BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Trịnh Hùng Cường
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THU MAI
Trịnh Hùng Cường
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH
:
Ban giám hiệu
BD :
Bồi dưỡng
BDGV :
Bồi dưỡng giáo viên
CBQL :
Cán bộ quản lý
CBQLGD :
Cán bộ quản lý giáo dục
CT :
Chương trình
CMNV :
Chuyên môn nghiệp vụ
CSVC :
Cơ sở vật chất
ĐT : Đào tạo
ĐNNG : Đội ngũ nhà giáo
GD :
Giáo dục
GD v
à ĐT
toàn diện con người một cách bền vững.
Trong bối cảnh chung của thế giới, Việt nam cũng đang trên bước đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, hội nhập kinh tế thế giới, đẩy nhanh tiến độ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) đất
nước. Đòi hỏi nền gi
áo dục (GD) Việt Nam cần phải đẩy nhanh tiến trình đổi mới để đáp ứng
sự phát triển KT-XH của đất nước, đồng thời rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển GD so
với các nước trên khu vực và t
rên thế giới. Đứng trước tình hình ấy, Nghị quyết Đại hội X của
Đảng khẳng định mục tiêu GD là: "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới toàn diện
giáo dục và đào tạo, chấn hưng nền GD Việt Nam làm cho GD cùng với khoa học và công nghệ
thực sự là quốc sách hàng đầu." [1]
Để thực hiện mục tiêu đề ra, Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục và Đào tạo đã có rất nhiều
những chủ trương chính sách, văn bản chỉ đạo đào tạo (ĐT) và bồi dưỡng (BD) đội ngũ nhà
giáo (ĐNNG). Điều 15, Luật GD năm
2005 khẳng định : "Nhà giáo giữ vai trò quyết định chất
lượng GD. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học. Nhà
nước tổ chức ĐT, BD nhà giáo..." [29, tr. 15]
Nhưng thực tế, theo chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư
đánh giá:
Chất lượng chuyên môn nghiệp vụ (CM
NV) của ĐNNG có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi
mới GD và phát triển KT-XH, đa số vẫn dạy theo lối cũ, nặng về truyền đạt lý thuyết, ít
chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của người học; Một bộ
phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, nhân cách, chưa làm gương tốt
cho HS.
Nguyên nhân dẫn đến thực tế đó có nhiều, đặc biệt trong đó có nguyên nhân hoạt động quản
lý (QL) BD giáo viên (GV) chưa tương xứng, kém hiệu quả. Hiệu trưởng các trường trung học
phổ thông (THPT) đang gặp khó khăn về QL bồi dưỡng giáo viên (BDGV). Có nhiều nguyên
nhân gây ra những khó khăn ấy, như hình thức tổ chức, cơ chế hoạt động, thiếu đội ngũ GV
Thực trạng và biện pháp QL BDGV trường THPT ở một số huyện trong tỉnh Cà Mau.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đánh giá đúng thực trạng công tác QL BDGV và đề ra những biện pháp QL BDGV hợp
lý thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng GD THPT ở một số huyện trong tỉnh Cà Mau.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề QL BDGV THPT.
+
Khảo sát thực trạng QL BDGV THPT ở một số huyện trong tỉnh Cà Mau.
+ Phân tích nguyên nhân dẫn tới thực trạng.
+ Đề xuất những biện pháp QL BDGV THPT trong tỉnh Cà Mau.
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
6.1. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu 7 trường THPT thuộc 5 huyện trong tỉnh Cà Mau:
1. Trường THPT Cái Nước, huyện Cái Nước.
2. Trường THPT Phú Hưng, huyện Cái Nước.
3. Trường THPT Phan Ngọc Hiển, huyện Năm Căn.
4. Trường THPT Thới Bình, huyện Thới Bình.
5. Trường THPT Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời.
6
. Trường THPT U Minh, huyện U Minh.
7. Trường THPT Khánh Lâm, huyện U Minh.
6.2. Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu khía cạnh QL BDGV THPT của Hiệu trưởng.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Phân tích các văn bản về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về GD và ĐT, các
văn bản của ngành GD và ĐT có liên quan đến đề tài.
+ Phân tích các tài liệu khoa học về QL, QLGD và QL trường học có liên quan đến đề tài.
+ Nghiên cứu các loại sách báo, tạp chí có liên quan đến đề tà
i.
