Nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh (Nghiên cứu trường hợp Quận Hoàng Mai, Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG Nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh
(Nghiên cứu trường hợp Quận Hoàng Mai,
Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

2.2. Đặc điểm tâm, sinh lí của lứa tuổi VTN 45
2.3. Những nhận biết cơ bản của học sinh THPT quận Hoàng Mai về chính
sự phát triển sinh lí của bản thân 52
2.4. Nhận biết về các nội dung của SKSS 55
CHƯƠNG 3: KIẾN THỨC, HIỂU BIẾT, TÂM THẾ HÀNH VI VÀ XU
HƯỚNG BIẾN ĐỐI NHẬN THỨC VỀ SKSS CỦA HỌC SINH THPT QUẬN
HOÀNG MAI 67
3.1. Quan điểm của các em về những mục đích của tình dục trong thời gian học
THPT 67
Nguyễn Thị Phương Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

2
3.2. Hiểu biết và tâm thế hành vi của học sinh THPT quận Hoàng Mai về hậu
quả khi quan hệ tình dục ở lứa tuổi VTN 71
3.3. Hiểu biết và tâm thế hành vi của học sinh THPT quận Hoàng Mai về một số
tình huống “có vấn đề” 73
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
Một số khuyến nghị chung 93
Giáo dục trong nhà trường 94
Giáo dục trong gia đình 96
Giáo dục trong các hoạt động đoàn thể 98
Giáo dục qua các phương tiện truyền thông 99
Phối hợp các lực lượng 100
Một số khuyến nghị về biện pháp nâng cao nhận thức về SKSS 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học


Ủy ban dân số giáo dục và trẻ em
UNDP
Chƣơng trình phát triển Liên Hợp Quốc
UNFDA
Quỹ dân số Liên Hợp Quốc
UNESCO
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hợp Quốc
VTN
VTN
XHH
Xã hội học
WHO
Tổ chức Y tế thế giới

Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

2
Phần I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử đƣơng đại, nhất là trong gần nửa thế kỷ qua cho thấy rằng, vấn đề
dân số không còn là điều quan tâm của một dân tộc, một quốc gia, một khu vực mà
nó đã trở thành vấn đề toàn cầu. Chƣơng trình dân số thế giới đƣợc triển khai với
sự tham gia của hầu hết các quốc gia và đã phát triển không ngừng cả về số lƣợng
lẫn chất lƣợng. Kết quả ấy đƣợc thể hiện bằng những mốc quan trọng tại các hội

lứa tuổi VTN nói riêng là một nội dung quan trọng cần đƣợc đẩy mạnh. Lớp trẻ cần
đƣợc trang bị những tri thức cơ bản về dân số và phát triển. Nếu đƣợc trang bị đầy
đủ kiến thức về sức khoẻ sinh sản, họ sẽ tránh đƣợc những sai lầm trong quan hệ
tình dục. Đồng thời, họ sẽ có cơ hội tốt hơn để ổn định sức khoẻ và phát triển toàn
diện. Muốn có đƣợc một chƣơng trình giáo dục SKSS phù hợp, điều quan trọng
đầu tiên là phải nắm bắt đƣợc nhận thức của từng đối tƣợng dân cƣ về vấn đề này.
Trong trƣờng hợp này, HS THPT không hề là một ngoại lệ.
Theo Điều tra biến động dân số - KHHGĐ năm 2007
1
, nƣớc ta có 19,4 triệu
ngƣời ở độ tuổi 15 đến 24. Nếu tính từ 10 đến 19 tuổi, thì con số cũng lên đến
20,89 triệu ngƣời. Dự báo đến năm 2010 lực lƣợng này còn tiếp tục tăng. Đây là
độ tuổi chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ và tuổi trƣởng thành, là độ tuổi mà ở đó VTN
phát triển rất nhanh về thể chất, thể lực; thoát dần khỏi phạm vi gia đình để hội
nhập vào tập thể, tham gia các hoạt động nhiều mặt để rèn luyện, trƣởng thành.
Đây là một lực lƣợng dân số tiềm năng cho sự phát triển KT-XH của đất nƣớc khi
bƣớc vào thiên niên kỷ mới. Do đời sống kinh tế đƣợc nâng cao và sự tác động của
nhiều yếu tố văn hoá xã hội, VTN nƣớc ta cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới bƣớc
vào tuổi dậy thì sớm, sớm đi vào yêu đƣơng và sớm có hoạt động tình dục so với
trƣớc. Do đó, việc cung cấp cho thế hệ trẻ những kiến thức toàn diện về sức khoẻ
sinh sản để họ có thể hiểu, định hƣớng và có hành vi phù hợp, có trách nhiệm là
một đòi hỏi hết sức cần thiết và bức xúc.
Trƣớc thực tế cấp bách đó, Chính phủ ta đã đề ra “Chiến lƣợc quốc gia về
chăm sóc sức khoẻ sinh sản 2001-2010” với mục tiêu: Đảm bảo đến năm 2010,
tình trạng sức khoẻ sinh sản Việt Nam sẽ được cải thiện đáng kể khoảng cách giữa
các vùng và các đối tượng sẽ được thu hẹp bằng việc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu
đa dạng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản phù hợp với điều kiện của các địa phương,
đặc biệt quan tâm tới những vùng, đối tượng khó khăn trong đó cải thiện sức khoẻ
sinh sản VTN và thanh niên- thế hệ tương lai của đất nước là một mục tiêu cụ thể
rất cần được chú trọng; Chiến lƣợc quốc gia về chăm sóc sức khoẻ VTN giai đoạn

