đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở đà nẵng - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
TDTT trường học, bao gồm GDTC và HĐTT, là một bộ phận quan trọng
trong việc thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện, góp phần nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu, là vốn quý của mọi gia đình; là mục
tiêu của mỗi quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất
nước. Vì vậy, chăm lo thể chất cho HS là trách nhiệm của toàn xã hội, các cấp, các
ngành, đặc biệt là ngành GD&ĐT. Trong Chỉ thị 133/TTg, Thủ tướng đã yêu cầu: "Bộ
GD& T c n c bi t coi tr ng vi c GDTC trong nh tr ng, c i ti n n i dung gi ngĐ ầ đặ ệ ọ ệ à ườ ả ế ộ ả
d y TDTT n i khoá, ngo i khóa, quy nh tiêu chu n rèn luy n thân th cho HS cácạ ộ ạ đị ẩ ệ ể ở
c p h c" ấ ọ [108, tr.130]. Trong Ch th s 17-CT/TW v phát tri n TDTT n n m 2010,ỉ ị ố ề ể đế ă
Ban ch p h nh Trung ng ng c ng ch o: ấ à ươ Đả ũ ỉ đ ạ " y m nh ho t ng TDTT trongĐẩ ạ ạ độ
tr ng h c. Ti n t i b o m m i tr ng u có GV chuyên trách v l p h c TD úngườ ọ ế ớ ả đả ỗ ườ đề à ớ ọ đ
tiêu chu n, t o i u ki n nâng cao ch t l ng GDTC " ẩ ạ đ ề ệ ấ ượ [2, tr.3].
Từ các chủ trương, chính sách đã được thực hiện cho thấy Đảng và Nhà nước
luôn quan tâm đến TDTT trường học, coi đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần tạo
ra con người mới, đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Tuy nhiên trong thực tế, công tác TDTT trường học chưa được coi trọng,
chưa đáp ứng yêu cầu duy trì, nâng cao sức khỏe người học; các trường học thiếu
nhiều sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi
của HSSV; đội ngũ giáo viên TD thiếu và yếu; nội dung chương trình TD chính
khóa và HĐTT ngoại khóa nghèo nàn, xơ cứng, không thu hút HS tham gia học tập
và rèn luyện [92].
Nằm ở trung điểm của đất nước, thành phố Đà Nẵng là trung tâm văn hoá,
KHCN và giáo dục, là địa bàn chiến lược của miền Trung – Tây nguyên. Đà Nẵng
còn là địa phương có phong trào TDTT phát triển khá mạnh mẽ, trong đó TDTT
trường học được các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và xã hội quan
1
tâm. Với hơn 170 trường phổ thông, trong đó có 20 trường THPT, công tác TDTT
trường học ở Đà Nẵng được duy trì khá tốt; có nhiều thành tích trong các giải thể

thành phố. Đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây nguyên hầu như chưa
có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề này.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu luận án với tên đề
tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và
hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở đánh giá thực trạng GDTC và
HĐTT của các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, phân tích các cơ sở lý
luận, thực tiễn, các yếu tố tác động để lựa chọn giải pháp phù hợp nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định các mục tiêu sau:
3.1. Các yếu tố đảm bảo hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở
Đà Nẵng.
3.2. Đánh giá thực trạng GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà
Nẵng.
3.3. Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả
GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
4. Giả thiết khoa học.
Nếu đổi mới nội dung chương trình môn học TD theo chủ đề tự chọn đáp
ứng nhu cầu người học và tổ chức mô hình CLB TDTT trường học phù hợp với
thực tiễn địa phương, sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong nhà
trường. Kết quả nghiên cứu của luận án mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có thể
ứng dụng trên địa bàn Đà Nẵng, đồng thời góp phần bổ sung vào Đề án đổi mới
chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 đối với môn học TD theo tinh thần
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH
mà Nghị quyết Đại hội Đảng (khóa XI) đã xác định cho ngành GD&ĐT nước nhà.
3
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về TDTT trường học

sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát
triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất
nước ” [5, tr.77]. Theo đó, cần phải “Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT theo
nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện
đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”[5, tr.77].
