BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trịnh Hùng Cường
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
Mã số
: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THU MAI
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Quý Thầy Cô, Lãnh đạo
trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Phòng KHCN & SĐH, Khoa Tâm lí - Giáo
dục, Các Phó giáo sư, Tiến sĩ đã tham gia giảng dạy và tạo điều kiện để tôi
hoàn thành lớp cao học QLGD khoá 16.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sĩ
Trần Thị Thu Mai, người đã tận tâm giúp đỡ và hướng dẫn tôi thực hiện
hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin được cảm ơn UBND tỉnh Cà Mau; Ban giám đốc, các
Phòng ban Sở GD&ĐT Cà Mau; Lãnh đạo, giáo viên các trường THPT mà
tác giả chọn nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp và người thân … tất cả đã
ủng hộ, quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện hỗ trợ về tinh thần, vật chất và các
điều kiện để tôi có thể hoàn thành khoá học và thực hiện thành công đề tài
CBQL
:
Cán bộ quản lý
CBQLGD
:
Cán bộ quản lý giáo dục
CT
:
Chương trình
CMNV
:
Chuyên môn nghiệp vụ
CSVC
:
Cơ sở vật chất
HS
:
Học sinh
KT-XH
:
Kinh tế-xã hội
ND
:
Nội dung
PP
:
Phương pháp
QL
:
Quản lý
toàn diện con người một cách bền vững.
Trong bối cảnh chung của thế giới, Việt nam cũng đang trên bước đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, hội nhập kinh tế thế giới, đẩy nhanh tiến độ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) đất
nước. Đòi hỏi nền giáo dục (GD) Việt Nam cần phải đẩy nhanh tiến trình đổi mới để đáp ứng
sự phát triển KT-XH của đất nước, đồng thời rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển GD so
với các nước trên khu vực và trên thế giới. Đứng trước tình hình ấy, Nghị quyết Đại hội X của
Đảng khẳng định mục tiêu GD là: "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới toàn diện
giáo dục và đào tạo, chấn hưng nền GD Việt Nam làm cho GD cùng với khoa học và công nghệ
thực sự là quốc sách hàng đầu." [1]
Để thực hiện mục tiêu đề ra, Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục và Đào tạo đã có rất nhiều
những chủ trương chính sách, văn bản chỉ đạo đào tạo (ĐT) và bồi dưỡng (BD) đội ngũ nhà
giáo (ĐNNG). Điều 15, Luật GD năm 2005 khẳng định : "Nhà giáo giữ vai trò quyết định chất
lượng GD. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học. Nhà
nước tổ chức ĐT, BD nhà giáo..." [29, tr. 15]
Nhưng thực tế, theo chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư
đánh giá:
Chất lượng chuyên môn nghiệp vụ (CMNV) của ĐNNG có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi
mới GD và phát triển KT-XH, đa số vẫn dạy theo lối cũ, nặng về truyền đạt lý thuyết, ít
chú ý đến phát triển tư duy, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của người học; Một bộ
phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, nhân cách, chưa làm gương tốt
cho HS.
Nguyên nhân dẫn đến thực tế đó có nhiều, đặc biệt trong đó có nguyên nhân hoạt động quản
lý (QL) BD giáo viên (GV) chưa tương xứng, kém hiệu quả. Hiệu trưởng các trường trung học
phổ thông (THPT) đang gặp khó khăn về QL bồi dưỡng giáo viên (BDGV). Có nhiều nguyên
nhân gây ra những khó khăn ấy, như hình thức tổ chức, cơ chế hoạt động, thiếu đội ngũ GV
nồng cốt, đặc điểm nhà trường…
THPT là cấp học rất quan trọng trong hệ thống GD quốc dân. Sau khi học xong cấp này, tuỳ
vào năng lực và điều kiện của từng em học sinh (HS), các em sẽ tham gia học ở các bậc học cao
+ Phân tích nguyên nhân dẫn tới thực trạng.
+ Đề xuất những biện pháp QL BDGV THPT trong tỉnh Cà Mau.
6. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
6.1. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu 7 trường THPT thuộc 5 huyện trong tỉnh Cà Mau:
1. Trường THPT Cái Nước, huyện Cái Nước.
2. Trường THPT Phú Hưng, huyện Cái Nước.
3. Trường THPT Phan Ngọc Hiển, huyện Năm Căn.
4. Trường THPT Thới Bình, huyện Thới Bình.
5. Trường THPT Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời.
6. Trường THPT U Minh, huyện U Minh.
7. Trường THPT Khánh Lâm, huyện U Minh.
6.2. Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu khía cạnh QL BDGV THPT của Hiệu trưởng.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Phân tích các văn bản về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về GD và ĐT, các
văn bản của ngành GD và ĐT có liên quan đến đề tài.
+ Phân tích các tài liệu khoa học về QL, QLGD và QL trường học có liên quan đến đề tài.
+ Nghiên cứu các loại sách báo, tạp chí có liên quan đến đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu
+ Thu thập các tài liệu thực tế, tìm hiểu các đặc trưng, tính chất của vấn đề.
+ Sử dụng hệ thống câu hỏi đối với cán bộ quản lý (CBQL), GV các trường nghiên cứu để
thu thập số liệu, đánh giá thực trạng QL BDGV.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kế hoạch của nhà trường, các tài liệu, các loại báo cáo sơ kết, tổng kết, báo
cáo chuyên đề, các loại số liệu ... để nhận định, đánh giá đúng thực trạng QL BDGV. Phân tích
tr. 116]. Từ đó, đưa ra những nghiên cứu về những thời kỳ biến chuyển của GV và đề nghị về
những cải cách chương trình (CT) ĐT GV.
- Trong giáo trình BD Hiệu trưởng trường trung học cơ sở (THCS), tập 3, do Chu Mạnh
Nguyên chủ biên, Thạc sĩ Đỗ Thị Hoà đã đưa ra tầm quan trọng, mục tiêu, nguyên tắc, nội dung
(ND) và biện pháp BDGV.
- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bất cứ hoàn cảnh nào dù khó khăn đến đâu, ngành GD
cũng tìm mọi biện pháp mở trường, lớp (dài hạn, ngắn hạn, cấp tốc, tập trung, phân tán, nhóm
nhỏ…) để ĐT, BD đội ngũ.” [42,tr.201] Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số bài học về BD
đội ngũ.
- Trong cuốn: “Cẩm nang nâng cao năng lực và phát triển đội ngũ GV do PSG. TS Trần
Quang Quý chỉ đạo biên soạn đã đề cập rất nhiều đến nghề thầy, người thầy, năng lực sư phạm
và con đường nâng cao năng lực sư phạm.
- Cuốn: “Giải pháp tổng thể quản lý nhà trường hiệu quả trong thời kỳ hội nhập quốc tế” do
Hồ Phương Lan biên tập đã nêu lên những yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ, việc tăng
cường QL, xây dựng và phát triển đội ngũ.
- Một số Luận văn thạc sĩ như:
“Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả BD nghiệp vụ sư phạm cho GV
THCS huyện Định quán, tỉnh Đồng Nai” của Vũ Hoàng Chương.
“Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ GV của hiệu trưởng trường THPT Bán
công trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của Vũ Thị Thanh Huyền.
- Một số các văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác QL BDGV như:
+ Chiến lược phát triển GD 2001-2010 đã đưa ra các giải pháp phát triển GD, trong đó có
giải pháp về phát triển ĐNNG, đổi mới PP GD.
+ Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về một số biện pháp cấp bách xây
dựng ĐNNG của hệ thống GD quốc dân có đề cập đến công tác xây dựng đội ngũ GV phổ
thông.
+ Chỉ thị số 22/2003/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT về việc BD nhà giáo và
CBQL hàng năm đã đề ra mục tiêu, đối tượng, ND, PP BD nhà giáo và CBQL.
nhất định”[31, tr. 225]
+ Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ
thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể QL) nhằm thực hiện những
mục tiêu dự kiến.”[37,tr.24]
+ Hà Sĩ Hồ cho rằng “QL là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong
số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm giữ cho sự vận
hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định.” [21, tr. 21]
+ Theo từ điển GD học: “QL là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho một
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [19, tr. 326]
Nói tóm lại, mặc dù được diễn đạt dưới nhiều gốc độ khác nhau nhưng các quan điểm về
QL đã nêu đều thể hiện được ND: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động,
phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong
và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu
quả cao nhất.” [24, tr. 8]
“Cách QL với tư cách thực hành nó là nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức làm cơ sở cho
nó có thể coi như là một nghệ thuật” [18, tr. 23]
Như vậy ta thấy rằng : QL vừa là
khoa học lại vừa là nghệ thuật.