2003. Những hành động đó đã thể hiện rõ tầm quan trọng của vấn đề sức khỏe dân
số nói chung và SKSS nói riêng. Đồng thời, chăm sóc sức khoẻ sinh sản đƣợc coi
là một quyền cơ bản: “ Mọi công dân đều có quyền được cung cấp thông tin và
dịch vụ dân số có chất lượng, thuận tiện, an toàn và được giữ bí mật theo quy định
của pháp luật ”, “ Mọi công dân có quyền được lựa chọn các biện pháp chăm
sóc SKSS/ KHHGĐ”. Chƣơng trình hành động quốc gia vì trẻ em - Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã nghiên cứu xây dựng giáo trình về tổ chức giáo dục giới tính trong
trƣờng học. Bộ Y tế, Uỷ ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hoá gia đình (gần đây có
tên gọi là UBDS GĐ&TE) đã đề ra nội dung về sức khoẻ sinh sản (SKSS) VTN
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

5
nhƣ một hoạt động quan trọng hàng năm trong toàn ngành. Các đoàn thể quần
chúng nhƣ Hội LHPN, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên đã quan tâm tổ chức
nhiều hoạt động nâng cao nhận thức cho các hội viên, đoàn viên về vấn đề SKSS
VTN. Trong các giải pháp cần thực hiện nhằm đạt đƣợc mục tiêu của Chiến lược
quốc gia phòng chống HIV/ AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và Tầm nhìn 2020
(đƣợc Chính phủ ta thông qua tháng 03/2004) gồm có: chống phân biệt, kỳ thị;
đảm bảo sự cam kết về mặt chính sách đối với vấn đề bình đẳng giới…Đặc biệt từ
tháng 1/2004 bắt đầu chƣơng trình sáng kiến SKSS cho thanh thiếu niên ở Việt
Nam (RHIYA VN) chú trọng đến vấn đề bình đẳng giới trong các hoạt động cung
cấp dịch vụ và giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên. Chƣơng trình này triển khai
với hai hoạt động chính: 1/ tuyên truyền, vận động, truyền thông, thay đổi hành vi
về SKSS và tình dục; 2/ cải thiện chất lƣợng cung cấp dịch vụ và thay đổi hành vi
tiếp cận và sử dụng dịch vụ trong thanh thiếu niên.
Vấn đề sức khoẻ VTN là một vấn đề khá mới mẻ, khó và phức tạp: nói đến
các chức năng kinh tế, văn hoá, xã hội và đạo đức, lối sống. Do vậy, về tổng thể,
có thể khẳng định rằng: hiệu quả của các hoạt động vì SKSS VTN trong thời gian
qua hiệu quả còn khá hạn chế. Vì nhiều lí do, nhất là chƣa có những công trình
nghiên cứu toàn diện và đầy đủ, cũng nhƣ chƣa có một hệ thống số liệu, hay kết