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ chính trị về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020; trong
phần đánh giá những tồn tại, hạn chế đã chỉ rõ: “GDTC và HĐTT trong HSSV
chưa thường xuyên và kém hiệu quả”[6, tr.1]. Nghị quyết đã đề ra các giải pháp
nâng cao chất lượng GDTC và HĐTT trường học, một trong những giải pháp quan
trọng là đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với GD ý chí,
đạo đức, quốc phòng, sức khỏe và kỹ năng sống của HSSV. Đãi ngộ hợp lý và
phát huy năng lực đội ngũ GV TD, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ GV TD cho trường học…[6].
Nghị quyết 29/NQ-TƯ (khóa XI) “về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT;
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra quan điểm chỉ đạo:
“Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học” và “Đổi mới hệ thống GD theo hướng
mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức đào tạo” [8,
tr.78]. Có thể nói Nghị quyết 29/NQ-TƯ là sự tổng kết toàn diện Nghị quyết Trung
ương 2 (khóa VIII) về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại
hóa, qua đó đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện GD&ĐT từ quan điểm, tư tưởng chỉ
đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo
thực hiện… Mục tiêu của Nghị quyết đã tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về
chất lượng, hiệu quả GD&ĐT, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng,
5
bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Đồng thời mở ra cơ hội để ngành
GD&ĐT quyết tâm đổi mới toàn diện công tác GD, trong đó có đổi mới, cải tiến
công tác TDTT trường học ngày càng hiệu quả, chất lượng hơn.

TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ GV và hướng dẫn viên
TDTT, thực hiện tốt HĐTT ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể
lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [23],[92].
Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án
tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong đó
có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC. Một
trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy
và học TD chính khóa, các hoạt động TDTT ngoại khóa cho HS, xây dựng chương
trình GDTC hợp lý ” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ
cho hoạt động GDTC trong trường học” [23, tr.162].
Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 đã đề ra yêu
cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong đó có chất lượng GDTC. Mục 5 của Nghị
quyết 06/NQ-CP (2012) ghi rõ: “Nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt là
GDTC. Đổi mới chương trình, nội dung, PPDH, gắn với việc đổi mới quy chế thi,
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập HS” [93, tr.4].
Trên cơ sở phân tích và đánh giá hiện trạng tình hình GD Việt Nam, bối
cảnh, thời cơ và thách thức đối với GD trong thập kỷ tới, Thủ tướng ra Quyết định
số 771/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển GD 2011-2020", khẳng định quan
điểm chỉ đạo: "Đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển. Đổi mới căn bản, toàn diện
nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế,
thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển GD
gắn với phát triển KHCN, tập trung vào nâng cao chất lượng GD đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành… Chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của
mỗi người học." [94, tr.8].
7
Để đạt được mục tiêu, Chiến lược đã đề ra 8 giải pháp, trong giải pháp đổi
mới nội dung và PPDH, Chiến lược đã đưa ra biện pháp: "Đổi mới chương trình và
sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực HS, vừa đảm
bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù của mỗi địa phương.

kiện học tập của HS [19].
Để thay đổi tiêu chuẩn rèn luyện sức khỏe phù hợp thực tiễn và quá trình hội
nhập quốc tế, Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực
HSSV, qui định về đối tượng thực hiện và các yêu cầu, độ tuổi, các nội dung đánh
giá cũng như tiêu chuẩn cụ thể của từng độ tuổi và giới tính của HS các cấp [16].
