1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
TDTT trường học, bao gồm GDTC và HĐTT, là một bộ phận quan trọng
trong việc thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện, góp phần nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu, là vốn quý của mọi gia đình; là mục
tiêu của mỗi quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất
nước. Vì vậy, chăm lo thể chất cho HS là trách nhiệm của toàn xã hội, các cấp, các
ngành, đặc biệt là ngành GD&ĐT. Trong Chỉ thị 133/TTg, Thủ tướng đã yêu cầu:
"Bộ GD&ĐT cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung
giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho
HS ở các cấp học" [108, tr.130]. Trong Chỉ thị số 17-CT/TW về phát triển TDTT
đến năm 2010, Ban chấp hành Trung ương Đảng cũng chỉ đạo: "Đẩy mạnh hoạt
động TDTT trong trường học. Tiến tới bảo đảm mỗi trường đều có GV chuyên trách
và lớp học TD đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng GDTC " [2, tr.3].
Từ các chủ trương, chính sách đã được thực hiện cho thấy Đảng và Nhà nước
luôn quan tâm đến TDTT trường học, coi đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần tạo
ra con người mới, đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Tuy nhiên trong thực tế, công tác TDTT trường học chưa được coi trọng,
chưa đáp ứng yêu cầu duy trì, nâng cao sức khỏe người học; các trường học thiếu
nhiều sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi
của HSSV; đội ngũ giáo viên TD thiếu và yếu; nội dung chương trình TD chính
khóa và HĐTT ngoại khóa nghèo nàn, xơ cứng, không thu hút HS tham gia học tập
và rèn luyện [92].
Nằm ở trung điểm của đất nước, thành phố Đà Nẵng là trung tâm văn hoá,
KHCN và giáo dục, là địa bàn chiến lược của miền Trung – Tây nguyên. Đà Nẵng
còn là địa phương có phong trào TDTT phát triển khá mạnh mẽ, trong đó TDTT
trường học được các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và xã hội quan
THCS của thành phố Hải Phòng”, Nguyễn Văn Thời (2011) “Dạy học tự chọn
GDTC theo chủ đề và hoạt động ngoại khóa tự nguyện trong các trường THCS”....
Phần lớn các đề tài thường nghiên cứu ở đối tượng HS tiểu học và THCS, hầu như
3
chưa có công trình đi sâu, đánh giá toàn diện thực trạng cũng như nghiên cứu giải
pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường THPT ở phạm vi một tỉnh,
thành phố. Đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây nguyên hầu như chưa
có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề này.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu luận án với tên đề
tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và
hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở đánh giá thực trạng GDTC và
HĐTT của các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, phân tích các cơ sở lý
luận, thực tiễn, các yếu tố tác động để lựa chọn giải pháp phù hợp nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định các mục tiêu sau:
3.1. Các yếu tố đảm bảo hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở
Đà Nẵng.
3.2. Đánh giá thực trạng GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà
Nẵng.
3.3. Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả
GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
4. Giả thiết khoa học.
Nếu đổi mới nội dung chương trình môn học TD theo chủ đề tự chọn đáp
ứng nhu cầu người học và tổ chức mô hình CLB TDTT trường học phù hợp với
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra quan điểm chỉ đạo:
“Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học” và “Đổi mới hệ thống GD theo hướng mở,
linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức đào tạo” [8, tr.78].
Có thể nói Nghị quyết 29/NQ-TƯ là sự tổng kết toàn diện Nghị quyết Trung ương
2 (khóa VIII) về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa,
qua đó đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện GD&ĐT từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực
hiện… Mục tiêu của Nghị quyết đã tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất
lượng, hiệu quả GD&ĐT, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ
6
tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Đồng thời mở ra cơ hội để ngành
GD&ĐT quyết tâm đổi mới toàn diện công tác GD, trong đó có đổi mới, cải tiến
công tác TDTT trường học ngày càng hiệu quả, chất lượng hơn.