QL có các chức năng cơ bản sau: Hoạch định-Tổ chức-Điều khiển- Kiểm tra [30, tr. 68]
+ Hoạch định: Hoạch định là quá trình ấn định những mục tiêu và định những biện pháp
tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó.
Có hai loại hoạch định là hoạch định chiến lược và hoạch định tác nghiệp. Hoạch định
chiến lược là đưa ra những mục tiêu và những biện pháp lớn có tính cơ bản để đạt được mục
tiêu trên cơ sở các nguồn lực hiện có cũng như các nguồn lực có khả năng huy động. Còn hoạch
động tác nghiệp là đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả và thường ở các lĩnh vực cụ thể. Nếu không
có các mục tiêu rõ ràng, việc QL chỉ là ngẫu nhiên và không có một cá nhân và một nhóm
người nào có thể thực hiện nhiệm vụ một cách có kết quả, có hiệu quả.
Cũng như khái niệm QL, QLGD cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
+ Theo từ điển GD học (2001), NXB từ điển bách khoa Hà Nội thì QLGD (theo nghĩa
rộng) là thực hiện việc QL trong lĩnh vực GD. QLGD (theo nghĩa hẹp) thì chủ yếu là QLGD thế
hệ trẻ, GD nhà trường, GD trong hệ thống GD quốc dân.
+ Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lí GD của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội Việt Nam, mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học-GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất.” [37, tr. 35]
+ Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là một chuỗi tác động hợp lí (có mục đích, tự giác, hệ
thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức-sư phạm của chủ thể QL đến tập thể GV và HS, đến
những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng công tác, phù hợp,
tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới
việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến.” [26, tr. 16]
+ Tác giả Nguyễn Gia Quý cho rằng: “QLGD là tác động có ý thức của chủ thể QL đến
khách thể QL, nhằm đưa hoạt động GD tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng
đúng những quy luật khách quan của hệ thống. QLGD vận dụng bốn chức năng QL: Lập kế
hoạch, tổ chức triển khai kế hoạch, kiểm tra-đánh giá để thực hiện các nhiệm vụ công tác của
mình”[38, tr. 2]
Như vậy, mặc dù được diễn đạt ở nhiều cách khác nhau, nhưng bản chất của QLGD vẫn
là sự tác động của chủ thể QL đến đối tượng QL một cách có định hướng, có chủ đích nhằm
đưa hoạt động của từng cơ sở GD vận hành và đạt mục tiêu đề ra.
QLGD trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, ĐT nhân lực, BD nhân
tài. Còn ở góc độ nhân cách thì QLGD là QL sự hình thành và phát triển của nhân cách.
1.2.1.3. Quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức xã hội được hình thành để thực hiện mục tiêu riêng. Nhà trường
là tổ chức cơ sở của hệ thống GD, là nơi tập hợp những người thực hiện nhiệm vụ chung: Dạy
và học, GD và ĐT những nhân cách theo mục tiêu đề ra.
kế hoạch lâu dài về BDGV nhằm thoả mãn nhu cầu nghề nghiệp của Nhà giáo, đồng thời đáp
ứng những đòi hỏi nâng cao chất lượng GD, ĐT của cơ sở GD. BDGV được tiến hành chủ yếu
dưới hai hình thức: Tập trung và thường xuyên”. [19, tr. 30, 31]
“BDGV nhằm nâng cao nhận thức chủ nghĩa Mác-Lê Nin; đường lối quan điểm của Đảng;
chủ trương chính sách của Nhà nước và của ngành; nâng cao năng lực CMNV theo hướng cập
nhật, hiện đại hoá phù hợp với thực tiễn GD Việt Nam để đáp ứng các yêu cầu đổi mới về mục
tiêu, ND, PP GD.”[6]
Tóm lại, BDGV thực chất là nhằm bổ sung thêm những kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu,
cập nhật thêm cho GV những kiến thức về khoa học GD, về ND CT SGK, về đổi mới PP,
những kiến thức về chính trị, kinh tế, xã hội... nâng cao trình độ mọi mặt cho GV nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp GD, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.
* Quản lý bồi dưỡng giáo viên
QL BDGV là việc thực hiện các chức năng QL trong quá trình tổ chức BDGV từ chức năng
Hoạch định-Tổ chức-Điều khiển đến khâu kiểm tra để công tác BDGV đạt mục tiêu, hiệu quả.