Trong thực tế, số giờ quy định của môn học TD không nhiều nên công tác
TDTT trường học chỉ có thể đạt được hiệu quả khi tổ chức tốt các hoạt động ngoại
khoá cho HS. Khoa học đã chứng minh muốn nâng cao thể chất thì phải tập luyện
tích cực và thường xuyên. Một trong những nguyên tắc của phương pháp GDTC có
liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện là hệ thống luân phiên lượng vận
động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện và mối liên hệ lẫn nhau
giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện. Tính liên tục của quá trình GDTC
và luân phiên hợp lý giữa lượng vận động với nghỉ ngơi, tập thường xuyên mang lại
hiệu quả tất nhiên lớn hơn tập thất thường [96]. Ý thức vấn đề đó, Bộ GD&ĐT đã
ban hành Quy định về tổ chức HĐTT ngoại khoá cho HSSV. Văn bản này ra đời đã
tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các cơ sở GD&ĐT tổ chức các hoạt động ngoại
khoá thể thao trong HSSV [17]. Đồng thời, để thể chế hóa vai trò của GDTC và thể
thao trong nhà trường, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều lần lấy ý kiến dự thảo Nghị
định về GDTC và thể thao trong nhà trường để trình Chính phủ ban hành [95].
Nhìn chung, từ cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về TDTT
trường học đã khẳng định vai trò của nó trong việc bảo vệ, tăng cường sức khoẻ, thể
chất, giúp hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu GD toàn diện cho
HSSV. Đây là mặt GD có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và sự phát triển tầm vóc,
thể trạng của thế hệ trẻ Việt Nam. Chính vì vậy, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT
9
đã quan tâm, tạo điều kiện để các trường học triển khai các nhiệm vụ GDTC và
HĐTT, đồng thời thông qua việc ban hành các văn bản, quy định liên quan đã tạo ra
hành lang pháp lý chặt chẽ để tổ chức quản lý công tác này.
1.2. Những vấn đề cơ bản về TDTT trường học.
1.2.1. Khái niệm GDTC và HĐTT trong trường học.

trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học. Sự tác động giữa GV và HS tạo nên điều kiện
sư phạm tốt nhất cho quá trình GDTC. Ưu thế của giờ học thực hành còn thể hiện ở
chỗ có kế hoạch học tập chặt chẽ theo thời khoá biểu chung; lớp học có số lượng
HS ổn định, cùng lứa tuổi, hoạt động chung, đã liên kết thành tập thể [21],[55],[100].
1.2.1.2. Khái niệm HĐTT.
Luật TDTT định nghĩa “HĐTT trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của
người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới
tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui
chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [110, tr.17].
Theo Dự thảo Nghị định GDTC và thể thao trường học, HĐTT trong nhà
trường là hoạt động tự nguyện của HSSV với các nội dung tập luyện TDTT ngoại
khóa và thi đấu các môn thể thao phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức
khỏe theo các hình thức cá nhân, nhóm, CLB, nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực đáp
ứng yêu cầu môn học và phát triển năng khiếu, tài năng thể thao. Hoạt động thể thao
trong nhà trường có 2 nội dung cơ bản là tập luyện TDTT ngoại khóa và thi đấu thể
thao [95].
HĐTT ngoại khóa có vị trí rất quan trọng trong công tác TDTT trường học.
Thể thao ngoại khóa kết hợp với dạy học TD cấu thành một cấu trúc TDTT trường
học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu GD. Theo Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân
Thành và một số tác giả, HĐTT ngoại khóa có ý nghĩa: (1) Thỏa mãn nhu cầu tham
gia hoạt động của HS, thúc đẩy sự sinh trưởng phát dục có hiệu quả, giúp tăng
cường thể chất cho HS. (2) Hình thành chế độ lao động – nghỉ ngơi khoa học, thỏa
mãn tính hiếu kỳ của người tập, giúp phát triển toàn diện. (3) Làm phong phú sinh
11
hoạt nghiệp dư của HS. (4) Bồi dưỡng hứng thú và năng lực TDTT cho HS, qua đó
góp phần bồi dưỡng cán bộ TDTT và nhân tài thể thao [55],[80].
Việc tổ chức HĐTT ngoại khóa nhằm động viên, khuyến khích HS tự giác
tập luyện thể thao, hình thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên. Tổ chức
hoạt động ngoại khóa phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản: Phù hợp với đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều kiện cụ thể của từng địa phương, trường

- Những kỹ năng, kỹ xảo HS cần tập luyện, rèn luyện;
- Những thái độ ứng xử (giá trị) thích hợp HS cần được bồi dưỡng.
