LUẬN văn THẠC sĩ TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ xã hội CHỦ NGHĨA TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG tố và KIỂM SOÁT các HOẠT ĐỘNG tư PHÁP của VKSND TP hà nội - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) là một trong những nguyên tắc cơ
bản làm nền tảng cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy
nhà nước XHCN. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của
các cơ quan nhà nước trước hết phải dựa trên cơ sở pháp luật và được tiến
hành theo đúng quy định của pháp luật; mọi cán bộ, công chức nhà nước phải
nghiêm chỉnh tôn trọng pháp luật trong khi thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ của
mình. Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh các hành vi vi
phạm pháp luật cũng là một nội dung quan trọng của nguyên tắc pháp chế
XHCN.
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một trong bốn hệ thống cơ quan
cấu thành nên bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chế
định về VKSND là một đặc điểm riêng có của kiểu Nhà nước XHCN theo
sáng kiến vĩ đại của V.I. Lênin. Cùng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà
nước, thời gian qua ngành Kiểm sát nhân dân (KSND) đã không ngừng
trưởng thành và lớn mạnh. Từ năm 2001 trở về trước, VKSND là cơ quan duy
nhất trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật và thực hành quyền công tố. Từ khi ra đời (ngày 26/7/1960) cho đến nay,
hệ thống VKSND đã phát huy được vị trí, vai trò và thực hiện tốt chức năng
của mình, góp phần đáng kể vào công cuộc bảo vệ nền pháp chế XHCN nhằm
mục đích bảo vệ và xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta đang chủ trương đổi
mới toàn diện đất nước theo hướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN. Thực hiện chủ trương đó, Đảng ta xác định phải đổi mới tổ chức và
hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước sao cho phù hợp với điều




3

Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN
Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi
một số điều của Hiến pháp năm 1992. Theo đó, chức năng của VKSND là:
"thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp". Để thực hiện chức
năng theo Hiến pháp quy định, hệ thống VKSND phải đổi mới cả về tổ chức
và phương pháp hoạt động sao cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới.
Trong hoàn cảnh đó, việc tăng cường pháp chế XHCN không chỉ là
một nhiệm vụ mà còn là một quan điểm cơ bản có tính nguyên tắc chỉ đạo
việc tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước nhằm xây dựng và hoàn thiện bộ máy
Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nhằm đảm bảo thắng lợi cho quá trình
đổi mới và phát triển đất nước. Để tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước, không chỉ xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, mà
quan trọng hơn là tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được
thực hành thường xuyên và nghiêm chỉnh, đấu tranh kiên quyết với những
hành vi vi phạm pháp luật. Pháp luật không được tuân thủ nghiêm chỉnh và
thống nhất thì pháp luật sẽ không có hiệu lực và trên thực tế cũng sẽ không có
pháp chế.
Muốn cho pháp luật của Nhà nước được đảm bảo thực hiện nghiêm
chỉnh và thống nhất thì điều quan trọng trước nhất là các cơ quan nhà nước,
các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế,các cán
bộ của Đảng và công chức nhà nước phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm
chỉnh, phải tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, phải làm đúng
trách nhiệm là người thừa hành ý kiến của nhân dân, là người bảo vệ và phục
vụ lợi ích của nhân dân. Từ đó đòi hỏi phải tăng cường pháp chế XHCN trong
hoạt động của VKSND nói chung và của mỗi cán bộ, kiểm sát viên của
VKSND thành phố Hà Nội nói riêng.

Đồng thời, vấn đề pháp chế XHCN và tăng cường pháp chế XHCN đã trở
thành một nội dung khoa học có vị trí không thể thiếu trong giáo trình Lý luận
chung về Nhà nước và Pháp luật của các trung tâm đào tạo Chính trị - Pháp lý


