ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ VÂN ANH
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG -TỈNH NAM ĐỊNH
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
HÀ NỘI - 2010
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CBQLGD Cán bộ Quản lý Giáo dục
ĐHSP Đại học Sư phạm
ĐHQG Đại học Quốc gia
ĐNGV Đội ngũ giáo viên
GD - ĐT Giáo dục – Đào tạo
GV Giáo viên
GVG Giáo viên giỏi
HSG Học sinh giỏi
KT-XH Kinh tế - Xã hội
Nxb Nhà xuất bản
QLGD Quản lý Giáo dục
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
5. Giả thuyết khoa học
thông chuyên
15
1.4.1. Trường trung học phổ thông chuyên trong hệ thống giáo dục
quốc dân
15
1.4.2. Phân công, năng lực và lao động sư phạm của giáo viên trung
học phổ thông chuyên
17
1.4.3. Đặc điểm của công tác phát triển đội ngũ giáo viên trung học
phổ thông chuyên
18
1.4.4. Tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ giáo viên trung
học phổ thông chuyên
23
1.5. Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông chuyên
23
1.5.1. Kế hoạch hoá đội ngũ giáo viên
24
1.5.2. Tuyển chọn đội ngũ giáo viên
24
1.5.3. Sử dụng đội ngũ giáo viên
25
1.5.4. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
25
1.5.5. Đánh giá, thẩm định đội ngũ giáo viên
38
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN LÊ HỒNG
PHONG - TỈNH NAM ĐỊNH 40
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội - giáo dục
của tỉnh Nam Định
40
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Nam Định
40
2.1.2. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội - giáo dục của tỉnh Nam Định
41
2.2.Thực trạng về trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam
Định và đội ngũ giáo viên nhà trường
43
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển nhà trường
43
2.2.2. Sứ mạng, nhiệm vụ, chức năng, mục tiêu của nhà trường
45
2.2.3. Điều kiện, cơ sở vật chất của nhà trường
49
2.2.4. Thực trạng đội ngũ giáo viên trong nhà trường từ năm 2005 đến 2010
50
2.3. Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên ở trường trung
học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định
74
3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
74
6
3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với tình hình thực tiễn
75
3.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
75
3.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
75
3.3. Mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học
phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, tinh Nam Định
76
3.3.1. Về số lượng
76
3.3.2. Về cơ cấu
77
3.3.3. Về chất lượng
77
3.4. Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ
thông chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục phổ thông hiện nay 77
3.4.1. Hoàn thiện công tác quy hoạch và xây dựng quy trình phát triển
đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện tại và tương
lai của nhà trường
100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
103
1. Kết luận
103
2. Khuyến nghị
103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
106
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2001 - 2010 là: “Đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng
đến năm 2020 nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại hoá Để đạt mục tiêu trên, giáo dục và khoa học - công nghệ có vai trò
quyết định, nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết” [1].
Nhân tố quyết định thắng lợi sự CNH, HĐH mà Đảng và Nhà nước đã
đề ra chính là nguồn lực con người, bởi vì, con người vừa là mục tiêu, vừa là
quan trọng của giáo dục là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài”. Trước những yêu cầu đổi mới giáo dục của đất nước, tháng 9/2007
Hội nghị các trường chuyên trong cả nước đã thông qua định hướng chiến
lược đến năm 2020 là: “phát triển các trường chuyên trong hệ thống trở thành
các trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia chất lượng cao và có ít
nhất 10 trường trọng điểm ngang tầm với các trường trung học phổ thông
chuyên quốc tế”. Do vậy, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường
trung học phổ thông chuyên càng trở nên quan trọng và cấp bách.
Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, tỉnh Nam Định thuộc hệ thống
các trường THPT chuyên và là một trường có bề dày không chỉ về truyền
thống mà về thành tích học tập cũng như các mặt hoạt động khác. Nhà trường
luôn cố gắng thực hiện tốt các nhiệm vụ, mục tiêu của mình và được đánh giá
ở tốp dẫn đầu trong hệ thống các trường THPT chuyên trong cả nước, góp
phần khẳng định vị thế của giáo dục tỉnh Nam Định nói chung và vị thế của
nhà trường nói riêng.
Thành tích của nhà trường gặt hái được trong những năm qua có phần
đóng góp rất nhiều của đội ngũ giáo viên và công tác phát triển đội ngũ của
3
nhà trường. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiên nay và mong
muốn nhà trường giữ vững danh hiệu, khẳng định thương hiệu thì công tác phát
triển đội ngũ cần phải có kế hoạch chiến lược cụ thể. Kế hoạch đó phải được
thực hiện từ khâu tuyển chọn, sử dụng, đánh giá, đào tạo và bồi dưỡng đến các
chế độ, chính sách đãi ngộ giáo viên và chính sách đầu tư hợp lý.
Đã có một số công trình khoa học, bài báo, tham luận nghiên cứu vấn
đề phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT chuyên để nâng cao chất lượng
giáo dục được công bố. Song không phải tất cả các nghiên cứu đó đều có tính
khả thi ở các trường THPT chuyên trong cả nước, bởi vì, ở mỗi loại trường, ở
từng địa phương khác nhau, với điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội khác
nhau, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, học sinh khác nhau nên giải
Lê Hồng Phong - tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, công tác phát triển đội ngũ giáo viên ở trường THPT chuyên
Lê Hồng Phong - tỉnh Nam Định tuy được chú trọng và đầu tư song chưa
đồng đều so với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay: số lượng đội ngũ giáo
viên còn thiếu, năng lực còn chênh lệch, cơ cấu chưa đồng bộ, kế hoạch, nội
dung và phương pháp quản lý theo hệ thống chưa cao. Trên cơ sở nghiên cứu
lý luận và thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên có thể đề xuất được
các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông chuyên Lê
Hồng Phong đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về nội dung
Đề tài tập trung khảo sát, nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ giáo
viên ở trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - tỉnh Nam Định.
6.2. Giới hạn về đơn vị khảo sát
Đề tài chỉ đề cập đến công tác phát triển đội ngũ giáo viên ở trường
THPT chuyên Lê Hồng Phong - tỉnh Nam Định từ 2010 đến năm 2015.
5
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập và đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu: các văn
bản, sách báo, tài liệu, báo cáo của nhà trường, các công trình nghiên cứu
khoa học liên quan đến đề tài, phân tích, tổng hợp, kết luận tài liệu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu
Điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên ở
trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - tỉnh Nam Định để làm rõ thực trạng
và các giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục của nhà trường.
khỏi vị trí truyền thống, đóng vai trò quan trọng trong tư duy phát triển của
mỗi quốc gia. Giáo dục vừa là động lực cho việc thực hiện kinh tế tri thức,
vừa là hạ tầng xã hội cho việc hình thành xã hội tri thức.
Do đó, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vai trò của giáo dục
không ngừng được củng cố và tăng cường. Giáo dục đóng vai trò hết sức quan
trọng trong chiến lược phát triển ở mọi đất nước, thậm chí, nó còn được đặt ở
vị trí hàng đầu. Đây thực sự là cuộc cách mạng trong các quan niệm, các cách
tiếp cận, nó đòi hỏi con người phải đổi mới cách nghĩ, cách làm để thích nghi
và làm chủ sự phát triển. Với tầm quan trọng của giáo dục trong nền kinh tế
tri thức, nhiều quốc gia trên thế giới đa nhạy bén tiến hành nghiên cứu cải
cách giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông.
Đối với Việt Nam, trong công cuộc đổi mới xây dựng và phát triển đất
nước, chúng ta đã xây dựng một hệ thống giáo dục liên thông và hoàn chỉnh
từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học nhằm đáp ứng một cách tích cực
nhu cầu nâng cao dân trí, nhu cầu nhân lực và nhân tài cho xã hội. Trong suốt
tiến trình ấy, hệ thống giáo dục Việt Nam không ngừng xây dựng và phát
triển đội ngũ giáo viên với quan điểm: Chất lượng đội ngũ giáo viên là nhân
tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục. Nói đến giáo dục, Đảng, Nhà
nước và Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, đặc biệt đề cao vai trò của đội
7
ngũ giáo viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan
trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Bác còn
căn dặn “các cô, các chú đã thấy trách nhiệm to lớn của mình, đồng thời cũng
thấy khả năng của mình cần được nâng cao thêm lên mãi mới làm tròn nhiệm
vụ” [29, tr.114]. Các nghị quyết của Đảng, Luật Giáo dục, Chiến lược phát
triển giáo dục và các chủ trương, chính sách của Nhà nước ta đều nhất quán
đăt đội ngũ giáo viên vào vị trí trung tâm, được xã hội tôn vinh và có vai trò
đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam. Chăm lo
xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên để họ đáp ứng yêu cầu và theo kịp
chuẩn trình độ đào tạo cho đội ngũ nhà giáo. Tăng cường các khóa bồi
dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên theo các chương trình tiên
tiến, các chương trình hợp tác với nước ngoài để đáp ứng được nhiệm vụ nhà
giáo trong tình hình mới” [1, tr.20]
Nhiều hội thảo khoa học về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành học, bậc học đã được thực hiện. Có
thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như tác giả Đặng Quốc Bảo –
Nguyễn Đắc Hưng [14], Trần Bá Hoành [24], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [28], ….
Nghiên cứu đề tài về phát triển đội ngũ giáo viên gần đây được rất
nhiều tác giả quan tâm và được thể hiện trong nhiều Luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Quản lý giáo dục. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ
giáo viên theo bậc học, ngành học trong đó chủ yếu đề cập đến đội ngũ giáo
viên của các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp: Nghiên
cứu của tác giả Bùi Anh Tuấn về “Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên
THCS huyện Từ Liêm Hà Nội đến năn 2015”; Tác giả Đinh Thái Thiện với
đề tài “Các biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên đạt chuẩn ở các trường
THPT huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh đến năm 2010”; Hoặc tác giả Hà Thị
Khánh Vân lại chọn đề tài nghiên cứu là “các giải pháp quản lý nhằm xây
dựng và phát triển đội ngũ giáo viên của trường THPT chuyên Chu Văn An
9
tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay” [36]… nhưng đề tài nghiên cứu phát
triển đội ngũ các trường THPT chuyên thì chưa nhiều.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề trên, có thể rút ra một số nhận
xét như sau:
- Nghiên cứu về sự phát triển dội ngũ giáo viên được triển khai ở nhiều
cấp độ khác nhau, đặc biệt dưới góc độ quản lý giáo dục.
- Các nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên chưa tập trung
vào hai phần chính: nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên theo cấp
học, ngành học; nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên cho từng cơ sở
Từ những cách hiểu khác nhau đó, có thể kết luận là: Đội ngũ giáo viên
là tập hợp những người làm công tác giáo dục và dạy học ở một trường học
hay một cấp học, ngành học nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra
cho tổ chức đó.
1.1.2. Phát triển, phát triển đội ngũ giáo viên, biện pháp phát triển đội ngũ
giáo viên
1.1.2.1. Phát triển
Theo lý luận của phép biện chứng duy vật: Phát triển là sự vận động tất
yếu của sự vật hiện tượng để phù hợp với quy luật khách quan. Phát triển là
quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là quá trình tạo ra sự hoàn thiện cho cả tự
nhiên và xã hội, là quá trình hiện thực nhưng cũng có thể là tiềm năng của sự
vật hiện tượng.
Nhưng theo từ điển Tiếng Việt, phát triển có nghĩa là biến đổi hoặc làm
cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến
cao, đơn giản đến phức tạp. Nói cách khác, phát triển có nghĩa là làm tăng cả
về số lượng, chất lượng và quy mô của một quá trình vận động.
1.1.2.2. Phát triển đội ngũ giáo viên
11
Phát triển đội ngũ giáo viên là tạo ra đội ngũ giáo viên có đủ về số
lượng, đảm bảo về chất lượng, cân đối và đồng bộ về cơ cấu cho các môn học
được đặt ra trong phân phối chương trình. Trên cơ sở đó, đội ngũ này sẽ đảm
nhiệm và thực hiện tốt các nhiệm vụ của chương trình đáp ứng yêu cầu của
giáo dục phổ thông.
Phát triển đội ngũ giáo viên là quá trình vận động liên tục nhằm tạo ra
sự gắn bó giữa xây dựng chuẩn nghề nghiệp, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng
với việc sử dụng hợp lý nhằm tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển
và đôi ngũ giáo viên được đánh giá một cách chính xác, khách quan.
Do vậy, phát triển đội ngũ giáo viên là một khái niệm tổng hợp bao
niệm “nguồn nhân lực” nhấn mạnh sự cần thiết đáp ứng nhu cầu toàn diện
của con người, nuôi dưỡng nhân tố này trở thành động lực chủ yếu cho quá
trình phát triển [12, tr.8].
Nguồn nhân lực được xác định là nguồn lực tiềm năng và vô tận của
mỗi quốc gia. Bên cạnh các nguồn tài lực, vật lực thì nguồn nhân lực, đặc biệt
nguồn nhân lực có hiểu biết, có trình độ cao sẽ ngày càng trở thành nguồn lực
quan trọng nhất, có ý nghĩa chiến lược trong xã hội ngày nay, thậm chí trong
thế kỷ sau.
Tóm lại, việc làm rõ bản chất và vai trò bổ sung tương hỗ khái niệm
nguồn nhân lực và vốn người, là cơ sở cho các nhà quản lý nhận thức và đưa ra
cá biện pháp đúng đắn để việc quản lý nhân tố con người nhằm đạt được sự hài
hòa giữa hai khía cạnh: Con người vừa là mục tiêu vừa là sức mạnh của sự phát
triển, đồng thời quản lý nhằm đạt được sự đồng thuận và kỷ cương xã hội.
1.3.2. Nội dung quản lý phát triển nguồn nhân lực
Theo lý thuyết quản lý nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực,
nguồn nhân lực có thể được hiểu theo hai cấp độ:
1.3.2.1. Cấp độ vĩ mô
Được xem xét ở 3 góc độ kinh tế, giáo dục, và chính trị - xã hội
13
- Dưới góc độ kinh tế: Quản lý phát triển nguồn nhân lực tập trung vào
công tác quy hoạch cơ cấu lao động, cơ cấu nhân lực trong tương quan với cơ
cấu kinh tế.
- Dưới góc độ giáo dục: Tập trung vào công tác giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng.
- Dưới góc độ chính trị - xã hội: Tập trung vào việc đưa ra các chính
sách đảm bảo quyền tự do dân chủ, sự an ninh đối với đời sống của con
người, sức khỏe của con người, giữ gìn môi trường sống tự nhiên trong lành,
đảm bảo bình đẳng giới, bình đẳng dân tộc…[12, tr.7]
Để khẳng định vai trò cửa nguồn nhân lực, vai trò của GD – ĐT trong
công tác phát triển nguồn nhân lực, Nghị Quyết đại hội Đảng Cộng sản Việt
khích người lao động thông qua tác động của niềm tin, giá trị và chuẩn mực hành
vi. Ngoài ra, việc tuyển chọn, bố trí, đánh giá, phát triển và thưởng phạt theo
cách có thể tạo ra sự cam kết bền vững với mục tiêu của tổ chức [27, tr.1] .
- Về chính sách và kỹ thuật quản lý yếu tố con người: luôn theo hướng
tạo ra sự khuyến khích đủ mạnh để người lao động làm việc, dâng hiến hết
sức lực của bản thân cho tổ chức. Đó là sự tiến bộ về chất của quản lý nguồn
nhân lực so với cách tiếp cận quản lý nhân sự trước đây [27, tr.1] .
1.3.3. Tư tưởng chỉ đạo về phát triển nguồn nhân lực
Từ những phân tích trên, cho thấy vấn đề quản lý phát triển nguồn nhân
lực cho dù ở cấp độ vĩ mô hay tổ chức chỉ thực sự hiệu quả khi chúng ta có
những chính sách, tư tưởng chỉ đạo về phát triển nguồn nhân lực một cách
đúng đắn, có thể coi đây là kim chỉ nam cho quản lý nguồn nhân lực. Các tư
tưởng chỉ đạo bao gồm:
1. Lấy phát triển bền vững con người là tư tưởng trung tâm;
Con người là “nguyên khí của mỗi quốc gia”, con người cần được “quản
lý, chăm sóc và phát triển từ thai nhi, tuổi ấu thơ, tuổi vị thành niên, tuổi lao
động và cả thời kỳ sau lao động” [12, tr.2-6]. Phát triển con người không chỉ
nhấn mạnh đến phát triển thể lực, phát triển trí lực, mà nhấn mạnh phát triển
15
toàn diện con người “thể lực, trí lực, tâm lực, thái độ sống, thái độ lao động”
[12, tr.6]. Theo khuyến cáo của UNDP, bộ ba nhân tố: giáo dục – kinh tế - ý tế
có vai trò chủ yếu trong việc nâng cao năng lực con người, sự đóng góp của
con người vào quá trình phát triển, trong đó giáo dục được coi là nhân tố quyết
định vì sản phẩm của giáo dục chính là những con người có tri thức, có phẩm
chất và kỹ năng sống, có năng lực làm việc…, và những con người đó là
2. Mỗi con người là một cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình.
3. Nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động là lấy lợi ích người lao động.
Lợi ích đó phải hài hòa với lợi ích của cộng đồng, của xã hội.
4. Tiến hành giao lưu đồng thuận trong môi trường dân chủ được đảm bảo
1. Bồi dưỡng và phát triển năng khiếu của học sinh về một hoặc một số môn
học nhất định gọi là môn chuyên; đồng thời đảm bảo thực hiện đầy đủ kế
hoạch và chương trình giáo dục toàn diện của giáo dục phổ thông.
2. Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học phù hợp với trình độ và
tâm lý học sinh [3].
1.4.1.3. Quy mô phát triển các trường THPT chuyên
Tập hợp các trường THPT chuyên tạo thành hệ thống các trường THPT
chuyên, bao gồm: Trường THPT chuyên thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương và các trường THPT chuyên thuộc cơ sở giáo dục đại học.
Trong trường chuyên, mỗi khối học chỉ được thành lập một lớp chuyên
cho mỗi môn chuyên. Tùy điều kiện của tỉnh hoặc của trường đại học, trường
chuyên có thể có một số hoặc tất cả các lớp chuyên đó là: chuyên Toán, chuyên
Tin, chuyên Lý, chuyên Hóa, chuyên Sinh, chuyên Văn, chuyên Sử, chuyên
Địa, chuyên Tiếng Anh, chuyên Tiếng Nga, và tiếng Pháp. Vậy là số lớp
chuyên nhiều nhất ở tất cả các môn chuyên ở mỗi trường chuyên là 33 lớp. Mỗi
lớp chuyên có từ 30 đến 35 học sinh, học chương trình một môn chuyên.
Ngoài ra, trong trường chuyên có thể có một số lớp không chuyên. Số lớp
không chuyên chiếm không quá 30% so với tổng số lớp chuyên toàn trường. Vậy
là số lớp không chuyên nhiều nhất ở mỗi trường THPT chuyên là 11 lớp [3].
17
Nghiên cứu về lý luận phát triển nguồn nhân lực đã làm rõ vai trò quan
trọng của giáo dục trong việc phát triển nguồn nhân lực người, đáp ứng những
yêu cầu trước xu hướng toàn cầu hóa và những yêu cầu khi nhân loại bước
vào kỷ nguyên tri thức.
Nhà trường nói chung và các trường THPT chuyên nói riêng là cơ sở
giáo dục, là tổ chức văn hóa – xã hội, trong đó đội ngũ nhà giáo là nguồn
nhân lực sư phạm trong nhà trường. Việc nghiên cứu vê lý luận phát triển đội
ngũ giáo viên trường THPT chuyên thực chất là nghiên cứu về lý luận phát
triển nguồn nhân lực ở cấp độ tổ chức. Chính vì vậy, chúng ta cần tập trung
đạo đức tốt, xây dựng kế hoạch đào tạo thạc sỹ đáp ứng số lượng theo quy chế
tổ chức và hoạt động của trường THPT chuyên.
Đội ngũ giáo viên THPT chuyên phải là đội ngũ có trình độ đạt chuẩn
và trên chuẩn bậc THPT, được phân công giảng dạy khối lớp chuyên, được
đánh giá bằng các chuẩn mực đạo đức, phẩm chất với vai trò là người khai
sáng tài năng cho học sinh năng khiếu, trước hết phải là một công dân mẫu
mực, có nhân cách của người lao động, sáng tạo, năng động, có tay nghề, có
tâm hồn cao đẹp. Năng lực nhà giáo phải được thể hiện qua các thành tố: năng
lực hiểu biết, năng lực tổ chức, quản lý; năng lực sử dụng phương pháp dạy
học; năng lực tự học, biết cách tự học và biết dạy cách học; năng lực nghiên
cứu khoa học và ứng dụng các kết quả nghiên cứu; năng lực sử dụng ngoại
ngữ, máy tính và các phương tiện dạy học. Ngoài ra còn có năng lực chủ thể
hóa; năng lực xã hội hóa; năng lực giao tiếp, trao đổi, hợp tác, hòa nhập
1.4.3. Đặc điểm của công tác phát triển đội ngũ giáo viên THPT chuyên
1.4.3.1. Khái niệm đội ngũ giáo viên trường THPT chuyên
Từ việc nghiên cứu về đội ngũ giáo viên các trường THPT nói chung và
trường trung học phổ thông chuyên nói riêng, ta có thể quan niệm: “Giáo viên
trường trung học chuyên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy ở trường THPT
chuyên”. Giáo viên trường THPT chuyên có thể được chia thành hai nhóm:
19
- Nhóm thứ nhất bao gồm các giáo viên dạy môn chuyên, ví dụ giáo viên
dạy môn Toán ở lớp chuyên Toán, giáo viên dạy môn Văn ở lớp chuyên
Văn…. Nhóm giáo viên dạy môn chuyên làm nhiệm vụ giảng dạy và bồi
dưỡng đội tuyển học sinh giỏi theo môn chuyên. Giáo viên dạy môn chuyên là
lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ của trường THPT chuyên.
- Nhóm thứ hai bao gồm các giáo viên dạy môn không chuyên, ví dụ
giáo viên dạy môn Toán ở lớp chuyên Tin hoặc các lớp không chuyên, giáo
viên dạy Thể dục ở tất cả các lớp.