Việc tổ chức, điều khiển HS nhằm nắm vững kiến thức; thực hiện thành thạo
những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết; những kinh nghiệm về thái độ sống cần
được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý [11],[14].
GDTC là một thành phần quan trọng cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ
bản cho người học, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện nhằm giúp HS có sự
tăng tiến về sức khỏe, thể lực; đạt tiêu chuẩn sức khỏe theo lứa tuổi và giới tính; có
những kiến thức, kỹ năng cơ bản về TDTT và phương pháp tập luyện; các kỹ năng
vận động cần thiết trong đời sống. Hình thành thói quen tập luyện TDTT thường
xuyên và nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật, tinh thần tập thể và
các phẩm chất đạo đức ý chí. Biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào
các hoạt động ở nhà trường và trong đời sống [1],[10],[16],[21].
Khi xây dựng CTGD môn TD, Bộ GD&ĐT đã căn cứ mục tiêu để đưa ra các
quan điểm xây dựng và phát triển với các nội dung cụ thể: “(1) CTGD môn TD phải
góp phần thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học chung và những đổi mới về PPDH,
đánh giá ở từng cấp học. (2) Lấy việc nâng cao sức khỏe, thể lực HS là mục tiêu
quan trọng nhất, xuyên suốt. (3) Đảm bảo tính sư phạm, khoa học, liên thông, kết
hợp truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học
GDTC hiện đại. (4) Chương trình phải có tính khả thi, phù hợp với tâm sinh lý lứa
tuổi và giới tính, với sức khỏe, thể lực HS, đồng thời định hướng cho việc nâng cao
trình độ của đội ngũ GV và tăng cường cơ sở vật chất cho việc dạy và học môn TD.
13
(5) Đảm bảo tính thống nhất của chương trình, đồng thời mở rộng quyền chủ động
sáng tạo của địa phương trong quá trình thực hiện chương trình.” [11, tr.5,6].
Từ quan điểm xây dựng và phát triển chương trình cho thấy, giữa mục tiêu
và chương trình, nội dung, hình thức GD có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Chương trình, nội dung GD được xây dựng trên cơ sở mục tiêu GD, là sự thể hiện
mục tiêu GD và ngược lại, mục tiêu GD như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, giúp
chương trình, nội dung và hình thức GD được định hướng chính xác, tránh những

là tổ hợp các bài tập vận động, phản ánh một trong những nhiệm vụ chính của công
tác GDTC. Việc hình thành, hoàn thiện, phát triển chức năng và thói quen vận động
cho HS là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được của GDTC trường học.
1.2.3. Nội dung dạy học và CTGD.
Nội dung dạy học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nhiều lĩnh vực ở
trình độ phổ thông mà HS cần nắm vững trong quá trình dạy học nhằm hình thành
cho các em thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và các phẩm chất, nhân cách của
con người mới, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống. Nội dung dạy học trong
khái niệm này được hiểu là nội dung học tập của HS và nội dung dạy của GV.
Nội dung học tập của HS là cái mà HS tiếp nhận và làm việc với nó trong
quá trình học tập. Nội dung học tập bao gồm hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà
HS phải nắm trong quá trình học tập. Nội dung học tập của HS có cấu trúc trên cơ
sở tính mục tiêu chung của GD, mục tiêu và nhiệm vụ dạy học của các cấp học, các
loại trường học sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm lứa tuổi HS,
đảm bảo cho HS có thể lĩnh hội được với hiệu quả tối ưu.
Nội dung dạy của GV là các việc làm của GV trong quá trình dạy học, bao
gồm việc xác định mục đích dạy học, soạn thảo kế hoạch, xây dựng nội dung học
tập cho HS, soạn tài liệu, tổ chức học tập và đánh giá kết quả học tập của HS. Nói
cách khác, với HS, tri thức, kỹ năng kỹ xảo là nội dung và đối tượng học tập; còn
với GV, nó là phương tiện của hoạt động giảng dạy [36],[57].