5

như: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội
(khoa Luật), Đại học Luật Hà Nội v.v...
Hiện nay vấn đề "tăng cường pháp chế XHCN"đã trở thành một
nguyên tắc hiến định, chính vì vậy nó đã thu hút được sự quan tâm nghiên
cứu của nhiều nhà khoa học pháp lý; có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về pháp chế và tăng cường pháp chế XHCN gần đây đã được công bố như:
- Luận án TS Luật học của Nguyễn Phùng Hồng về "Tăng cường
pháp chế XHCN trong hoạt động của lực lượng công an nhân dân trên lĩnh
vực bảo vệ an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, 1994.
- Luận án TS học Luật học của Quách Sỹ Hùng về "Tăng cường pháp
chế về kinh tế trong quản lý nhà nước nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
năm 1996.
- Luận án TS Luật học của Nguyễn Nhật Hùng về "Tăng cường pháp
chế XHCN trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe nhân dân ở nước ta hiện nay", Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1996.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng về "Tăng cường
pháp chế XHCN trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay",
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001.
Và nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả khác.
Như vậy, vấn đề pháp chế và tăng cường pháp chế XHCN trong một
số lĩnh vực cụ thể đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và làm sáng tỏ.

động tư pháp của VKSND thành phố Hà Nội và trong một số năm gần đây.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu


7

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật; cũng như các quan điểm, lý luận của Đảng
Cộng sản Việt Nam để chỉ đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, từng bước
đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo yêu cầu xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân hiện nay.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu của
triết học Mác - Lênin như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; phương
pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp nghiên cứu lịch sử, cụ thể và toàn
diện. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
cụ thể khác như: phương pháp lôgic, các phương pháp so sánh, đối chiếu,
thống kê, mô hình hóa...
6. Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về pháp chế
XHCN trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp.
- Lần đầu tiên đánh giá có hệ thống về pháp chế XHCN trong hoạt động
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp VKSND thành
phố Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm tăng cường pháp chế XHCN
trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.


C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã đề ra phương pháp luận tiên
tiến và khoa học để nghiên cứu lý luận về Nhà nước và pháp luật. Tuy hai ông


9

không nêu ra một khái niệm cụ thể nào về pháp chế song qua các tác phẩm
của mình, tư tưởng của các ông về pháp chế đã được đề cập trong khi nghiên
cứu pháp luật trong các nhà nước bóc lột.
Trong bộ Tư bản, tuy C. Mác không bàn trực tiếp về vấn đề pháp chế
nhưng khi nghiên cứu các quan hệ giữa nhà nước và công dân trong nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa, C.Mác cho rằng pháp chế là một chế độ tuân thủ pháp
luật trong thực tiễn.
Còn Ph.Ăngghen, trong tác phẩm "Bàn về vấn đề nhà ở" đã luận về
pháp chế như sau:
Ở một giai đoạn rất cổ xưa nào đấy của sự phát triển xã hội,
nhu cầu làm cho người ta thấy cần phải tập hợp dưới một quy tắc
chung. Những hành vi sản xuất phân phối và trao đổi sản phẩm tái
diễn hàng ngày cần phải làm thể nào để mọi người phải phục tùng
những điều kiện chung về sản xuất, trao đổi. Quy tắc đó thoạt tiên là
thói quen sau đó trở thành pháp luật. Có pháp luật thì những cơ
quan có nhiệm vụ duy trì pháp luật đó tất phải xuất hiện: quyền lực
công cộng, nhà nước. Trong tiến trình phát triển sau này của xã hội,
pháp luật phát triển thành pháp chế ít nhiều rộng rãi. Pháp chế càng
phức tạp bao nhiêu thì thuật ngữ của nó càng xa rời thuật ngữ biểu
hiện những điều kiện kinh tế thông thường của xã hội bấy nhiêu.
Lúc đó pháp chế ấy xuất hiện như một nhân tố độc lập mà lý do tồn
tại và cơ sở của sự tiến triển sau này của nó không phải xuất phát từ
những điều kiện kinh tế mà từ chính những nguyên nhân sâu sắc của
bản thân nó hay có thể nói ra từ khái niệm về ý chí [38, tr. 752].

Thứ ba: Đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp - cơ sở thiết lập một chế
độ pháp chế thống nhất trong cả nước.
Thứ tư: Pháp chế là những phương pháp chuyên chính vô sản, phương
pháp quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ năm: Pháp chế XHCN là phương pháp bảo đảm, bảo vệ quyền
con người, thực hiện nền dân chủ XHCN, xóa bỏ bóc lột và bất công, thiết lập
bình đẳng, công bằng xã hội.


12

1.1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về pháp
chế XHCN
Ý tưởng về việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân và tăng cường pháp chế không phải gần đây mới được đề cập tới, mà
từ lâu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm và chú trọng.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường của cách mạng Việt Nam, từ năm
1919, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã nói lên tiếng nói của các dân tộc
thuộc địa trong đó có Việt Nam về khao khát một xã hội thực sự có luật pháp
và những thiết chế cần thiết cho sự duy trì và thi hành pháp luật:
"Bẩy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền".
Đây là một trong 8 yêu sách mà Nguyễn Ái Quốc gửi cho các nước
đồng minh tại Hội nghị Vessailles năm 1919. Và trên cơ sở nhận thức được
vai trò vô cùng quan trọng của Hiến pháp trong việc xây dựng và củng cố một
Nhà nước kiểu mới, nhằm phát huy các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và
bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, trong cuộc họp đầu
tiên của Chính phủ nước Việt Nam độc lập - Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi

Cần phải tăng cường vai trò của cơ quan nhà nước các cấp,
thực hiện đúng chế độ tập trung dân chủ trong sinh hoạt của các cơ
quan nhà nước. Tất cả những chế độ pháp luật, thể lệ của Nhà nước
phải được cơ quan chính quyền các cấp chấp hành nghiêm chỉnh.
Kế hoạch nhà nước là một pháp lệnh, các cơ quan nhà nước phải chấp
hành đúng và phải đảm bảo cho mọi người chấp hành đúng [5, tr.
118].
Có thể thấy rằng, cách đề cập này còn sơ sài. Ngay thuật ngữ pháp chế
cũng chưa được nêu một cách trực diện. Điều đó cũng dễ hiểu bởi thời điểm


14

đó đất nước còn chia thành hai miền với hai nhiệm vụ chiến lược, việc nghiên
cứu lý luận còn hạn chế. Đáng chú ý là tại Đại hội lần này, Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã trình bày tham luận quan trọng với nhan đề "Mấy vấn đề về Nhà
nước dân chủ nhân dân" trong đó khẳng định: "Tăng cường nhà nước dân chủ
nhân dân là tăng cường pháp chế XHCN" [5, tr. 64]. Ông còn nói: "... chúng
ta phải rất xem trọng công tác lập pháp, dần dần xây dựng nền pháp chế
XHCN ngày càng đầy đủ. Đồng thời, chúng ta phải ra sức giáo dục nhân dân
nghiêm chỉnh thi hành pháp luật và có thái độ xử lý nghiêm khắc đối với
những hành vi vi phạm pháp luật" [5, tr. 65]. Ở đây, pháp chế đã được đề cập
rõ hơn song vẫn còn chưa tách bạch giữa "pháp chế" và "hệ thống pháp luật".
Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Đảng ta đã khẳng định:
Quyền làm chủ tập thể của nhân dân bằng Nhà nước dưới sự
lãnh đạo của Đảng phải được xác định bằng Hiến pháp và pháp luật.
Sức mạnh và nội dung cơ bản của pháp chế XHCN chính là quyền
làm chủ tập thể của nhân dân. Cần tăng cường pháp chế XHCN, làm
cho mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước đi vào khuôn phép và

Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có chủ định của các chủ thể tham
gia quan hệ pháp luật nhằm làm cho pháp luật được thực hiện trong cuộc
sống. Quá trình hoạt động đó bao hàm các dạng hành vi thực hiện pháp luật
như: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng
pháp luật. Như thế hệ thống quy phạm pháp luật của Nhà nước thông qua chế
độ thực hiện pháp luật đã được chuyển hóa thành pháp chế.
Như vậy, quan điểm cơ bản từ trước tới nay vẫn coi: "Pháp chế chính
là sự đòi hỏi mọi cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, các tổ chức
chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức kinh tế cũng như mọi
công dân đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật trong hoạt động của
mình". Theo đó, định nghĩa này tập trung nhấn mạnh nội dung cơ bản đó là sự
tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của mọi chủ thể pháp luật.
Đặc trưng lớn nhất của pháp luật là tính qui phạm phổ biến, pháp luật
mang tính bắt buộc chung đối với mọi đối tượng tham gia các quan hệ xã hội


18

mà nó điều chỉnh, điều này được nhà nước thừa nhận và được đảm bảo bằng
các biện pháp cưỡng chế mang tính nhà nước. Mọi chủ thể pháp luật đều phải
xử sự phù hợp với pháp luật. Bản thân nhà nước - chủ thể ban hành và đảm
bảo sự thi hành pháp luật cũng phải tự đặt mình vào việc nghiêm chỉnh thực
hiện pháp luật. Bởi Nhà nước và pháp luật của chúng ta mang tính nhân dân
sâu sắc, phục tùng pháp luật là phục tùng ý chí và lợi ích của nhân dân, đường
lối chính sách của Đảng đã được thể chế hóa thành luật. Nhà nước pháp
quyền XHCN không cho phép Nhà nước và các chủ thể quyền lực công đứng
ngoài và hành xử ngoài pháp luật. Đứng trước pháp luật, mọi người đều bình
đẳng, tất cả các hành vi vi phạm pháp luật đều bị trừng trị, mọi chủ thể vi
phạm pháp luật đều bị truy cứu trách nhiệm pháp lý. Pháp chế XHCN xa lạ
với sự phân biệt đối xử, đặc quyền đặc lợi, không có đất cho các biểu hiện lạm

cạnh đó pháp chế chỉ có thể được củng cố và tăng cường trong điều kiện một
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ.
Trước sự vận động không ngừng của đời sống xã hội, quan điểm trên
đây về pháp chế XHCN dường như đã không còn mang tính chính xác khoa
học cao. Quan điểm đó vẫn đúng nhưng chưa thực sự đủ. Hiện nay đang phổ
biến một quan điểm khoa học cho rằng: "Pháp chế là sự hiện diện của một hệ
thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự
tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp
luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị, tổ
chức và đối với công dân" [49, tr. 680].
Trong định nghĩa này có mấy nội dung chính yếu sau đây:
- Sự hiện diện của một hệ thống pháp luật; và hệ thống pháp luật này
là điều kiện cần và đủ cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật.
- Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị, tổ chức
và mọi công dân phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh pháp luật.


20

Cách tiếp cận thứ nhất cho ta thấy một cách nhìn cận cảnh về pháp chế,
nói một cách khác, định nghĩa thứ nhất về pháp chế là một định nghĩa hẹp về
pháp chế. Cách tiếp cận thứ hai hàm chứa định nghĩa hẹp về pháp chế đồng
thời có bổ sung hai nội dung mới cho ta một cái nhìn bao quát hơn về pháp chế
XHCN. Cách tiếp cận này đáp ứng được những đòi hỏi hiện nay của lý luận
cũng như thực tiễn là phải trả lời câu hỏi: pháp chế dựa trên cơ sở nào, để làm
gì và duy trì nó như thế nào. Nó cho chúng ta một định nghĩa rộng về pháp chế.
Định nghĩa này trước hết đã trực tiếp xác định vai trò vô cùng quan
trọng của một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh trong vai trò là nền tảng của việc
thiết lập pháp chế XHCN.
Như chúng ta đã biết, bất cứ một xã hội nào cũng đều cần có sự quản

Theo lôgíc của các quan hệ biện chứng trên từ pháp luật đến chế độ
thực hiện pháp luật cấu thành chế độ pháp chế; các nhà khoa học pháp lý đã
xem xét hiện tượng xã hội pháp lý đó và cho rằng đó là trạng thái trật tự pháp
luật. Trật tự pháp luật phải chăng là một hệ thống các quan hệ xã hội hình
thành và phát triển dưới sự tác động điều chỉnh của hệ thống các quy phạm
pháp luật.Vậy trật tự pháp luật có phải là pháp chế không? Đã từng có hai
quan niệm để lý giải mối quan hệ giữa pháp chế và trật tự pháp luật. Quan
niệm thứ nhất coi trật tự pháp luật là yếu tố cấu thành của pháp chế. Quan
niệm thứ hai có thể là hợp lý hơn khi cho rằng trật tự pháp luật không phải là
yếu tố bên trong trùng khớp với nội hàm pháp chế mà trật tự pháp luật là mục
đích của pháp chế, là hiệu quả của quá trình thiết lập và tăng cường pháp chế.
Tóm lại, trong lịch sử ra đời, tồn tại, phát triển của mỗi nhà nước có
một lịch sử ra đời, tồn tại của pháp luật và pháp chế tương ứng. Thấu suốt trong
dòng lịch sử đấu tranh chống lạm dụng quyền lực, độc đoán chuyên quyền từ
phía nhà nước và chống tư tưởng còng như hoạt động vô chính phủ, coi
thường pháp luật của công dân nhằm đảm bảo cho pháp luật thực sự ngự trị
trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội; thành lập nên một trật tự pháp
luật theo ý chí và mục đích của giai cấp thống trị xã hội.


22

Từ sự phân tích trên có thể rút ra định nghĩa pháp chế XHCN như sau:
Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong
đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà
nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và
thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.
1.1.2. Những nguyên tắc của pháp chế XHCN
Ngày nay Đảng ta đang chủ trương xây dựng một Nhà nước pháp
quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, và vì dân. Trong quan niệm về nhà

nhất cho cả nước, mặt khác, trong hoạt động của mình cần tính toán đầy đủ
những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của địa phương. Song, sự tính toán đó
không phải để vi phạm pháp luật mà để tìm kiếm những hình thức, biện pháp
và phương sách đặc thù của địa phương nhằm thực hiện pháp luật tốt hơn.
Pháp luật luôn mang trong nó tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
nên pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn bộ
lãnh thổ quốc gia. Điều đó cũng có nghĩa: Luật, Pháp lệnh không được mâu thuẫn
với Hiến pháp, các văn bản dưới luật không được mâu thuẫn, chồng chéo với các
văn bản luật, các văn bản pháp luật của địa phương, của các bộ, ngành không
được đặt lợi ích cục bộ của địa phương và của ngành mình đối lập với lợi ích của
quốc gia. Đặt vấn đề như vậy không có nghĩa là triệt tiêu hoàn toàn tính chủ
động sáng tạo của các địa phương và các bộ ngành, bỏ qua tính đặc thù của từng
địa phương và bộ ngành. Trên cơ sở sự thống nhất, các địa phương và các bộ
ngành có thể vừa tính toán tới những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình vừa
thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã được qui định thống nhất trong phạm vi cả
nước.
Trong quan hệ với các văn bản luật và các văn bản qui phạm dưới
luật, Hiến pháp là đạo luật mang tính tối cao, do Quốc hội ban hành và là đảm
bảo cao nhất của pháp chế. Điều này được chính Hiến pháp qui định: "Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước,
có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với


24

Hiến pháp". Bản thân Hiến pháp cũng được xây dựng và ban hành theo một
trình tự thủ tục riêng theo qui trình lập hiến với yêu cầu phải được 2/3 số đại
biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Về vấn đề này, để đảm bảo tính thống
nhất của pháp luật, tính tối thượng của Hiến pháp và quan trọng hơn để tăng
cường pháp chế XHCN cần sớm khắc phục những sai lầm cơ bản, những biểu

luật. Những văn bản dưới luật phải được ban hành trên cơ sở và để thi hành
Hiến pháp và các đạo luật, không được trái với Hiến pháp và các đạo luật đó.
1.1.2.4. Bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền và tự do của công
dân đã được pháp luật quy định
Trong xã hội ta, công dân có những quyền tự do, dân chủ rộng rãi.
Một trong những yêu cầu quan trọng nhất của pháp chế là phải bảo đảm và
bảo vệ những quyền dân chủ đó. Công dân khi sử dụng các quyền tự do được
pháp luật ghi nhận, không được gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước và xã hội,
cũng như lợi ích của các công dân khác.
1.1.2.5. Ngăn chặn kịp thời và xử lý nhanh chóng, công minh mọi
vi phạm pháp luật
Bất kỳ vi phạm pháp luật nào cũng có hại cho lợi ích của nhà nước, xã
hội và công dân. Bởi vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xử lý
nhanh chóng, công minh và có hiệu quả đối với những vi phạm đó. Để làm
được điều này cần phải chỉnh đốn tổ chức, thi hành những biện pháp có hiệu
lực nhằm ngăn chặn và loại trừ tệ tham nhũng, hối lộ, cửa quyền, nghiêm trị
những phần tử biến chất, lợi dụng danh nghĩa Đảng và chính quyền để đục
khoét, áp bức quần chúng. Các cơ quan tòa án, kiểm sát, thanh tra, công an,…
phải dựa vào nhân dân để phát hiện và xử lý kịp thời những vụ vi phạm pháp
luật. Mỗi công dân cũng cần hiểu rõ nếu họ vi phạm pháp luật sẽ không tránh
khỏi phải chịu sự cưỡng chế của nhà nước dưới hình thức các biện pháp trách
nhiệm pháp lý.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status