dục… với sự nhận thức về SKSS.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu tìm hiểu thái độ của học sinh THPT ở quận Hoàng Mai, qua đó
bổ sung thêm một phần hiểu biết về thực trạng nhận thức đối với vấn đề SKSS.
Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để tuyên truyền, giáo dục và định hƣớng cho
học sinh nhận thức tốt hơn về SKSS.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
* Miêu tả thực trạng nhận thức về SKSS của học sinh tại quận Hoàng Mai;
* Đo lƣờng và đánh giá nhận thức về SKSS của học sinh quận Hoàng Mai;
* Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về SKSS của học sinh
THPT ở quận Hoàng Mai trên cơ sở phân tích những nguyên nhân tác động đến
nhận thức của nhóm tác nhân này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Ngoài những nhiệm vụ hiển nhiên nhƣ xây dựng bảng hỏi, tập hợp và xử lí
dữ liệu, đề tài cần hoàn thành các nhiệm vụ nội dung cụ thể sau:
* Phân tích thực trạng nhận thức về SKSS của hai nhóm học sinh THPT lớp
10 và 12 ở quận Hoàng Mai;
* So sánh nhận thức của tiểu nhóm học sinh trên, giữa nam và nữ về SKSS;
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

7
* Phân tích những đặc thù của từng nhóm học sinh tác động lên nhận thức
của họ về SKSS (nguồn gốc XH: nguồn gốc nông thôn lên đô thị (thế hệ bố mẹ lên
đô thị), học vấn (chọn năm đầu và năm cuối xem có gì khác nhau trong nhận thức
hay không?), nghề nghiệp (công nhân, nông dân, làm nghề tự do, buôn bán, viên
chức nhà nƣớc), cơ chế tiếp cận về SKSS, giới tính, tuổi, vị trí nơi ở (ở gần hay xa
những nơi nhạy cảm?)
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

suất

Tỷ lệ
(%)
Biểu đồ

Giới tính

Nam

96

48%
48%
52%
1
2Nữ

104

52%

Khối lớp
Lớp 10

100


gốc xã
hội (của
gia đình)
Công nhân
viên chức
78
39%
39%
51%
8%
2%
1
2
3
4

Buôn bán tự
do
104
51%
Làm nông
15
8%
Khác
03
2%

Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

9

Mai, đƣợc tiếp xúc và giao lƣu nhiều với Bí thƣ, Cố vấn Đoàn các trƣờng, nắm
vững nghiệp vụ Đoàn nên đã khuyến khích ngƣời tham gia thoải mái trong việc
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