15
CTGD là văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với
một ngành đào tạo, các khối kiến thức và các môn học, tổng thời lượng cùng thời
lượng dành cho mỗi môn mà nhà trường tổ chức giảng dạy để trang bị kiến thức, kỹ
năng, thái độ cần thiết cho HSSV [20],[36].
Trong lịch sử phát triển của GD, có hai cách tiếp cận phổ biến về CTGD.
Với quan niệm GD là quá trình truyền thụ nội dung kiến thức, cách tiếp cận nội dung
đưa ra định nghĩa: CTGD là bản phác thảo về nội dung GD, qua đó người dạy biết
mình cần phải dạy những gì và người học biết mình cần phải học những gì. Theo
cách tiếp cận này: CTGD = nội dung.

một tổ chức, những cơ hội và thách thức đối với tổ chức đó trong bối cảnh chung
của xã hội ở phạm vi quốc gia và quốc tế. Giải pháp thực hiện đồng thời cũng được
dựa trên các quan điểm, mục tiêu tổng quát và mục tiêu chung của vấn đề được đặt
ra và giải quyết ở tầm vĩ mô.
Trong hoạt động GD, mọi vấn đề quan hệ về GD đều có tính quy luật. Giải
pháp GD là một hệ thống những quy luật. Nhiệm vụ của các nhà khoa học, các nhà
quản lý GD ở nước ta là phải tìm ra những quy luật đảm bảo cho sự thành công của
công tác GD. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải phân tích được thực tiễn
GD của Việt Nam nói riêng và các nền GD tiên tiến của thế giới, từ đó khái quát,
hệ thống thành giải pháp cơ bản, đúng đắn, phù hợp cho nền GD nước nhà.
Giải pháp thường được gắn liền với từ “đột phá” hoặc “then chốt” nhằm
nhấn mạnh tầm quan trọng của giải pháp đó. Có thể hiểu “giải pháp đột phá” là giải
pháp mở đường cho các giải pháp khác, còn “giải pháp then chốt” là giải pháp quan
trọng, có tác dụng quyết định đối với toàn bộ các vấn đề liên quan. Như trong các
giải pháp của Chiến lược phát triển GD 2011-2020, Thủ tướng chính phủ đã xác
định giải pháp “đổi mới quản lý GD là giải pháp đột phát”, còn “phát triển nhà
giáo và CBQL GD là giải pháp then chốt” [94, tr 9].
1.2.4.2. Hiệu quả giáo dục và chất lượng giáo dục.
Hiệu quả và chất lượng GD luôn là vấn đề được toàn xã hội quan tâm vì đây
là sự phản ánh giá trị đích thực của một nền GD và là cơ sở, tiền đề cho sự phát
17
triển của mỗi cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, khái niệm “chất lượng” nói chung và
“chất lượng GD” nói riêng là những khái niệm đa chiều, đa nghĩa bởi nội dung của
nó rất rộng, được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau nên đến nay chưa được hiểu
một cách thống nhất. Vì vậy, có nhiều tác giả đề xuất các khái niệm chất lượng khác
nhau. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, chất lượng được hiểu là
“Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”[114,
tr.139]. Theo Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001, chất lượng là tập
hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó có những khả năng thỏa mãn
những nhu cầu đã được công bố và tiềm ẩn [31]. Còn trong quy định tiêu chuẩn

Tính hiệu quả của hoạt động TDTT trong trường học còn được thể hiện qua
kết quả học tập và rèn luyện của HS, đó là mức độ thành tích của HS đã đạt được,
xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra với mục tiêu đã xác
định. Như vậy, kết quả học tập, rèn luyện của HS được hiểu là mức độ thực hiện
những mục tiêu đã định trước. Vì vậy, đánh giá hiệu quả dạy học được thông qua
đánh giá kết quả học tập, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về những
yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân của tình hình học tập nhằm tạo cơ sở cho những
quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để học tập ngày một
tiến bộ hơn [70].
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường
THPT.
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý của HS THPT .