1.1.2. Chủ trương, chính sách của Nhà nước về TDTT trường học:
Năm 2000, Pháp lệnh TDTT được ban hành, hoạt động TDTT lần đầu tiên
được luật hóa. Sau một thời gian chuẩn bị, Luật TDTT được Quốc hội thông qua
năm 2006 ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật TDTT đã
dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và HĐTT trong nhà
trường, đây là cơ sở pháp lý để toàn xã hội tăng cường trách nhiệm đối với công tác
TDTT trường học [110].
Không chỉ lãnh đạo bằng đường lối, chính sách, mà Nhà nước còn đề ra
những giải pháp chỉ đạo thực hiện sâu sát. Một trong những giải pháp là đẩy mạnh
công tác XHH. Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ
đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và
TDTT (2005) và Nghị định số 69/NĐ-CP (2008) về chính sách XHH đối với các
trình GDTC hợp lý..” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ
cho hoạt động GDTC trong trường học” [23, tr.162].
Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 đã đề ra yêu
cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong đó có chất lượng GDTC. Mục 5 của Nghị
quyết 06/NQ-CP (2012) ghi rõ: “Nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt là
GDTC. Đổi mới chương trình, nội dung, PPDH, gắn với việc đổi mới quy chế thi,
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập HS” [93, tr.4].
Trên cơ sở phân tích và đánh giá hiện trạng tình hình GD Việt Nam, bối
cảnh, thời cơ và thách thức đối với GD trong thập kỷ tới, Thủ tướng ra Quyết định
số 771/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển GD 2011-2020", khẳng định quan
điểm chỉ đạo: "Đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển. Đổi mới căn bản, toàn diện
nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế,
thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển GD
gắn với phát triển KHCN, tập trung vào nâng cao chất lượng GD đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành… Chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của
mỗi người học." [94, tr.8].
8
Để đạt được mục tiêu, Chiến lược đã đề ra 8 giải pháp, trong giải pháp đổi
mới nội dung và PPDH, Chiến lược đã đưa ra biện pháp: "Đổi mới chương trình và
sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực HS, vừa đảm
bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù của mỗi địa phương.
Chú trọng nội dung GD đạo đức, pháp luật, thể chất…" [94, tr.11].
Tóm lại, TDTT trường học luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và được
xác định là một nội dung chủ yếu trong nhiệm vụ cách mạng, là nhiệm vụ quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Theo đó, TDTT là một yêu
cầu khách quan của xã hội nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất
lượng cuộc sống nhân dân. Đầu tư cho TDTT trường học là đầu tư cho con người,
HSSV, qui định về đối tượng thực hiện và các yêu cầu, độ tuổi, các nội dung đánh
giá cũng như tiêu chuẩn cụ thể của từng độ tuổi và giới tính của HS các cấp [16].
Trong thực tế, số giờ quy định của môn học TD không nhiều nên công tác
TDTT trường học chỉ có thể đạt được hiệu quả khi tổ chức tốt các hoạt động ngoại
khoá cho HS. Khoa học đã chứng minh muốn nâng cao thể chất thì phải tập luyện
tích cực và thường xuyên. Một trong những nguyên tắc của phương pháp GDTC có
liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện là hệ thống luân phiên lượng vận
động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện và mối liên hệ lẫn nhau
giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện. Tính liên tục của quá trình GDTC
và luân phiên hợp lý giữa lượng vận động với nghỉ ngơi, tập thường xuyên mang lại
hiệu quả tất nhiên lớn hơn tập thất thường [96]. Ý thức vấn đề đó, Bộ GD&ĐT đã
ban hành Quy định về tổ chức HĐTT ngoại khoá cho HSSV. Văn bản này ra đời đã
tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các cơ sở GD&ĐT tổ chức các hoạt động ngoại
khoá thể thao trong HSSV [17]. Đồng thời, để thể chế hóa vai trò của GDTC và thể
thao trong nhà trường, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều lần lấy ý kiến dự thảo Nghị
định về GDTC và thể thao trong nhà trường để trình Chính phủ ban hành [95].