10
bày tỏ ý kiến của mình.
7.3. Các phương pháp khác.
Ngoài ba phƣơng pháp trên, đề tài còn sử dụng các phƣơng pháp khác nhƣ
(quan sát công khai hoặc bí mật) hoặc sử dụng các phƣơng pháp có liên quan nhƣ
chụp ảnh, vẽ bản đồ.
8. Giả thuyết và khung lí thuyết.
8.1 Giả thuyết nghiên cứu.
Nhận biết chung của học sinh THPT quận Hoàng Mai về các nội dung SKSS
ở mức cao, trong khi đó kiến thức, hiểu biết và tâm thế hành vi của họ về vấn đề
này lại ở mức độ thấp hơn.
Có sự khác biệt về nhận thức giữa hai nhóm học sinh THPT quận Hoàng Mai
theo giới tính và khối lớp (trình độ học vấn). Sự khác biệt trong nhận thức về
SKSS của nhóm khách thể này xét dƣới góc độ nguồn gốc xã hội - nghề nghiệp
của bố mẹ là không rõ ràng.
Vẫn tồn tại một số xu hƣớng hành vi rủi ro trong nhận thức về SKSS của học
sinh THPT quận Hoàng Mai.
8.2 Khung lí thuyết
pháp luận Mác – xít, cần phải nghiên cứu con ngƣời trong sự vận động và trong
mối quan hệ tổng hòa của xã hội. Dựa vào nguyên tắc này, chúng tôi sẽ nghiên
cứu xem các em học sinh THPT quận Hoàng Mai sẽ “lớn lên” hay phát triển nhƣ
thế nào trên cơ sở điều tra về nhận thức của các em. Muốn đề ra đƣợc các biện
pháp nâng cao nhận thức của đối tƣợng xã hội này, điều quan trọng trƣớc hết là đo
lƣờng và đánh giá chính xác hiện trạng nhận thức của họ. Ứng dụng phƣơng pháp
luận Mác – xít, để có thể đề ra các phƣơng thức hay biện pháp can thiệp cải thiện
hành vi của nhóm tác nhân là học sinh THPT đối với SKSS, chúng ta cần phải đặt
họ trong mối quan hệ giữa gia đình, nhà trƣờng, các nhóm đoàn thể xã hội và các
phƣơng tiện truyền thông đại chúng. Hay nói cách khác, các em có những kì vọng
gì từ các môi trƣờng xã hội này để có thể lớn lên? Các môi trƣờng xã hội hóa ấy đã
hình thành cho họ những tâm thế nào trƣớc những vấn đề về SKSS?
1.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề SKSS
Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm đến yếu tố con ngƣời trong đó chất
lƣợng đặt lên hàng đầu, vì vậy luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em.
Chƣơng trình SKSS VTN là một nội dung quan trọng trong Chiến lƣợc chăm sóc
SKSS quốc gia giai đoạn 2001 – 2010 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ ký tại Quyết
định số 136/QĐ-TTG ngày 28/11/2000 và Quyết định số 01/2006/QĐ - DSGĐTE
ngày 17/3/2006 của Bộ trƣởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em ban
hành chiến lƣợc truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số,
SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2006 – 2010. Bao gồm các chỉ tiêu phấn đấu cho giai
đoạn này:
Mục tiêu 1:
- Nâng cao hiểu biết, kiến thức và kỹ năng sống cơ bản về SKSS,
SKSS/KHHGĐ, tình dục an toàn, phòng chống HIV/AIDS, ma túy mại dâm nhằm
góp phần tạo hành vi đúng đắn, có lợi cho SKSS VTN, Thanh niên, kể cả thanh
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

12
niên đã kết hôn.

quận Hoàng Mai đối với ý thức chung của xã hội Việt Nam khi nói đến vấn đề
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

13
SKSS.
Khái niệm ý thức tập thể hay khái niệm ý thức xã hội đóng vai trò trung
tâm trong sự nghiệp xã hội học của Durkheim. Ý thức tập thể là biểu thị sự tồn tại
của một tập hợp các giá trị chung trong cùng một nhóm tác nhân. Có thể hiểu đây
là tập hợp những niềm tin, những cảm giác chung cho những thành viên của cùng
một xã hội. Tất cả những tập hợp đó tạo thành một hệ thống có giá trị riêng. Theo
lí thuyết này, tập hợp chuẩn mực về SKSS là một hệ giá trị riêng. Hành vi vi phạm
hệ giá trị ấy đƣợc xếp vào loại hành vi “lệch chuẩn”.
Durkheim đƣợc xem là nhà xã hội học đầu tiên đề xuất vấn đề "tính chuẩn
mực của cái xã hội". Đối với cách hiểu của Durkheim, cái xã hội tồn tại là một
hiện thực có thể xác định mang tính sự vật, mà cơ sở của nó nằm trong tính chuẩn
mực của các ứng xử xã hội. Ông xem hiện thực này là thế giới của các sự kiện xã
hội. Các chuẩn mực xã hội trở thành cái bên ngoài. Nó giới hạn ý chí của con
ngƣời trong quan hệ của họ với nhau. Chuẩn mực hóa có nghĩa là sự thiết chế hóa
các quy tắc và tiêu chuẩn liên quan với nhau, loại trừ các khả năng khác. Mỗi sự
chuẩn mực hóa gắn với một sự lựa chọn. Điều này là một nguyên tắc cơ bản của
sự hình thành cấu trúc xã hội. Các chuẩn mực tạo ra một khuôn khổ cho hành
động. Nhƣ vậy chúng phải có tính trừu tƣợng, khác với mọi kiểu hành động cụ thể.
Chuẩn mực thể hiện cái chung, "kiểu điển hình" của hành động. Định hƣớng qua
lại của hành động của nhiều cá nhân và việc xây dựng nên các quan hệ xã hội chỉ
có thể có đƣợc khi các cá nhân hành động trên cơ sở những tiêu chuẩn và quy tắc
đƣợc biết và đƣợc chấp nhận chung. Các tiêu chuẩn và quy tắc này đƣợc gọi là các
chuẩn mực xã hội. Chuẩn mực xã hội đƣợc tiếp nhận trong quá trình xã hội hóa,
đƣợc nội tâm hóa và đƣợc kết nối trong các quá trình thiết chế hóa.
Các chuẩn mực thể hiện rất đa dạng, có thể hệ thống hóa chúng theo nhiều
cách khác nhau. Chẳng hạn, theo mức độ chặt chẽ và gắn với nó là mức thƣởng