HS THPT bao gồm các em ở độ tuổi từ 15-18, ở lứa tuổi này cơ thể HS đã
phát triển tương đối hoàn chỉnh, tuy còn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ lớn chậm
dần. Chức năng sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống,
cơ quan cơ thể cũng cao hơn. HS phát triển theo chiều ngang nhiều hơn, chiều cao
vẫn phát triển nhưng chậm dần.
Sự phát triển của nam và nữ đã có sự khác nhau đáng kể do khác về giới
tính; sự khác nhau ấy càng rõ rệt về tầm vóc, khả năng hoạt động thể lực và tâm lý.
Do đó trong quá trình GDTC, GV cần căn cứ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và giới
19
tính để phân biệt về tính chất, cường độ, khối lượng tập luyện sao cho đảm bảo tính
hợp lý, tạo sự phát triển toàn diện.
Về mặt tâm lý, lứa tuổi này thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọi
người tôn trọng; đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng
hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão, nhưng còn nhiều nhược điểm và thiếu
kinh nghiệm trong cuộc sống.
Tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành tính
cách và hướng về tương lai. Đó là tuổi của nhiều ước mơ, đầy nhu cầu sáng tạo và
mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây cũng là tuổi nảy nở những tình cảm mới, thế

Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển, mỗi năm nữ cao thêm 0,5-1cm,
nam cao thêm 1-3cm. Tập luyện TDTT thường xuyên liên tục làm cho bộ xương
thêm khoẻ mạnh hơn. Ở lứa tuổi này, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay đã
hoàn thiện nên các em có thể tập luyện một số động tác như treo, chống, mang vác
nặng mà không làm tổn hại hoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể. Cột
sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong
vẹo, nên việc tiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như đi,
chạy, nhảy, TD cơ bản cho các em là rất cần thiết và không thể xem nhẹ.
Ở các em nữ, xương xốp hơn các em nam, ống tuỷ rỗng hơn, chiều dài ngắn
hơn, bắp thịt nhỏ hơn và yếu hơn. Đặc biệt là xương chậu của nữ to hơn và yếu. Vì
vậy trong quá trình GDTC, không thể sử dụng bài tập có khối lượng và cường độ
vận động như nam mà phải có sự phù hợp với đặc điểm giới tính.
Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn nên sức co cơ tương đối yếu, các bắp cơ
lớn phát triển nhanh hơn các cơ nhỏ, các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, các
cơ duỗi của nữ lại càng yếu. Đặc biệt vào tuổi 16, các tổ chức mỡ dưới da của nữ
phát triển mạnh, ảnh hưởng đến việc phát triển sức mạnh. Nói chung ở đầu thời kỳ
THPT là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất, do vậy cần tập những bài tập phát
triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy sự phát triển của các cơ. Các bài tập phải đảm
bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại cơ đều được phát triển,
21
nhưng cần có yêu cầu riêng biệt đối với các em nữ, tính chất động tác của nữ cần
toàn diện, mang tính mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo.
Hệ tuần hoàn của HS lứa tuổi này đang phát triển và hoàn thiện. Buồng tim
phát triển tương đối hoàn chỉnh, phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động rõ rệt.
Sau vận động, mạch đập và huyết áp phục hồi tương đối nhanh chóng. Lứa tuổi này
có thể tập những bài tập có khối lượng, cường độ vận động và sức bền tương đối
lớn. Khi sử dụng các bài tập có khối lượng vận động lớn hoặc các bài tập phát triển
sức bền, cần phải thận trọng và thường xuyên theo dõi trạng thái sức khoẻ HS.
Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của
nam từ 67-72cm, của nữ từ 69-74cm. Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 –

dạy học, môi trường học tập và quy mô lớp học; hai là phương pháp giảng dạy, một
yếu tố quyết định đối với sự yêu thích môn học của HS; ba là tính cách, kiến thức,
sự nhiệt tình của GV; bốn là sự thành bại của bản thân HS trong học tập [44],[45].
Hứng thú, là thái độ đặc biệt của cá nhân với một đối tượng, được thể hiện ở
sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng và sự thích thú được
thỏa mãn với đối tượng, có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân [45].