Nhìn chung, từ cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về TDTT
trường học đã khẳng định vai trò của nó trong việc bảo vệ, tăng cường sức khoẻ, thể
chất, giúp hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu GD toàn diện cho
HSSV. Đây là mặt GD có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và sự phát triển tầm vóc,
thể trạng của thế hệ trẻ Việt Nam. Chính vì vậy, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT
10
đã quan tâm, tạo điều kiện để các trường học triển khai các nhiệm vụ GDTC và
HĐTT, đồng thời thông qua việc ban hành các văn bản, quy định liên quan đã tạo ra
hành lang pháp lý chặt chẽ để tổ chức quản lý công tác này.
1.2. Những vấn đề cơ bản về TDTT trường học.
1.2.1. Khái niệm GDTC và HĐTT trong trường học.
là yếu tố văn hoá, là một phần cấu thành của kết quả học tập môn TD của HS.
- Giờ học thực hành là giờ học đặc trưng của dạy học TDTT, có những đặc
điểm chung của hình thức lớp – bài, trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, điều khiển và
trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học. Sự tác động giữa GV và HS tạo nên điều kiện
sư phạm tốt nhất cho quá trình GDTC. Ưu thế của giờ học thực hành còn thể hiện ở
chỗ có kế hoạch học tập chặt chẽ theo thời khoá biểu chung; lớp học có số lượng
HS ổn định, cùng lứa tuổi, hoạt động chung, đã liên kết thành tập thể [21],[55],[100].
1.2.1.2. Khái niệm HĐTT.
Luật TDTT định nghĩa “HĐTT trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của
người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới
tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui
chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [110, tr.17].
Theo Dự thảo Nghị định GDTC và thể thao trường học, HĐTT trong nhà
trường là hoạt động tự nguyện của HSSV với các nội dung tập luyện TDTT ngoại
khóa và thi đấu các môn thể thao phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức
khỏe theo các hình thức cá nhân, nhóm, CLB, nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực đáp
ứng yêu cầu môn học và phát triển năng khiếu, tài năng thể thao. Hoạt động thể thao
trong nhà trường có 2 nội dung cơ bản là tập luyện TDTT ngoại khóa và thi đấu thể
thao [95].
HĐTT ngoại khóa có vị trí rất quan trọng trong công tác TDTT trường học.
Thể thao ngoại khóa kết hợp với dạy học TD cấu thành một cấu trúc TDTT trường
học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu GD. Theo Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân
Thành và một số tác giả, HĐTT ngoại khóa có ý nghĩa: (1) Thỏa mãn nhu cầu tham
gia hoạt động của HS, thúc đẩy sự sinh trưởng phát dục có hiệu quả, giúp tăng
cường thể chất cho HS. (2) Hình thành chế độ lao động – nghỉ ngơi khoa học, thỏa
mãn tính hiếu kỳ của người tập, giúp phát triển toàn diện. (3) Làm phong phú sinh
12
13
năng định hướng, xác định các yếu tố còn lại tạo thành chất lượng GD càng thuận
lợi thì việc đánh giá chất lượng GD chỉ còn là vấn đề kỹ thuật.
Mục tiêu dạy học được xác định căn cứ vào mục tiêu GD. Đề đạt được mục
tiêu này, quá trình dạy học cần tác động lên 3 mặt đời sống tâm lý HS: mặt nhận
thức, mặt xúc cảm - tình cảm và mặt hành động. Vì vậy, mục tiêu cơ bản ở trường
phổ thông được xác định bao gồm 3 nhóm hệ thống được sắp xếp theo thứ tự là:
- Những kiến thức HS cần biết;
- Những kỹ năng, kỹ xảo HS cần tập luyện, rèn luyện;
- Những thái độ ứng xử (giá trị) thích hợp HS cần được bồi dưỡng.
Việc tổ chức, điều khiển HS nhằm nắm vững kiến thức; thực hiện thành thạo
những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết; những kinh nghiệm về thái độ sống cần
được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý [11],[14].
