung, phát triển, làm rõ thêm những căn cứ lý
luận, kinh nghiệm thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
trong quá trình CNH, HĐH.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tác động của CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn đến việc làm của người lao động tại huyện Quốc Oai từ năm 2008
đến năm 2012; chỉ ra những hạn chế, yếu kém và những nguyên nhân cơ bản
của những hạn chế, yếu kém đó.
- Đề xuất các quan điểm, phương hướng chủ yếu và một số giải pháp
cơ bản giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Quốc Oai trong quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến
năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
chia ra thành nhiều lĩnh vực khác nhau để từ đó tổng hợp lại, đưa ra những
đánh giá khái quát tới cụ thể nhất về tình hình việc làm của lao động nông
thôn trong huyện.
9
6. Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận dưới góc độ kinh
tế học chính trị về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và tác động của nó tới
việc làm của người lao động đặc biệt là đối với nông dân.
- Đánh giá tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn tới việc làm của nông dân trên địa bàn huyện Quốc Oai
trong thời gian qua trên cả hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực;
những biện pháp của chính quyền địa phương trong giải quyết việc làm cho
người lao động, rút ra những hạn chế trong vấn đề này và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và một số giải pháp hạn chế tác động
tiêu cực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
tới việc làm của nông dân và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm
cho nông dân trên địa bàn huyện trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn đến việc làm của người lao động: Những vấn đề lý luận và thực
tiễn
Chương 2: Thực trạng tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn đến việc làm của người lao động tại huyện Quốc Oai
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến việc làm của người
11
nông thôn còn phản ánh sự phát triển của các ngành kinh tế khác trên địa bàn
nông thôn.
Hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình ứng dụng những tiến bộ khoa
học công nghệ tiên tiến vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả còn Hiện đại hóa nông thôn là quá trình
biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ trạng thái kinh tế thuần nông thành khu
vực nông thôn phát triển toàn diện, hiện đại dựa trên nền tảng của sự phát
triển khoa học công nghệ, phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Giữa hiện đại hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn có sự khác
nhau nhất định. Nếu hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình làm tăng năng suất
lao động, tăng chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp, thì hiện đại hóa
nông thôn, ngoài việc đó ra còn phải tạo sự phát triển của công nghiệp, dịch
vụ và mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội nông thôn như: phát triển hệ thống
điện, đường, trường, trạm,…và cả đời sống văn hóa- tinh thần.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung Ương Đảng
khóa IX đã chỉ ra nội dung tổng quát của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
gồm hai quá trình là: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Văn kiện ghi: “Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường;
thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa
học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công
nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường.
CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công
nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng và lao động nông nghiệp; xây dựng kết
12
vững chắc thúc đẩy toàn bộ quá trình CNH, HĐH nền kinh tế đất nước . Ở các
nước chậm và đang phát triển trong đó có Việt Nam, nguồn đóng góp của
nông nghiệp vào GDP là rất quan trọng để phát triển kinh tế. Nếu như không
có các dòng đầu tư nước ngoài, chiến lược phát triển công nghiệp ở các nước
này trong giai đoạn đầu tất nhiên phải dựa vào tích luỹ từ nông nghiệp. Hơn
nữa, khi nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân được nâng cao thì họ mới
có sức mua để tiêu thụ hàng hoá công nghiệp và dịch vụ nội địa. Do vậy,
riêng đối với Việt Nam, là một đất nước đang phát triển, để thúc đẩy quá trình
CNH, HĐH nền kinh tế đất nước thì ta phải đặc biệt coi trọng CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn.
Mặt khác, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là mũi đột phá quan
trọng nhằm giải phóng sức lao động của giai cấp nông dân, tạo điều kiện khai
thác tốt nhất tiềm năng dồi dào về đất đai và lao động. Việt Nam có nguồn lao
động dồi dào, đây là một lợi thế tương đối quan trọng để tiến hành CNH,
HĐH ở nông thôn. Ngược lại, khi quá trình đó diễn ra, nó lại giải phóng sức
lao động ở nông thôn tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Ngoài lợi
thế về nguồn lao động thì nước ta có một nguồn tài nguyên về đất đai vô cùng
phong phú, trước đây mới chỉ khai thác bằng những kỹ thuật lạc hậu, qua kinh
nghiệm lâu đời. Thực hiện CNH, HĐH nông thôn ta có thể khai thác tốt nhất
tiềm năng về đất đai để phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.
Thứ hai, do vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh
tế- xã hội.
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển KT-
XH, nhất là đối với một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu như Việt Nam.
Các vai trò cơ bản của nông nghiệp, nông thôn là: cung cấp lương thực- thực
phẩm cho xã hội; cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản
14
phẩm; cung cấp nguồn nhân lực cho công nghiệp và dịch vụ; tích lũy vốn cho
nền kinh tế và là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho CN và DV. Các vai trò đó sẽ
của nông nghiệp, nông thôn cho nền kinh tế ngày càng cao.
Công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt cả thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn một mặt
sẽ cho phép khai thác triệt để và có hiệu quả tiềm năng của nông, lâm, ngư
nghiệp nhằm tạo ra giá trị thu nhập cao mặt khác sẽ tạo ra hàng hóa có giá trị
gia tăng cao, do đó tổng giá trị hàng hóa nông sản nói chung và giá trị kim
ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sẽ tăng nhanh. Đây là nguồn vốn tích lũy
quan trọng cho quá trình CNH, HĐH.
+ Nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của hàng hóa
CN và DV.
Một khi nông nghiệp và nông thôn được CNH, HĐH, đời sống của
người dân nông thôn được nâng cao, tất yếu sẽ làm tăng sức mua của thị
trường. Khi đó, CN và DV có cơ hội đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa tại thị trường
nông thôn. Vậy là, nông thôn đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy CN và DV
mở rộng sản xuất, kinh doanh, nhờ đó, KT- XH cũng sẽ được phát triển.
+ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đời sống dân cư được nâng
cao, là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội
Nông thôn là khu vực kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân cư của
đất nước. Phát triển kinh tế nông thôn một mặt đảm bảo nhu cầu lương thực
thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, là thị trường của CN
và DV … Mặt khác , phát triển kinh tế nông thôn trực tiếp nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn. Hơn thế nữa, cư dân nông thôn
chủ yếu là nông dân, người bạn đồng minh, là chỗ dựa đáng tin cậy của giai
16
cấp công nhân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc
xã hội chủ nghĩa. Phát triển nông nghiệp, nông thôn góp phần củng cố liên
minh công nông, tăng cường sức mạnh của chuyên chính vô sản.
1.1.2. Nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn
Nước là một trong bốn điều kiện và là điều kiện cơ bản nhất của sản
xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với nền nông nghiệp lúa nước như Việt
Nam. Năng suất cây trồng, vật nuôi cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào việc
có cung cấp đầy đủ nước cho nó một cách thật sự khoa học hay không, bởi dù
công cụ lao động có hiện đại đến mấy, dù phân bón có tốt đến mấy mà tưới
tiêu không chủ động được thì năng suất cây trồng vẫn bị hạn chế. Một ví dụ
điển hình là ở miền Trung Việt Nam do thường xuyên bị nắng hạn nên năng
suất cây trồng rất thấp, thậm chí nhiều năm còn bị mất mùa lớn. Nguyên nhân
chủ yếu là do không chủ động được nguồn nước tưới tiêu hợp lý.
Như vậy, muốn đạt hiệu quả sản xuất nông nghiệp cao cần phải phát
triển mạnh hệ thống thủy lợi, thủy nông để đảm bảo việc tưới tiêu chủ động,
khoa học. Nội dung CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn về mặt này có nhiệm
vụ quan trọng và cấp bách là phải tăng cường hệ thống trạm bơm, tu bổ hệ
thống kênh mương, hồ đập, hệ thống đập ngăn mặn để giải quyết về cơ bản
yêu cầu nước tưới và tiêu úng, thoát lũ cho các vùng nông nghiệp. Đối với
vùng sản xuất tập trung chuyên canh trên một diện tích rộng như trong các
trang trại cà phê, hồ tiêu, cam, chè…thì cần phải trang bị công nghệ hiện đại
như hệ thống các dàn phun mới đảm bảo được hệ thống tưới nước một cách
khoa học, mang lại hiệu quả cao hơn. 18
Điện khí hóa:
Đây là điều kiện để các công cụ cơ giới phát huy tác dụng. Ở Việt
Nam, vai trò của điện khí hóa nông thôn mặc dù đã được đặt ra khá lâu,
nhưng thực tế mới chỉ được ứng dụng một cách rộng rãi vào cuối thập kỷ 90
của thế kỷ XX, khi mạng lưới điện quốc gia đã về tới các vùng nông thôn
Thực hiện nội dung điện khí hóa nông thôn trong những năm trước
mắt là đẩy mạnh xây dựng các trạm điện với công suất khác nhau không chỉ
đến các huyện mà còn phải đến các xã, thôn. Đối với nông thôn vùng sâu,