Vấn đề QL BDGV sao cho có hiệu quả cũng vì thế mà ngày càng được quan tâm. Có rất
nhiều những công trình nghiên cứu về vấn đề BDGV:
- Trong cuốn: Phát triển GD và ĐT nhân tài của Nghiêm Đình Vỳ và Nguyễn Khắc Hưng đã
khẳng định “Thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng GD, do đó muốn phát
triển GD thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ GV cả về số lượng và chất lượng” [44,
tr. 116]. Từ đó, đưa ra những nghiên cứu về những thời kỳ biến chuyển của GV và đề nghị về
những cải cách chương trình (CT) ĐT GV.
- Trong giáo trình BD Hiệu trưởng trường trung học cơ sở (THCS), tập 3, do Chu Mạnh
Nguyên chủ biên, Thạc sĩ Đỗ Thị Hoà đã đưa ra tầm quan trọng, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung
(ND) và biện pháp BDGV.
- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bất cứ hoàn cảnh nào dù khó khăn đến đâu, ngành GD
cũng tìm mọi biện pháp mở trường, lớp (dài hạn, ngắn hạn, cấp tốc, tập trung, phân tán, nhóm
nhỏ…) để ĐT, BD đội ngũ.” [42,tr.201] Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số bà
i học về BD
đội ngũ.
- Trong cuốn: “Cẩm nang nâng cao năng lực và phát triển đội ngũ GV do PSG. TS Trần
Quang Quý chỉ đạo biên soạn đã đề cập rất nhiều đến nghề thầy, người thầy, năng lực sư phạm
và con đường nâng cao năng lực sư phạm.
-
Cuốn: “Giải pháp tổng thể quản lý nhà trường hiệu quả trong thời kỳ hội nhập quốc tế” do
Hồ Phương Lan biên tập đã nêu lên những yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ, việc tăng
cường QL, xây dựng và phát triển đội ngũ.
- Một số Luận văn thạc sĩ như:
“Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả BD nghiệp vụ sư phạm cho GV
THCS huyện Định quán, tỉnh Đồng Nai” của Vũ Hoàng Chương.
“Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ GV của hiệu trưởng trường THPT Bán
công trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của Vũ Thị Thanh Huyền.
khiển lấy mình, còn giàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[27,tr.480]
+ Nhà lí luận kinh tế người Pháp H.Fayon cho rằng “QL là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ
chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [13, tr. 89] + F.W.Taylor cho rằng
“QL là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã
hoàn thành công việc một cách
tốt nhất và rẻ nhất.”
+ GS. Hà Thế Ngữ và GS. Đặng Vũ Hoạt thì cho rằng “QL là quá trình định hướng, quá
trình có mục tiêu, QL một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu
nhất định”[31, tr. 225]
+ Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ
thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể QL) nhằm thực hiện những
mục tiêu dự kiến.”[37,tr.24]
+ Hà Sĩ Hồ cho rằng “QL là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong
số các tác động có t
hể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm giữ cho sự vận
hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định.” [21, tr. 21]
+ Theo từ điển GD học: “QL là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm l
àm cho một
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [19, tr. 326]
Nói tóm lại, mặc dù được diễn đạt dưới nhiều gốc độ khác nhau nhưng các quan điểm về
QL đã nêu đều thể hiện được ND: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động,
phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong
và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu
quả cao nhất.” [24, tr. 8
]
“Cách QL với tư cách thực hành nó là nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức làm cơ sở cho
nó có thể coi như là một nghệ thuật” [18, tr. 23] Như vậy ta thấy rằng : QL vừa là
khoa học lại vừa là nghệ thuật.
Các hình thức kiểm tra bao gồm: Kiểm tra dự phòng, kiểm tra hiện hành, kiểm tra phản
hồi và kiểm tra trọng điểm.
Các loại kiểm tra bao gồm: Kiểm tra hành vi, kiểm tra tài chính, kiểm tra tác nghiệp.
Trong quá trình kiểm tra giúp nhà QL đôn đốc, điều chỉnh, động viên, nhắc nhở các cá
nhân. Như vậy, đây là chức năng cuối cùng cũng là chức năng tiền đề cho quá trình QL mới. 1.2.1.2. Quản lý giáo dục
GD là hoạt động đặc biệt của xã hội. Nó tồn tại, vận động và phát triển với tư cách là một
hệ thống. Nó thực hiện chức năng truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm của lịch sử xã hội qua các
thế hệ, làm cho xã hội phát triển. Để quá trình này đạt được hiệu quả, sự ra đời của quản lý giáo
dục (QLGD) là một tất yếu khách quan.
Cũng như khái niệm
QL, QLGD cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
+ Theo từ điển GD học (2001), NXB từ điển bách khoa Hà Nội thì QLGD (theo nghĩa
rộng) là thực hiện việc QL trong lĩnh vực GD. QLGD (theo nghĩa hẹp) thì chủ yếu là QLGD thế
hệ trẻ, GD nhà trường, GD trong hệ thống GD quốc dân.
+ Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lí GD của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội Việt Nam, mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học-GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất.” [37, tr. 35]
+ Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là một chuỗi tác động hợp lí (có mục đích, tự giác, hệ
thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức-sư phạm của chủ thể QL đến tập thể GV và HS, đến
những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm
huy động họ cùng công tác, phù hợp,
tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới
của HS nhằm làm cho hoạt động dạy học từ trạng thái này chuyển sang trạng thái khác để nhằm
đạt mục tiêu ĐT.
1.2.2. Một số vấn đề liên quan đến quản lý bồi dưỡng GV
1.2.2.1. Bồi dưỡng và bồi dưỡng giáo viên, quản lý bồi dưỡng GV
* Bồi dưỡng
Khái niệm bồi dưỡng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Xét về nghĩa tinh thần, BD là làm tăng thêm về năng lực phẩm chất.[41
,tr.95]
Xét về kiến thức nghiệp vụ, BD là làm cho tốt hơn, giỏi hơn. [45, tr. 101]
“BD là rèn luyện thêm cho những người vốn có khả năng cho trở thành những người giỏi
hơn (bồi là vun thêm)” [11, tr. 75]
Nói tóm lại, BD thực chất là quá trình bổ sung thêm những tri thức, cập nhật thêm những
cái mới để làm tăng thêm vốn hiểu biết, kỹ năng nghiệp vụ từ đó nâng cao hiệu quả lao động.
* Bồi dưỡng giáo viên
BDGV là quá trình bổ sung nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực sư phạm của
GV.
“BDGV được coi là hoạt động ĐT lại, giúp GV cập nhật được những kiến thức khoa học
chuyên ngành, những PP mới, tiếp thu những kinh nghiệm GD tiên tiến, để từ đó nâng cao thêm
trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Vì vậy, Nhà trường và các cơ quan QLGD cần có
kế hoạch lâu dài về BDGV nhằm thoả mãn nhu cầu nghề nghiệp của Nhà giáo, đồng t
hời đáp
ứng những đòi hỏi nâng cao chất lượng GD, ĐT của cơ sở GD. BDGV được tiến hành chủ yếu
dưới hai hình thức: Tập trung và thường xuyên”. [19, tr. 30, 31]
“BDGV nhằm nâng cao nhận thức chủ nghĩa Mác-Lê Nin; đường lối quan điểm của Đảng;
chủ trương chính sách của Nhà nước và của ngành; nâng cao năng lực CMNV theo hướng cập
nhật, hiện đại hoá phù hợp với thực tiễn GD Việt Nam để đáp ứng các yêu cầu đổi mới về mục
tiêu, ND, PP GD.”[6
]
Tóm lại, BDGV thực chất là nhằm bổ sung thêm những kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu,
ài và điều đó còn tệ hơn cả sự phá sản.”[2,tr.253]
GD ngày nay vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Đầu tư cho GD là đầu tư
cho sự phát triển. Công tác BDGV thực chất là công tác đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho
ngành GD. Trong tình hình GD hiện nay thì công tác này có tầm quan trọng to lớn trước đổi
mới về GD và ĐT.
1.2.3.2. Sự cần thiết
Nghị quyết lần thứ hai, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đánh giá: “GD và ĐT
nước ta còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô, cơ cấu và nhất là chất lượng và hiệu quả;
chưa đáp ứng kịp với những đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới về KT-
XH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa” [32
]
Tại văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đánh giá: “Chất lượng GD và ĐT còn thấp. Khoa học
và công nghệ chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hoá.” [16, tr. 63]
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng GD như trên là chất lượng đội ngũ GV.
Vì thế trong quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án dây dựng
ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) giai đoạn 2005-2010 đã xác định mục
tiêu là:
“Xây dựng ĐNNG và CBQLGD theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đặc biệt trú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn của Nhà giáo, đáp ứng
đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp GD trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước” [35]
Để đáp ứng được mục tiêu trên, công tác QL BDGV là rất cần thiết.
Thực tế, chất lượng của đội ngũ GV phụ thuộc rất lớn vào quá trình ĐT của các trường
Đại học v
à đặc biệt là chất lượng BD trong quá trình GV công tác giảng day.
Ngày nay, với sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, sự đòi hỏi ngày càng cao của
GD mà GV với nghề nghiệp đặc thù, phần lớn thời gian dành cho lao động sư phạm, việc tổ
chức BD, tự BD chưa thường xuyên, kém hiệu quả đòi hỏi công tác QL BDGV một cách khoa
ĐT đến các trường.
* Quản lý hình thức bồi dưỡng giáo viên
Công tác QL hình thức BDGV hiện nay thường được tiến hành QL các hình thức BD sau:
* BD tập trung: Đây là hình thức tổ chức BD theo khoá, từng đợt hay theo từng chu kỳ.
Hình thức này thường dùng để BD chính trị, BD thường xuyên theo chu kỳ, BD thay SGK, BD
nâng cao năng lực…Đây là hình t
hức BD được sử dụng khá phổ biến do Sở GD và ĐT phối
hợp với các cơ sở GD, các trường Đại học sư phạm tổ chức.
* BD từ xa: Đây là hình thức BD thông qua hệ thống giáo trình, tài liệu, hoặc có thể sử
dụng các phương tiện công nghệ thông tin để truyền tải kiến thức.
* BD qua việc tổ chức tham quan, đi thực tế: Đây là hình thức BD mang lại nhiều bổ ích
cho GV. Tuy nhiên, vì điều kiện thời gian và tài chính nên hình thức này
ít được phổ biến.
* BD tại chỗ: Ngay tại các nhà trường, GV được tổ chức BD thông qua các hoạt động của
các câu lạc bộ trong trường, các buổi sinh hoạt chuyên môn, các hội thảo hay các chuyên đề
ngoại khóa.
“Việc BD dưỡng tại chỗ, “người thực, việc thực” là hiệu quả nhất. Hệ thống QL lí tưởng là
một hệ thống trong đó tất cả các cán bộ đều được ĐT tốt, họ đều biết làm việc, cấp trên và cấp
dưới tin tưởng nhau, không cần kiểm
soát thái quá.” [25, tr. 147]
Bên cạnh những hình thức BD trên, còn có một hình thức nữa, nó là mục tiêu của các hình
thức BD trên, mà GV nào muốn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phải thường xuyên
thực hiện đó là hình thức tự BD. Mỗi GV tự mình thông qua các loại sách, báo, tài liệu, mạng
Internet… mà thu thập thêm thông tin, rèn luyện thêm về kiến thức, kỹ năng … nhằm p
hục vụ
tốt cho công tác giảng dạy, GD. Đây là hình thức BD mang lại hiệu quả rất lớn.
* Đặc thù của nội dung quản lý bồi dưỡng giáo viên
BDGV là nhằm để cập nhật, bổ sung cho GV những kiến thức, kỹ năng, phương pháp mới
nhằm làm cho công tác giảng dạy, GD đạt hiệu quả hơn.
Vì thế, quá trình QL BDGV cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Trong đó mục tiêu GD THPT được xác định cụ thể là: “Nhằm giúp HS củng cố và phát
triển những kết quả của GD THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
thường về kĩ thuật, hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng
phát triển tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao
động”[29,tr.23]
Với những mục tiêu trên, yêu cầu về ND PP của GD phổ thông như sau:
“ND GD phổ thông phải củng cố, phát triển những ND đã học ở THCS, hoàn thành ND
GD phổ thông. Ngoài ra ND chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn
diện và hướng nghiệp cho mọi HS, còn có ND nâng cao ở một số m
ôn học để phát triển năng
lực đáp ứng nguyện vọng của HS.
PP GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp
với đặc điểm của từng lớp, môn học, BD PP tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học
tập cho HS”[29,tr.22,23]
1.2.4.2. Đặc trưng tổ chức sư phạm và kinh tế-xã hội của trường THPT
Trường THPT có trách nhiệm thực hiện các mục tiêu, CT GD, PP GD và các hướng dẫn
CMNV do Bộ GD và ĐT và các cấp QLGD ban hành.
Trường THPT chịu sự QL và chỉ đạo của các cấp QLGD theo sự phân cấp hiện hành. Cụ
thể là chịu sự QL trực tiếp của Sở GD và ĐT của tỉnh đồng thời chịu sự QL về mặt lãnh thổ của
UBND hu
yện (TP).
Sử dụng nguồn nhân lực là GV do Sở GD và ĐT phân công, được Hiệu trưởng tiếp nhận
và GV được hưởng lương và các khoản phụ cấp khác từ ngân sách nhà nước.
Trường THPT có trách nhiệm sử dụng tốt các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực do nhà nước
cung cấp để góp phần nâng cao chất lượng GD, chất lượng dạy và học.
Ngoài ra nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học (trong đó có t
rường THPT) được
+ Tham gia công tác phổ cập GD ở địa phương;
+
Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, BD CMNV để nâng cao chất lượng, hiệu quả
giảng dạy và GD;
+ Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm
tra của Hiệu trưởng và các cấp QLGD;
+ Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước HS, thương yêu,
tôn trọng HS, đối xử công bằng với HS, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của HS, đoàn
kết, giúp đỡ đồng nghiệp;
+
Phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV khác, gia đình HS, Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và GD HS.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
GV chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ quy định như GV còn có những nhiệm vụ sau đây:
+ Tìm hiểu và nắm vững HS trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức GD s
át đối
tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
+ Cộng tác chặt chẽ với gia đình HS, chủ động phối hợp với các GV bộ môn, Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội
có liên quan trong hoạt động giảng dạy và GD HS của lớp mình chủ nhiệm;
+ Nhận xét, đánh giá và xếp loại HS cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và
kỷ luật HS, đề nghị danh sách HS được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại,
phải rèn luyện thêm về
hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ HS;
+ Báo cáo thường kì hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng. [7, tr.15, 16]
Như vậy ta thấy rằng GV là người lao động làm một nghề rất đặc biệt là nghề dạy học. Sản
phẩm của họ làm
ra là những nhân cách, là loại sản phẩm tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật
chất. Lao động của người GV trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
“Một ngày thiếu GD, đất nước không thể tồn tại được và GD không có người thầy không
dẫn, người cố vấn, người mẫu mực của người học. GV do đó không là người chuyên về một
ngành hẹp mà l
à người cán bộ tri thức, người học suốt đời. Trong công cuộc hoàn thiện quá
trình dạy học, người dạy - người học là những người bạn cùng làm việc, cùng nhau tìm hiểu và
khám phá” [20, tr. 271] 1.2.5.2. Đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên THPT
Lao động sư phạm của GV là một dạng lao động nghề nghiệp đặc biệt, rất đa dạng, phong
phú và phức tạp.
Lao động sư phạm của GV THPT có những đặc điểm sau đây:
+ Về mục đích của lao động sư phạm: Lao động sư phạm của GV THPT nhằm mục đích
GD và ĐT thế hệ HS THPT trở thành những người có đủ phẩm chất và năng lực theo yêu cầu
của xã hội.
+ Về đối tượng của lao động sư phạm: Đối tượng của lao động sư phạm HS, đây l
à đối
tượng rất đa dạng, phức tạp. Họ không chịu sự tác động của GV mà còn chịu sự ảnh hưởng của
bạn bè, gia đình, xã hội và các phương tiện thông tin. Mặt khác, mỗi HS là một thực thể xã hội
có ý thức. Tất cả những yếu tố trên cho thấy rằng quá trình hình thành và phát triển nhân cách
chưa chắc tỉ lệ thuận với những tác động sư phạm, thậm chí có thể mang lại kết quả tiêu cực. Vì
vậy người GV cần có trình độ vững vàng, có trình độ khoa học GD, tạo mối quan hệ tốt đẹp với
HS, tạo ch
o các em động cơ, hứng thú học tập.
+ Về phương tiện lao động sư phạm: Do đối tượng của lao động sư phạm của người GV
là HS nên đòi hỏi người GV phải có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết để tổ chức cho các e
m
hoạt động học tập, giao lưu, lao động, vui chơi giải trí. Mặc dù vậy, phương tiện tinh thần, nhân
cách của GV mới là chủ yếu. “GV tác động đến HS bằng lời, bằng tấm gương, bằng sự thuyết
phục, cảm hoá, bằng sự rèn luyện”. [37, tr. 50]
có phẩm chất và năng lực mang tính đặc thù tạo nên nhân cách người GV.