GDTC là một thành phần quan trọng cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ
bản cho người học, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện nhằm giúp HS có sự
tăng tiến về sức khỏe, thể lực; đạt tiêu chuẩn sức khỏe theo lứa tuổi và giới tính; có
những kiến thức, kỹ năng cơ bản về TDTT và phương pháp tập luyện; các kỹ năng
vận động cần thiết trong đời sống. Hình thành thói quen tập luyện TDTT thường
xuyên và nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật, tinh thần tập thể và
các phẩm chất đạo đức ý chí. Biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào
các hoạt động ở nhà trường và trong đời sống [1],[10],[16],[21].
Khi xây dựng CTGD môn TD, Bộ GD&ĐT đã căn cứ mục tiêu để đưa ra các
quan điểm xây dựng và phát triển với các nội dung cụ thể: “(1) CTGD môn TD phải
góp phần thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học chung và những đổi mới về PPDH,
đánh giá ở từng cấp học. (2) Lấy việc nâng cao sức khỏe, thể lực HS là mục tiêu
quan trọng nhất, xuyên suốt. (3) Đảm bảo tính sư phạm, khoa học, liên thông, kết
hợp truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học
GDTC hiện đại. (4) Chương trình phải có tính khả thi, phù hợp với tâm sinh lý lứa
tuổi và giới tính, với sức khỏe, thể lực HS, đồng thời định hướng cho việc nâng cao
thích để rèn luyện.
- Trang bị cho HS kiến thức cơ bản về giải phẩu học cơ thể người, sự thay
đổi và thích ứng của cơ thể ở trạng thái hoạt động vận động tích cực.
15
- Hoàn thiện, phát triển khả năng vận động cho HS (tố chất, thể lực, tố chất
mềm dẻo, tố chất thăng bằng...)
- Hình thành những kiến thức cần thiết, tối thiểu ở HS về vệ sinh sức khoẻ,
tầm quan trọng của sức khoẻ, của lối sống lành mạnh, tích cực.
- Hình thành, phát triển văn hoá thể chất, một trong những nền tảng văn hoá
hiện đại [10],[11].
Tóm lại, mục đích của GDTC là góp phần hoàn thiện, phát triển hài hoà yếu
tố học đường và yếu tố xã hội của HS, lấy phương tiện chính là bài tập thể chất, đó
là tổ hợp các bài tập vận động, phản ánh một trong những nhiệm vụ chính của công
tác GDTC. Việc hình thành, hoàn thiện, phát triển chức năng và thói quen vận động
cho HS là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được của GDTC trường học.
1.2.3. Nội dung dạy học và CTGD.
Nội dung dạy học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nhiều lĩnh vực ở
trình độ phổ thông mà HS cần nắm vững trong quá trình dạy học nhằm hình thành
cho các em thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và các phẩm chất, nhân cách của
con người mới, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống. Nội dung dạy học trong
khái niệm này được hiểu là nội dung học tập của HS và nội dung dạy của GV.
Nội dung học tập của HS là cái mà HS tiếp nhận và làm việc với nó trong
quá trình học tập. Nội dung học tập bao gồm hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà
HS phải nắm trong quá trình học tập. Nội dung học tập của HS có cấu trúc trên cơ
sở tính mục tiêu chung của GD, mục tiêu và nhiệm vụ dạy học của các cấp học, các
loại trường học sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm lứa tuổi HS,
đảm bảo cho HS có thể lĩnh hội được với hiệu quả tối ưu.
là công cụ chủ yếu để Bộ GD&ĐT lãnh đạo và giám sát công tác dạy học của các
cơ sở đào tạo.
1.2.4. Khái niệm giải pháp, hiệu quả và chất lượng GD.
1.2.4.1. Khái niệm giải pháp.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Giải pháp là phương pháp giải quyết một
vấn đề” [114, tr.373]. Ở đây giải pháp được hiểu là cách thức, là một công cụ người
ta dùng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn (như giải pháp kỹ thuật,
giải pháp kinh tế…). Với cách hiểu này, đôi khi người ta dùng từ “biện pháp” để
17
thay thế. Theo Từ điển Tiếng Việt, “biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể” [114, tr.62]. Tuy trong thực tế, 2 khái niệm này có thể được dùng thay
thế cho nhau, nhưng về bản chất, khái niệm “giải pháp” có ý nghĩa và nội dung rộng
lớn hơn, có tính chất vĩ mô hơn so với “biện pháp”, thường để chỉ cách thức giải
quyết một công việc cụ thể nào đó. Theo nghĩa này, người ta còn xem biện pháp là
cách thức, công cụ thực hiện giải pháp, như trong mỗi giải pháp thường đặt ra nhiều
biện pháp để thực hiện giải pháp đó.
Trong quản lý, giải pháp dùng để giải quyết một vấn đề thường được đặt ra
trên nền tảng của việc phân tích các điểm mạnh (thành tựu), điểm yếu (hạn chế) của
một tổ chức, những cơ hội và thách thức đối với tổ chức đó trong bối cảnh chung
của xã hội ở phạm vi quốc gia và quốc tế. Giải pháp thực hiện đồng thời cũng được
dựa trên các quan điểm, mục tiêu tổng quát và mục tiêu chung của vấn đề được đặt
ra và giải quyết ở tầm vĩ mô.
Trong hoạt động GD, mọi vấn đề quan hệ về GD đều có tính quy luật. Giải
pháp GD là một hệ thống những quy luật. Nhiệm vụ của các nhà khoa học, các nhà
quản lý GD ở nước ta là phải tìm ra những quy luật đảm bảo cho sự thành công của
công tác GD. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải phân tích được thực tiễn
GD của Việt Nam nói riêng và các nền GD tiên tiến của thế giới, từ đó khái quát,
mà kết quả học tập mang lại cho cá nhân người học và xã hội, trước mắt và lâu dài.
Hiệu quả, theo Từ điển tiếng Việt, là “kết quả như yêu cầu của việc làm
mang lại” [114, tr.424]. Tính hiệu quả, theo quan niệm chung, đó là sự thể hiện mối
quan hệ chung nhất giữa đầu tư công sức, nhân lực, vật lực với kết quả đạt được sau
một giai đoạn nhất định xét theo mục tiêu giáo dục trong những điều kiện cụ thể. Vì
vậy, việc đánh giá hiệu quả có thể thực hiện một cách định lượng thông qua quá
trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện của đối tượng đối
với mục tiêu đã đề ra.
Trong công tác TDTT trường học, đánh giá hiệu quả GDTC và HĐTT là quá
trình thu thập và xử lý thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về
chương trình, mục tiêu, PPDH, những hoạt động khác có liên quan của nhà trường
và ngành GD&ĐT. Đánh giá hiệu quả GDTC và HĐTT trường học là so sánh kết
quả của các hoạt động GDTC và thể thao trường học đã đạt được với mục tiêu đã đề
ra. Mục tiêu của việc đánh giá hiệu quả GD cũng là mục tiêu của quá trình GD.
19
Về phương diện kỹ thuật, đánh giá hiệu quả TDTT trong trường học cần xác
định các vấn đề như:
- Khẳng định tính xác thực của mục tiêu GDTC và HĐTT trường học.
- Xác định mức độ đạt được của mục tiêu thể hiện trong sản phẩm GD.
- Khẳng định tính nhân quả giữa quá trình GDTC và HĐTT đối với sản
phẩm được đào tạo, nói cách khác là chất lượng đầu ra của HS.
Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, hiệu quả
GD biểu hiện tập trung nhất ở sự phát triển về thể chất, trí tuệ, văn hóa, đạo đức,
khả năng tự lập, thích ứng... [70].
Tính hiệu quả của hoạt động TDTT trong trường học còn được thể hiện qua
kết quả học tập và rèn luyện của HS, đó là mức độ thành tích của HS đã đạt được,
xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra với mục tiêu đã xác
giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt, khô khan mà là sự say mê, ước
vọng, nhiệt tình.
- Tình cảm: HS biểu lộ tình cảm rõ rệt hơn đối với những thầy cô dạy các
em. Việc GV gây được thiện cảm và sự tôn trọng là một trong những sự thành công,
giúp GV thuận lợi trong quá trình giảng dạy; thúc đẩy HS tự giác, tích cực tập luyện
và ham thích TD. Do vậy, GV phải mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời và
quan tâm đúng mức tới HS, tôn trọng kết quả học tập cũng như tình cảm của HS.
- Trí nhớ: hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy móc do HS đã biết
cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặt chẽ hơn và lĩnh hội được
bản chất của vấn đề học tập. Do đặc điểm của trí nhớ ở lứa tuổi này khá tốt nên GV
có thể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích sâu các chi
tiết kỹ thuật động tác và vai trò, ý nghĩa cũng như cách sử dụng các phương tiện,
phương pháp trong GDTC để các em có thể tự tập luyện độc lập.
- Các phẩm chất ý chí đã rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn so với các lứa tuổi
trước đó. Các em có thể hoàn thành được bài tập khó và đòi hỏi sự khắc phục khó
khăn lớn trong tập luyện [44],[100].
Về đặc điểm sinh lý, hệ thần kinh tiếp tục được phát triển đi đến hoàn thiện.
Khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp và trừu tượng hoá được phát triển tạo thuận
lợi cho việc hình thành nhanh phản xạ có điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi để
HS nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật. Tuy nhiên, đối với một số bài tập
21
có tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em chóng mệt mỏi. Vì vậy, GV
cần thay đổi hình thức tập luyện phong phú, đặc biệt là tăng cường các hình thức thi
đấu, trò chơi để gây hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính, nhất
là các bài tập về sức bền.
Ngoài ra, do sự hoạt động mạnh của các tuyến làm cho tính hưng phấn của
hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng
Sau vận động, mạch đập và huyết áp phục hồi tương đối nhanh chóng. Lứa tuổi này
có thể tập những bài tập có khối lượng, cường độ vận động và sức bền tương đối
lớn. Khi sử dụng các bài tập có khối lượng vận động lớn hoặc các bài tập phát triển
sức bền, cần phải thận trọng và thường xuyên theo dõi trạng thái sức khoẻ HS.
Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của
nam từ 67-72cm, của nữ từ 69-74cm. Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 –
201cm2, gần bằng tuổi trưởng thành. Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng từ lúc
15 tuổi là 2-2,5lít đến 8 tuổi là khoảng 3-4 lít, tần số hô hấp gần giống người lớn.
Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ, chủ
yếu là co giãn cơ hoành. Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý thở bằng
ngực; các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, chạy việt dã có tác dụng tốt đến sự phát
triển của hệ hô hấp [30],[47],[100].
1.3.2. Động cơ và hứng thú học tập của HS.
Trong tâm lý học, động cơ là một vấn đề rất được các nhà khoa học quan
tâm. Các nhà nghiên cứu tâm lý cho rằng động cơ đóng một vai trò quan trọng trong
quá trình hoạt động của con người, nó chính là lực thúc đẩy để con người đạt được
mục đích của mình. Nói khác đi động cơ chính là yếu tố thôi thúc con người hành
động để thoả mãn nhu cầu của bản thân, con người không thể đạt được mục đích
của mình nếu thiếu vắng động cơ [44].
Vậy thì trong quá trình học tập, động cơ đóng vai trò như thế nào? Về thực
chất động cơ học tập là gì? Động cơ có ảnh hưởng đến kết quả học tập không?
Có nhiều quan niệm khác nhau về động cơ. Quan niệm được nhiều người
đồng ý là: Động cơ là sự nỗ lực nội tại khuyến khích một người theo đuổi một tiến
trình hành động. Nếu chúng ta nhận thấy được một mục tiêu nào đó và nếu mục tiêu
đó đủ sức hấp dẫn, chúng ta sẽ có động cơ thúc đẩy để đạt được mục tiêu đó [45].
23
Xét về động cơ của người học, thường có 2 động cơ chính: động cơ bên
24
khoẻ, phát triển cơ bắp, giúp rèn luyện sự dẻo dai, sức mạnh ý chí, tạo nên tư thế cơ
thể đẹp... Do sự hứng thú phát triển rộng nên GV và cha mẹ phải hướng dẫn, điều
chỉnh hứng thú sao cho phù hợp để HS hoạt động thể thao có hiệu quả.
1.3.3. Giờ học và cấu trúc nội dung CTMH TD ở bậc THPT.
1.3.3.1. Giờ học TD.
Đối với THPT, giờ học TD cần được tổ chức phù hợp với những nguyên tắc
sư phạm chung và những nguyên tắc GDTC; đồng thời việc tiến hành giờ học phải
bảo đảm những yêu cầu sau: (1) Tác động của giờ học phải toàn diện về các mặt
giáo dưỡng, GD và sức khoẻ. (2) Hoạt động dạy học và GD phải được thực hiện
xuyên suốt giờ học. Xu hướng chỉ giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng trong phần cơ
bản thường thấy trong thực tế là không đúng. Nếu phần chuẩn bị và phần kết thúc
không có nội dung giáo dưỡng thì vai trò chủ đạo của người thầy chỉ là hình thức.
(3) Trong giờ học cần hết sức tránh khuôn mẫu phương pháp cứng nhắc. (4) Đảm
bảo bình đẳng trong học tập cho tất cả HS, đồng thời chú ý đặc điểm từng cá nhân
người tập, có như vậy tất cả HS mới đạt được yêu cầu chung và hạn chế số HS yếu
kém. (5) Các nhiệm vụ đặt ra trong mỗi giờ học phải cụ thể, có thể được giải quyết
ngay trong giờ học [9],[10],[21].
Căn cứ vào trình độ TDTT, sự yêu thích và trạng thái sức khoẻ của HS, giờ
học thực hành môn TD có thể chia ra:
* Giờ học bám sát: là hình thức phổ biến hiện nay, tiến hành với số đông HS
để nâng cao sức khoẻ và trình độ TDTT. Nội dung giờ học này được tiến hành theo
CTDH môn TD, vừa có tính thống nhất vừa có tính linh hoạt nhất định.
* Giờ học nâng cao: thường áp dụng cho HS tương đối có năng khiếu, đã có
trình độ thể thao và cơ thể khoẻ mạnh. Căn cứ vào sự yêu thích của HS và năng lực
của GV để tiến hành. HS sẽ tập luyện và nâng cao ở một môn thể thao nhất định.
* Giờ học tự chọn: áp dụng cho tất cả HS, tạo hứng thú cho HS trong học
tập. Ở đây HS sẽ tập luyện ở một vài môn thể thao yêu thích nhất định, trên cơ sở
phát triển toàn diện và lấy đó làm phương tiện rèn luyện thân thể suốt đời [12],[85].
TD phát triển chung, TDNĐ
Chạy ngắn
Chạy tiếp sức
Chạy bền
Nhảy cao, nhảy xa
Đá cầu
Cầu lông
Môn thể thao tự chọn (Bóng chuyền, Bóng đá, Bóng
rổ, Bơi, Đẩy tạ)
Ôn tập, kiểm tra cuối kỳ, cuối năm và tiêu chuẩn rèn
luyện thân thê
Tổng số tiết (năm học/lớp)
Lớp/tiết học
10
11
12
2
2
2
8
7
7
6
5
6
6
5
6
8
24
70
70
70
210
Theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, trong quá trình thực hiện nội dung CTMH
TD cần lưu ý đặc điểm: Cấu trúc chương trình có 2 phần, phần “bắt buộc” và phần
“tự chọn”, đây là cấu trúc có tính khoa học và thực tiễn cao, được nhiều nước trong
khu vực và quốc tế áp dụng. Phần chương trình tự chọn được xác định theo hướng
phổ thông đa dạng, trong đó có các môn thể thao hiện đại như các môn bóng, đồng
thời cũng chú trọng các môn thể thao truyền thống dân tộc như Đá cầu, Bơi, Võ cổ
truyền và trò chơi dân gian. Phần tự chọn dành cho các địa phương chủ động chọn