Ngƣợc lại ông cho rằng, để có một sự gắn kết xã hội thì ý thức tập thể và ý thức xã
hội phải thông qua quá trình xã hội hoá cá nhân. Vậy ý thức cá nhân có chứa
những yếu tố của ý thức xã hội. Chính vì thế, ý thức cá nhân muốn lớn lên đƣợc
thì phải nhận thức theo những quy chuẩn của xã hội thừa nhận.
Nhƣ vậy, khi đo nhận thức của xã hội thì không phải là cộng các cá nhân
mà tìm xem cá nhân đó đã xã hội hóa đƣợc bao nhiêu trong những giá trị quy
chuẩn của xã hội.
1.2.2. Lí thuyết xã hội hóa
Xã hội hóa là quá trình mà qua đó các cá nhân nội hóa những quy tắc,
chuẩn mực và giá trị của một xã hội. Sau đó, cá nhân sẽ ngoại hóa những gì hấp
thụ và học đƣợc qua hành động xã hội của mình. Xã hội hóa trƣớc hết đƣợc hiểu
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

15
nhƣ là một quá trình theo đó đứa trẻ lớn lên trong xã hội. Nhƣng theo một nghĩa
rộng hơn, xã hội hóa chính là khả năng hội nhập của các cá nhân vào một cộng
đồng xã hội.
Khi sử dụng định nghĩa về xã hội hóa này vào nghiên cứu nhận thức của
học sinh THPT về SKSS, một số câu hỏi đầu tiên cần đặt ra, đó là chuẩn mực của
xã hội chúng ta về SKSS là gì? Các HS THPT nhận biết đƣợc những gì từ những
chuẩn mực đó? Họ chuẩn bị tâm thế nhƣ thế nào để thể hiện đƣợc rằng, nhận thức
của bản thân về SKSS là ở mức cao? Hay nói cách khác, trong những tình huống
có vấn đề về SKSS, thái độ, hành vi, tâm thế của họ ra sao?
Lí thuyết xã hội hóa đƣợc dùng làm cơ sở đề nhìn nhận và lí giải vấn đề. Có
nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa. Căn cứ vào tính chủ động của cá nhân
trong quá trình xã hội hóa, chúng ta có thể tạm chia thành hai loại:
- Loại 1: ít đề cập đến tính chủ động của cá nhân trong quá trình thu nhận
kinh nghiệm xã hội. Các cá nhân bị khuôn sẵn vào các chuẩn mực.
Một đại diện cho cách hiểu này là Neil Smelser. Ông cho rằng “Xã hội hóa là quá
trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tƣơng ứng với vai trò của

Lí thuyết này đƣợc cụ thể hóa trong những ứng dụng ở phƣơng Tây hiện đại
(Pháp, Mỹ) đặc biệt là tam giác nhận thức của Bernard Clof. Theo tam giác này,
mọi sự vật đều chứa trong mình nó thông tin (đỉnh thứ nhất). Thông tin tồn tại
khách quan. Trong trƣờng hợp này, mọi qui định và chuẩn mực xã hội về SKSS
cũng tồn tại khách quan. Để đi đến nhận thức về SKSS, thì tác nhân cần nhận biết
những thông tin chứa ẩn trong đó. Nhận biết thông tin trở thành đỉnh thứ hai của
tam giác. Nhƣng nếu tác nhân chỉ dừng lại ở mức độ nhận biết thông tin về SKSS,
thì chứng tỏ tác nhân chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức thấp. Để thể hiện rằng, tác
nhân có nhận thức cao về một đối tƣợng nào đó (SKSS trong trƣờng hợp này), thì
tác nhân phải chứng tỏ hiểu biết và kiến thức về nó. Đây chính là đỉnh thứ ba
trong tam giác nhận thức của Bernard Clof.
Tuy nhiên, khi vận dụng tam giác này để đo lƣờng và đánh giá nhận thức
của học sinh THPT đối với SKSS, chúng ta cần lƣu ý rằng, chỉ xuất phát từ nhận
biết, hiểu biết và kiến thức về SKSS của họ để kết luận về nhận thức thì chƣa đủ.
Việc đo lƣờng nhận biết, hiểu biết và kiến thức chỉ dừng lại ở mức định lƣợng. Do
vậy, để đánh giá đƣợc nhận thức nói chung và của HS THPT nói riêng về SKSS,
chúng ta cần tiến hành kiểm chứng thái độ và hành vi của khách thể này đối với
SKSS. Nhƣng trong thực chất, để đánh giá đƣợc thái độ và hành vi, thì HS cần
phải đƣợc đặt vào trong các tình huống có vấn đề. Từ đó, chúng tôi quan sát tâm
thế của tác nhân đối với tình huống có vấn đề ấy: họ sẽ có thái độ gì và sẽ xử lí ra
sao?
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

17
Nhƣ vậy, mọi tác nhân không thể tự lớn lên, nghĩa là không thể tự nhận
thức đầy đủ về đối tƣợng. Muốn trƣởng thành và sống trong xã hội, tác nhân cần
liên hệ với ngƣời khác và thông qua ngƣời khác. Vậy đối tƣợng của học sinh
hƣớng đến ở đây là SKSS. Nhƣng bản thân học sinh chƣa thể tự hiểu mà phải
thông qua ngƣời khác. Ở đây chính là môi trƣờng xã hội hóa: gia đình – nhà
trƣờng – tổ chức xã hội – đoàn thể và truyền thông đại chúng.

mà chủ thể chuyển thông tin khách quan thành thông tin chủ quan nhƣng chƣa
đƣợc kiểm chứng chặt chẽ. Có thể nói, đây là giai đoạn thụ động nhận thông tin và
dựa vào trí nhớ là chính. Trong những điều kiện nhất định có gợi ý, những thông
tin dƣới dạng nhƣ “nghe nói”, “có biết đến” có thể tồn tại trong tác nhân dƣới
dạng rất chung chung. Ở đây, chúng tôi sẽ điều tra về nhận biết của học sinh
THPT quận Hoàng mai về các nội dụng cơ bản của SKKS. Còn kiến thức lại thể
hiện ở một cấp khác vì kiến thức thể hiện mối quan hệ giữa các thông tin mà mình
thu đƣợc. Kiến thức thƣờng sâu hơn nhận biết vì nó phải trả lời cho câu hỏi “biết
nhƣ thế nào?”. Khi một ai đó có kiến thức thì nhất định phải biết sắp xếp, lựa
chọn, giải thích, thể hiện thái độ, trình bày quan điểm Tất cả những tâm thế xử lí
tình huống có vấn đề chính là hệ quả của kiến thức, bởi vì nếu không có giai đoạn
chuẩn bị này thì không thể nắm đƣợc xu hƣớng hành vi nhƣ thế nào
1
.
1.2.4. Lí thuyết về thói quen vô thức và kinh nghiệm hành vi (habitus)
của Pierre Bourdieu
Habitus là toàn thể thói quen và kinh nghiệm hành vi của một văn hóa
hoặc của một môi trường xã hội thẩm thấu vào cá nhân trong quá trình xã hội
hóa
2
.
Tác giả đƣa ra thuật ngữ này nhằm giải đáp những tranh cãi giữa hai chủ
thuyết khách quan và chủ thuyết chủ quan trong xã hội học. Vậy chủ thuyết khách
quan là gì và chủ thuyết chủ quan là gì?
Chủ thuyết khách quan
3
do Émile Durkheim là đại diện và khởi xƣớng. Chủ
thuyết này coi « thế giới xã hội (các sự kiện xã hội = các thiết chế xã hội) như là
các sự vật (tự nhiên)
4

công thức (formula).
Ngƣợc lại, chủ thuyết chủ quan
1
tập trung giải nghĩa xã hội từ kinh nghiệm
cá nhân. Các lí thuyết cá nhân thuộc chủ thuyết này tìm hiểu và diễn giải kinh
nghiệm cá nhân mà không đặt câu hỏi về những đặc thù xã hội (đặc thù cấu trúc)
trong hành động xã hội của các cá nhân ấy.
Trong lịch sử xã hội học, các tranh cãi giữa hai chủ thuyết này là vô tận :
đặc biệt đƣợc thể hiện rõ về mặt phƣơng pháp luận (định lƣợng và định tính). Do
vậy, thuật ngữ habitus của Pierre Bourdieu ra đời nhằm dung hòa hai dòng chủ
thuyết này. Habitus đã tạo ra một định hƣớng cơ bản để giải quyết sự mâu thuẫn
giữa dòng thuyết khách quan (cấu trúc) và dòng thuyết chủ quan (cá nhân). Pierre
Bourdieu định nghĩa nhƣ sau : « Habitus là toàn thể các tâm thế hành vi được học
hoặc thẩm thấu vào cá nhân. Cá nhân có xu hướng tái tạo các tâm thế hành vi ấy
bằng cách kích hoạt các mô hình hành vi và thích ứng chúng với các điều kiện hay
hoàn cảnh mà họ sống trong đó »
2
.
* Ba sắc thái ngữ nghĩa của habitus theo định nghĩa của Pierre
Bourdieu

1
Chủ thuyết chủ quan: subjectivisme (tiếng Pháp) hoặc subjectivism (tiếng Anh).
2
Trịnh Văn Tùng, Từ điển xã hội học (dịch từ nguyên bản tiếng Pháp), André AKOUN và Pierre
ANSART, Dictionnaire de Sociologie, Paris, NXB. Le Robert và Seuil, trang 253.
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

20
Thứ nhất, habitus là một tập hợp kết quả của các quá trình học tập (chính

trong tình huống. Qua đó, chúng tôi thấy đƣợc bức tranh chân thực về đối tƣợng
Nguyễn Thị Phƣơng Dung Luận văn thạc sỹ xã hội học

21
nghiên cứu.
1.3. Tình hình về SKSS của VTN quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Quận Hoàng Mai là quận mới của Thành phố Hà Nội (thành lập 2004) có
diện tích 4104,1 ha (41 km2) (trên cơ sở sáp nhập 5 phƣờng của quận Hai Bà
Trƣng và 9 xã của huyện Thanh Trì cũ), dân số là 27,77 vạn ngƣời [5]. Hiện quận
Hoàng Mai, thành phố Hà Nội có 14 phƣờng (trong đó có 9 phƣờng vẫn còn Hội
Nông dân).
Cùng với cả nƣớc và Thành phố Hà Nội, trong những năm qua quận Hoàng
Mai đã có tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao, có khu công nghiệp tập trung tại phƣờng
Vĩnh Hƣng, từng bƣớc đẩy mạnh nhanh tốc độ phát triển hàng hoá. Về trình độ
học vấn và dân trí ở mức bình quân của thành phố nhƣng không đồng đều, ở một
bộ phận dân cƣ nông nghiệp còn thấp.
Theo cuộc điều tra dân số do Công an Hà Nội tiến hành, dân số thành phố Hà
Nội (trƣớc tháng 8.2008) khoảng 3,4 triệu ngƣời; là dân số trẻ (có 2,17 triệu ngƣời
trong độ tuổi làm việc) nữ nhiều hơn nam. Trong những năm qua công tác DS-
KHHGĐ đã đạt đƣợc những kết quả rõ nét, tuy nhiên tỷ lệ gia tăng dân số năm
2007 là 3,5% là một con số kỷ lục, và mức giảm sinh của Hà Nội lại tăng cao 12%.
Nhận thức của nhân dân về vấn đề KHHGĐ đã đƣợc nâng cao, tỷ lệ các cặp vợ
chồng độ tuổi sinh đẻ chấp nhận các biện pháp tránh thai ngày càng tăng. Tỷ lệ
sinh con thứ 3 trở lên giảm, tổng tỷ suất sinh là 2,3 con, phấn đấu đạt mức sinh
thay thế vào năm 2008.
Trong quá trình triển khai các hoạt động cung cấp các dịch vụ kỹ thuật
KHHGĐ quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Ủy ban DS, GĐ TE Quận đã phối
hợp với các ban, ngành, đoàn thể trong toàn Quận nhƣ: phối hợp với Đoàn TN
Quận duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ “Chăm sóc SKSS VTN” tại 10 phƣờng, phối
hợp với Hội Phụ nữ với 14 Câu lạc bộ “Bà mẹ trẻ”, “Không sinh con thứ 3”, phối

1,11
1,12
1,17
Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên (%)
4,11
3,55
3,31
2,82
Nguồn: Ủy ban DS, GĐ TE quận Hoàng Mai năm 2004, 2005, 2006, 2007.
Cùng với cả nƣớc, trong những năm qua, công tác DS -KHHGĐ của quận
Hoàng Mai nói riêng và thành phố Hà Nội đã đạt đƣợc những kết quả đáng khích
lệ. Nhận thức của cán bộ và nhân dân trong phong trào thực hiện KHHGĐ đã đƣợc
nâng cao, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng đã thực hiện quy mô gia đình ít con
(có 1 hoặc 2 con), góp phần cải thiện và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của từng
thành viên trong gia đình cũng nhƣ toàn xã hội; Tỷ lệ sinh con thứ 3 liên tục giảm
nhanh, từ 4,11% (năm 2004) đã hạ xuống còn 2,82% (2007). Bên cạnh những kết
quả đã đạt đƣợc, chƣơng trình DS - KHHGĐ vẫn còn nhiều vấn đề cần phải quan
tâm đó là: mức sinh tuy đã giảm song vẫn chƣa ổn định, một số phƣờng dân cƣ tỷ
lệ sinh con thứ 3 còn cao do cùng với quá trình tăng trƣởng của nền kinh tế xã hội,
kinh tế gia đình cũng phát triển, cuộc sống đầy đủ, nhu cầu đƣợc thỏa mãn hơn;
Cũng với lí do tình hình biến động dân số cơ học lớn, phức tạp. Tỷ lệ tăng dân số
cơ học dao động lớn, có năm tỷ lệ 6,43%, dẫn tới những khó khăn trong công tác
quản lý dân số - KHHGĐ; Một số chính sách về DS – KHHGĐ chƣa đƣợc ngƣời
dân hiểu đúng nhƣ: Điều 10 Pháp lệnh Dân số; Chƣa có cơ chế quản lý, chế tài đủ
mạnh để xử phạt những trƣờng hợp vi phạm chính sách DS – KHHGĐ nhƣ: vi
phạm sinh con thứ 3+, siêu âm lựa chọn giới tính thai nhi. Có thể nói, nhận thức về
công tác DS – KHHGĐ của một vài cơ sở, một số cấp ủy Đảng chƣa đầy đủ nên
sự đầu tƣ nguồn lực cho chƣơng trình DS – KHHGĐ trong những năm qua còn
hạn hẹp . Đặc biệt là tình trạng nạo hút thai mặc dù đã có xu hƣớng giảm so với
trƣớc đây song vẫn còn cao. Theo thống kê chƣa đầy đủ trong năm 2007, toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status