Hứng thú học tập là hứng thú gắn với một môn học cụ thể trong nhà trường,
nó là thái độ đặc biệt của HS với môn học mà HS thấy có ý nghĩa và có khả năng
đem lại sự khoái cảm trong quá trình học tập môn học đó.
Hứng thú của HS THPT rất năng động, các em sẵn sàng đi vào lĩnh vực mà
mình yêu thích. Động cơ hứng thú đối với TDTT của HS THPT biểu hiện đơn giản
dưới dạng hứng thú say mê TDTT, do đó chưa bền vững, mang tính nhất thời. Do
vậy đối với GDTC, việc dạy học môn TD đóng vai trò chủ yếu trong việc giúp HS
hiểu được ý nghĩa, vai trò của TDTT đối với cá nhân và xã hội, giúp HS tự giác,
tích cực tập luyện. Mặt khác, chất lượng giảng dạy và nhân cách GV cũng có ảnh
hưởng mạnh đến sự nảy sinh và phát triển hứng thú của HS đối với môn học. Một
đặc điểm khác là sự sự hứng thú đối với môn học ngày càng phân hoá, thể hiện khi
HS ham mê một lĩnh vực tri thức nào đó thì coi thường giờ học, những môn học mà
HS không thích.
HS ở lứa tuổi THPT thường ưa thích thể thao, động cơ chủ yếu khiến HS
thích thể thao vì các em đã nhận thức được vai trò của TDTT trong tăng cường sức
23
khoẻ, phát triển cơ bắp, giúp rèn luyện sự dẻo dai, sức mạnh ý chí, tạo nên tư thế cơ
thể đẹp Do sự hứng thú phát triển rộng nên GV và cha mẹ phải hướng dẫn, điều
chỉnh hứng thú sao cho phù hợp để HS hoạt động thể thao có hiệu quả.
1.3.3. Giờ học và cấu trúc nội dung CTMH TD ở bậc THPT.
1.3.3.1. Giờ học TD.
Đối với THPT, giờ học TD cần được tổ chức phù hợp với những nguyên tắc
sư phạm chung và những nguyên tắc GDTC; đồng thời việc tiến hành giờ học phải
bảo đảm những yêu cầu sau: (1) Tác động của giờ học phải toàn diện về các mặt

TD ở trường THPT do Bộ GD&ĐT ban hành và thống nhất quản lý, chỉ đạo thực
hiện trong toàn quốc, được trình bày ở bảng 1.1.
Bảng 1.1. Chương trình môn học TD THPT
TT Nội dung học Lớp/tiết học
Số
tiết
10 11 12
1 Lí thuyết chung 2 2 2 06
2 TD phát triển chung, TDNĐ 8 7 7 22
3 Chạy ngắn 6 - - 06
4 Chạy tiếp sức - 5 6 11
5 Chạy bền 6 5 6 17
6 Nhảy cao, nhảy xa 8 12 8 28
7 Đá cầu 6 5 6 17
8 Cầu lông 6 6 7 19
9 Môn thể thao tự chọn (Bóng chuyền, Bóng đá, Bóng
rổ, Bơi, Đẩy tạ)
20 20 20 60
10 Ôn tập, kiểm tra cuối kỳ, cuối năm và tiêu chuẩn rèn
luyện thân thê
8 8 8 24
Tổng số tiết (năm học/lớp) 70 70 70 210
Theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, trong quá trình thực hiện nội dung CTMH
TD cần lưu ý đặc điểm: Cấu trúc chương trình có 2 phần, phần “bắt buộc” và phần
“tự chọn”, đây là cấu trúc có tính khoa học và thực tiễn cao, được nhiều nước trong
khu vực và quốc tế áp dụng. Phần chương trình tự chọn được xác định theo hướng
phổ thông đa dạng, trong đó có các môn thể thao hiện đại như các môn bóng, đồng
thời cũng chú trọng các môn thể thao truyền thống dân tộc như Đá cầu, Bơi, Võ cổ
truyền và trò chơi dân gian. Phần tự chọn dành cho các địa phương chủ động chọn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status