1.2.2.2. Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên
“Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [39, tr. 58]
Biện pháp quản lý BDGV được hiểu là những cách thức, những phương tiện mà các cấp
QL, các nhà QL dùng để tác động lên đội ngũ GV nhằm đạt được mục đích nhất định về nhận
thức, tư tưởng, tình cảm, chuyên môn, năng lực theo yêu cầu của xã hội về GD và ĐT.
1.2.3. Tầm quan trọng, sự cần thiết và nội dung quản lý bồi dưỡng GV
1.2.3.1. Tầm quan trọng
“Công tác nâng cao trình độ đội ngũ GV được coi là nhiệm vụ quan trọng, mang tính quy
luật; là điều kiện không thể thiếu để nâng cao vai trò GV và chất lượng GD, đáp ứng nhu cầu
phát triển của đất nước.” [40]
Xuất phát từ vai trò của người GV, họ là lực lượng chủ đạo, quyết định chất lượng GD.
Mục tiêu GD có đạt được hay không, đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất,
năng lực của người GV. Vì thế, việc BD nâng cao chất lượng đội ngũ GV có tầm quan trọng rất
Đại học và đặc biệt là chất lượng BD trong quá trình GV công tác giảng day.
Ngày nay, với sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, sự đòi hỏi ngày càng cao của
GD mà GV với nghề nghiệp đặc thù, phần lớn thời gian dành cho lao động sư phạm, việc tổ
chức BD, tự BD chưa thường xuyên, kém hiệu quả đòi hỏi công tác QL BDGV một cách khoa
học, có tổ chức, có kế hoạch là vấn đề rất quan trọng và rất cần thiết.
1.2.3.3. Một số nội dung quản lý bồi dưỡng giáo viên
* Quản lý mục tiêu bồi dưỡng giáo viên
QL BDGV nhằm giúp GV hoàn thiện hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức,
PP mới. Trang bị thêm cho GV về trình độ chính trị, tin học, ngoại ngữ. Làm cho ĐNNG được
chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu; nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức lới sống, lương tâm, tay nghề, góp phần nâng cao chất lượng GD và ĐT,
đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
* Quản lý nội dung bồi dưỡng giáo viên
QL BDGV là việc thực hiện các chức năng QL trong quá trình BDGV.
Cụ thể: Trong việc xây dựng kế hoạch QL BDGV phải dựa trên cơ sở các văn bản hướng
dẫn của ngành, sự phối hợp giữa Sở GD và ĐT với các nhà trường THPT, trên cơ sở rà soát
tình hình đội ngũ GV và điều kiện của đơn vị .v.v…để xây dựng kế hoạch BD trước mắt cũng
như lâu dài.
Trong quá trình tổ chức: Trên cơ sở kế hoạch, Sở GD và ĐT và các trường THPT tiến
hành tổ chức BDGV với các nội ND, hình thức BD đã được hoạch định trước.
Trong khâu kiểm tra: Cần tiến hành kiểm tra về số lượng, đối tượng tham gia BD, kiểm tra
tiến độ thực hiện theo kế hoạch, kiểm tra về nội dung, hình thức, điều kiện tổ chức và kiểm tra
tính hiệu quả của công tác này.
Việc thực hiện các chức năng trên nhằm làm hiệu quả QL các nội dung:
+ BD để GV nâng lên trình độ trên chuẩn.
+ BD để GV cập nhật kiến thức, PP (Còn gọi là BD thường xuyên). BD đổi mới CT, SGK
mới (Còn gọi là BD thay sách).
+ BD về trình độ chính trị, tin học, ngoại ngữ.
BD là GV, có người nhiều lứa tuổi khác nhau, vốn sống, kinh nghiệm cũng khác nhau. Nên cần
phải chọn PP BD thích hợp, linh hoạt, cần chú ý đến việc khai thác nhiều kênh thông tin, hướng
người được BD thực hiện tự nghiên cứu, tự học là chính. Thời gian tổ chức BD cũng phải được
cân nhắc phù hợp với từng loại hình BD, từng đối tượng.
1.2.4. Trường THPT
Trường THPT là loại hình trường học nằm trong hệ thống GD quốc dân, thực hiện nhiệm
vụ “GD THPT được thực hiện trong ba năm học, từ lớp 10 đến lớp 12” [29, tr. 20]
1.2.4.1. Vai trò, vị trí, mục tiêu GD của trường THPT
- Trường THPT có vai trò to lớn trong việc ĐT ra thế hệ HS có khả năng sáng tạo, ham
học hỏi để lĩnh hội kiến thức.