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: Phẩm chất là cái làm nên giá trị của con người. [39, tr.
702]
Đối với GV nói chung, GV THPT nói riêng, phẩm chất cao quý nhất của họ là lòng yêu
nghề, yêu trẻ. Tình yêu thương HS, yêu thương trẻ em đã định hướng họ chọn nghề dạy học.
Trong quá
trình GD, dạy học, người GV phải luôn thực hiện tốt một điều rằng “tất cả vì HS
thân yêu” và có như vậy mới xứng đáng đạo làm thầy.
Với lòng yêu thương con người GV mới có thể khai thác hết những tiềm năng trong mỗi
HS, đồng thời nó cũng là động lực giúp GV vượt qua mọi khó khăn, luôn có đủ phẩm chất là
tấm gương sáng cho HS noi theo.
GS.VS Phạm Minh Hạc đã giới thiệu bảy khuyến báo mà trường phái Carl Rogers (1920-
1987) - nhà tâm lý học nhân văn nổi tiếng của Mỹ - đã nêu ra về công việc của người GV hiện
đại:
1. Hãy quan tâm thường xuyên đến tình cảm của người học.
2. Thường xuyên tận dụng hơn nữa mục đích của người học trong tác động qua lại của
giờ học.
3. Đối thoại nhiều hơn với người học.
4. Khen ngợi người học thường xuyên.
5. Giao tiếp thích hợp.
6. Thường xuyên gắn ND học tập với kinh nghiệm cụ thể của từng người học (Lời giảng
làm thỏa mãn các nhu cầu trực tiếp của người học).
7. Hãy cười nhiều hơn với người học. [4, tr.19]
Trong giai đoạn hiện nay một GV được cho là có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
tốt nếu thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
- Chấp hành tốt chính sách, Pháp luật của nhà nước;
- Gương mẫu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ, công chức, các quy định của
Điều lệ nhà trường, Quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường;
- Năng lực hiểu biết và hòa vào HS: Hiểu đời sống tâm lí, đời sống tình cảm của HS,
hiểu hoàn cảnh gia đình cuộc sống của HS, biết phân tích điểm mạnh, yếu, thuận lợi, khó khăn
của HS.
- Năng lực tự học, tự đổi mới CMNV của mình để thích ứng với sự phát triển nhanh
chóng của xã hội.
- Năng lực làm việc cùng nhau, hợp tác với đồng nghiệp, năng lực giao tiếp với cộng
đồng, với cha mẹ HS.
- Năng lực tổng kết kinh nghiệm, đổi mới sự thực hiện PP dạy học, GD.
- Năng lực đánh giá kết quả lao động của học trò của mình và phản ánh kết quả này
tới HS, tới gia đình HS, tới xã hội.[4, tr. 17]
Năng lực của GV được biểu hiện rõ nhất thông qua giờ lên lớp. Trong giờ lên lớp năng
lực của họ phải được thể hiện ở sự tổng hòa bốn ND: Phải mang lại những thông tin mới bổ ích;
phải truyền cảm tạo ấn tượng tốt; phải tổng kết tri thức cô đọng, chốt lại các điểm chủ yếu của
bài học và cuối cùng là phải thực hiện sự nhận xét đích đáng về kết quả làm việc của HS.
Nói
về chuyên môn, nghiệp vụ của GV:
- Chuyên môn là lĩnh vực kiến thức riêng của một ngành khoa học, kĩ thuật. [39, tr. 169]
Từ đó ta thấy rằng chuyên môn của GV chính là lĩnh vực kiến thức của GV dùng để dạy
học, GD.
-
Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của nghề. [39, tr. 61]
Như vậy nghiệp vụ của GV chính là nghiệp vụ sư phạm.
- GV THPT phải đảm bảo các yêu cầu sau về trình độ CMNV:
+ Có kiến thức cơ bản, đạt trình độ chuẩn được ĐT.
+ Có kiến thức cần thiết về tâm lí học sư phạm và tâm lí học lứa tuổi.
+ Có kiến thức phổ thông về những vấn đề xã hội và nhân văn.
+ Có hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và GD của địa phương nơi
GV công tác.[9
]