Đặc biệt, với sự phát triển của công nghệ thông tin, xu hướng hội nhập hoá, toàn cầu hoá,
xã hội hoá GD, GD kết hợp với nghiên cứu khoa học … thì vai trò của trường THPT lại càng
trở nên quan trọng, trường THPT đã góp phần hoàn thiện kiến thức phổ thông, chuẩn bị, định
hướng nghề nghiệp chuẩn bị cho HS vào đời hoặc học ở những bậc cao hơn. Làm tốt vai trò
trên, trường THPT đã góp phần làm phát triển KT – XH, đưa đất nước dần tiến kịp với trình độ
phát triển của các nước trên khu vực và thế giới.
- Theo Điều 2 của Điều lệ trường trung học: “Trường trung học là cơ sở GD phổ thông của
hệ thống GD quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và con dấu riêng” [7, tr.2]
Theo Điều 26, luật GD 2005: “GD THPT được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến
lớp 12. HS vào lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp THCS, có tuổi là 15” [29, tr. 20]
Về mục tiêu ĐT của trường THPT: Điều 27 của luật GD xác định: “Mục tiêu của GD phổ
thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Trong đó mục tiêu GD THPT được xác định cụ thể là: “Nhằm giúp HS củng cố và phát
triển những kết quả của GD THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông
thường về kĩ thuật, hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng
6. QL, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất (CSVC), trang thiết bị theo quy định của Nhà
nước.
7. Tổ chức cho GV, nhân viên và HS tham gia hoạt động xã hội.
8. Tự đánh giá chất lượng GD và chịu sự kiểm định chất lượng GD của cơ quan có
thẩm quyền kiểm định chất lượng GD.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Pháp luật.
Như vậy, “Trường học hỗ trợ học tập liên tục và phát triển của HS cũng như hỗ trợ sự phát
triển liên tục của các nhà GD. Không thể có người này mà không có người kia. Xây dựng văn
hóa học tập chuyên nghiệp trong trường học là điều kiện cần thiết để học tập liên tục và đặc biệt
quan trọng nếu chúng ta phải liên kết sự phát triển chuyên môn với đổi mới về giảng dạy, học
tập và GD ở trường.” [34, tr. 275]
1.2.5. Giáo viên và đặc điểm lao động của giáo viên THPT
1.2.5.1. Giáo viên và vai trò của người giáo viên THPT
Điều lệ trường trung học xác định:
“GV là người làm nhiệm vụ giảng dạy, GD trong nhà trường”[7, tr.15]
GV bộ môn có những nhiệm vụ sau đây :
+ Dạy học và GD theo CT, kế hoạch GD; soạn bài; dạy thực hành thí nghiệm, kiểm tra,
đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy dủ, lên lớp đúng giờ, QL HS trong các
hoạt động GD do nhà trường tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;
+ Tham gia công tác phổ cập GD ở địa phương;
+ Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, BD CMNV để nâng cao chất lượng, hiệu quả
giảng dạy và GD;
+ Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm
tra của Hiệu trưởng và các cấp QLGD;
+ Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước HS, thương yêu,
tôn trọng HS, đối xử công bằng với HS, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của HS, đoàn
kết, giúp đỡ đồng nghiệp;
+ Phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV khác, gia đình HS, Đoàn Thanh niên Cộng sản
- Là người giám sát, cổ vũ và động viên cho HS: Mặc dù ngày nay, việc dạy học phải xuất
phát từ người học và tập trung vào người học nhưng để người học vận động phải có sự giúp đỡ,
hỗ trợ của người GV đúng lúc. Vì vậy, người GV cần phải làm tốt vai trò khích lệ, cổ vũ, giám
sát, động viên người học làm cho họ bật ra những khả năng còn tiềm ẩn.
- Là người kiểm tra đánh giá: Để biết kết quả quá trình GD – dạy học, người GV cần làm
tốt vai trò kiểm tra đánh giá. Qua đó người GV thẩm định được trình độ của HS để có thể điều
chỉnh kiến thức, PP phù hợp. Đồng thời động viên, khích lệ tính tích cực, sáng tạo của HS.
Tóm lại, có thể mượn lời bình khá ấn tượng của Tiến sĩ Raja Roy Singh-nhà GD nổi tiếng
Ấn Độ - nói về vai trò của GV: