1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào), Luật Ngân
sách Nhà nước Lào ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 14/4/1995 đã quy
định thu ngân sách Nhà nước (NSNN) là một hệ thống thống nhất bao gồm thu
ngân sách Trung ương (NSTW) và thu ngân sách các cấp chính quyền địa
phương.
Ngân sách tỉnh là một cấp trong ngân sách các cấp chính quyền địa
phương được Nhà nước phân cấp nguồn thu theo chức năng quyền hạn cụ thể.
Tuy nhiên trong thực tế quản lý thu ngân sách cấp tỉnh ở Lào còn nhiều bất cập.
Để thu ngân sách cấp tỉnh trở thành một cấp thu ngân sách theo đúng
nghĩa, cần phải tìm những giải pháp hữu hiệu trong công tác tăng cường quản
lý nhằm hoàn thiện việc thu ngân sách cấp tỉnh, đó là một vấn đề cấp thiết hiện
nay. Vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Tăng cường quản lý thu ngân
sách địa phương ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Ví dụ ở tỉnh Viêng
Chăn)" cho bản luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Thông qua việc nghiên cứu hoạt động của thu ngân sách cấp tỉnh trong
mối quan hệ với hệ thống thu NSNN nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp
hướng cho ngân sách tỉnh phát huy được vai trò tích cực của mình, góp phần
tăng cường công tác quản lý thu ngân sách ở Lào ngày một tốt hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
2
Nghiên cứu chung về quản lý thu ngân sách cấp tỉnh trong toàn quốc
cộng hòa dân chủ nhân dân lào (Ví dụ ở Tỉnh Viêng Chăn).
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thu ngân sách Nhà nước ở
CHDCND Lào (ví dụ ở tỉnh Viêng Chăn).
4
Chương 1
VAI TRÒ CỦA THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC
HỆ THỐNG QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH CẤP TỈNH
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thu ngân sách nhà nước
Khi Nhà nước ra đời, để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình,
Nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khóa nhằm huy động sự đóng góp của dân cư
để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Lúc đầu, Nhà nước sử
dụng nó để nuôi bộ máy nhà nước; sau đó phạm vi sử dụng được mở rộng dần
theo sự phát triển của các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ngày nay, Nhà
nước còn sử dụng NSNN để chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát
triển kinh tế. Do vậy, hệ thống thu NSNN ngày càng được hoàn thiện.
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung
một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các
nhu cầu của Nhà nước.
Nguồn tài chính được tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập
của Nhà nước được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối
của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế
nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà
nước với các chủ thể trong xã hội. Sự phân phối đó là một tất yếu khách quan,
xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước cũng như yêu
- Thu khác: như thu từ phạt, tịch thu, tịch biên lai tài sản…
Trong hệ thống thu NSNN, thu từ thuế, lệ phí, phí chiếm tỷ trọng chủ
yếu. Vì vậy để tăng thu NSNN cần có biện pháp ngăn ngừa hạn chế thất thu
thuế giữ vai trò quan trọng.
6
Để quản lý tốt nguồn thu việc phân loại các khoản thu có ý nghĩa quan
trọng qua đó có thể phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN. Có
hai cách phân loại phổ biến là:
- Phân loại theo nội dung kinh tế:
Phân loại các khoản thu NSNN theo nội dung kinh tế là cần thiết để
thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả của nền kinh tế. Theo cách
phân loại này, có thể chia các khoản thu NSNN thành hai nhóm:
+ Nhóm thu thường xuyên có tính chất bắt buộc gồm thuế, phí, lệ phí
với nhiều hình thức cụ thể do luật định.
+ Nhóm thu không thường xuyên bao gồm các khoản thu từ hoạt động
kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê
tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và các khoản thu khác đã kể ở trên.
- Phân loại theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN:
Có thể chia các khoản thu NSNN thành:
+ Thu trong cân đối NSNN: bao gồm các khoản thu thường xuyên và
thu không thường xuyên.
+ Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được
nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng
lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội, vay từ nước ngoài.
Cách phân loại này cho phép đánh giá sự lành mạnh của NSNN và có
ý nghĩa trong tổ chức điều hành NSNN.
1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước
chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Đó là nhân tố rất quan trọng
ảnh hưởng to lớn đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN.
Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước:
Nhân tố này phụ thuộc vào:
+ Quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó.
8
+ Những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng
thời kỳ.
+ Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước.
Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí Nhà nước không có
khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ dẫn đến tỷ suất
thu NSNN tăng lên.
Ở hầu hết các nước đang phát triển, Nhà nước đều có tham vọng đẩy
nhanh sự tăng trưởng kinh tế bằng việc đầu tư vào các công trình lớn. Để có
nguồn vốn đầu tư phải tăng thu. Nhưng trong thực tế tăng thu quá mức lại làm
cho tốc độ tăng trưởng chậm lại. Để giải quyết vấn đề nan giải đó, Nhà nước
phải có một chương trình phát triển kinh tế, xã hội thận trọng trên cơ sở khoa
học và thực tiễn để đạt hiệu quả cao, từ đó xác lập một chính sách chi có hiệu
quả và tiết kiệm. Có như vậy mới giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa thu và
chi của NSNN.
Tổ chức bộ máy thu nộp.
Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất
thu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn
đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NSNN.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, để xác định mức thu NSNN
đúng đắn cần phải có sự phân tích, đánh giá cụ thể các nhân tố tác động
đến nó trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng
1.2.2. Các khoản thu phân định giữa các cấp ngân sách
Đối với các khoản thu này, hiện nay trên thế giới phổ biến có 2 mô hình:
10
Mô hình 1: Các khoản thu được tập trung vào NSNN thông qua Kho
bạc Nhà nước (KBNN), sau đó phân chia cho các cấp theo những tỷ lệ phần
trăm nhất định, được gọi là thu điều tiết. Các nước theo mô hình này là Trung
Quốc, Việt Nam…
Luật Ngân sách hiện hành của Việt Nam quy định các khoản thu điều
tiết giữa NSTW và ngân sách cấp tỉnh là:
- Thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng hàng nhập
khẩu).
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp
các đơn vị hạch toán toàn ngành).
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Tỷ lệ điều tiết ở đây, theo Luật NSNN do Trung ương quy định cụ thể
cho từng tỉnh và được ổn định từ 3 – 5 năm.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh,
ngân sách cấp huyện, ngân sách xã phường, thị trấn:
- Thuế chuyển quyền áp dụng đất.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước của một số mặt hàng
phân chia cho địa phương.
Tỷ lệ điều tiết cho mỗi cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa
phương, theo Luật NSNN hiện hành do tỉnh quy định. Riêng tỷ lệ điều tiết
thuế sử dụng đất nông nghiệp để lại cho xã, phường, thị trấn tối thiểu là 20%.
Mô hình 2: Mỗi khoản thu phát sinh thì NSTW thu một phần và NSĐP
thu một phần. Phổ biến nhất là các khoản thuế giá trị gia tăng (GTGT), Thu nhập
thể chủ động quy định tỷ lệ điều tiết khác nhau cho các địa phương.
12
Ở mô hình thứ hai có ưu điểm là địa phương có thể chủ động quy định
một thuế suất trong khung phù hợp với địa phương mình. Cùng xuất phát từ
điều đó làm cho mỗi địa phương có thể có một tỷ lệ thuế khác nhau, dẫn đến
mỗi vùng miền, địa phương có nghĩa vụ nộp thuế khác nhau và giá cả hàng
hóa cũng khác nhau. Đây chính là điểm linh hoạt trong chính sách thuế, thuế
có thể trở thành công cụ điều tiết phân bổ dân cư, kinh tế. Cụ thể là để giảm
bớt thuế thu nhập cá nhân, người dân có thể chuyển đến sinh sống ở địa
phương có biểu thuế địa phương thấp. Tương tự như vậy, các cá nhân và tổ
chức muốn giảm thuế thu nhập, thuế GTGT để nhằm mục đích tăng lợi nhuận
có thể tổ chức kinh doanh hoặc di chuyển địa điểm kinh doanh và vốn tới địa
phương có biểu thuế địa phương thấp…
Các mô hình thuế nêu trên có thể được lựa chọn áp dụng ở các quốc
gia khác nhau phụ thuộc vào phân cấp kinh tế xã hội và hành chính của từng
quốc gia, các yếu tố chính trị và đặc điểm của hệ thống thuế.
Với mô hình thứ nhất thì đòi hỏi sự chia xẻ trách nhiệm của cả các cấp
chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Bởi vì nguồn thu được điều tiết
cho các cấp, nên việc tổ chức bộ máy thu thống nhất do Trung ương quản lý để
phối hợp với chính quyền địa phương trong công tác thu sẽ phát huy được hiệu
quả.
Với mô hình thứ hai cho phép địa phương tự quyết định mức trong
khung thuế địa phương, tạo động lực cho địa phương tự tìm kiếm nguồn thu
đáp ứng nhu cầu chi tăng thêm ở địa phương thích hợp với cách tổ chức bộ
máy thu riêng cho từng cấp.
1.2.3. Các khoản thu bổ sung từ ngân sách Trung ương
Ngoài các khoản thu cố định và điều tiết, một khoản thu rất quan trọng
thu và nhiệm vụ chi của NSTW có phần muốn tạo ra sự mất cân đối của
NSĐP (thu không đủ chi) nhằm kiểm soát và chi phối các hoạt động của địa
14
phương. Điều đó giải thích tại sao ngay cả các địa phương có thể tự cân đối
được thu chi cũng được phân cấp sao cho Trung ương vẫn phải bổ sung một
số chương trình mục tiêu. Ví dụ: ở Trung Quốc, số bổ sung từ NSTW cho địa
phương thường chiếm 20% tổng số thu; ở Nhật Bản, việc trợ cấp từ Trung
ương cho các tỉnh cũng nhằm hỗ trợ các dự án cụ thể…
1.2.4. Mối quan hệ giữa ngân sách cấp tỉnh với các cấp ngân sách khác
Trước hết, cần phải khẳng định ngân sách tỉnh là một cấp ngân sách
trong hệ thống NSNN thống nhất, nên nó có mối quan hệ hữu cơ với các cấp
ngân sách khác.
1.2.4.1. Mối quan hệ giữa ngân sách tỉnh với ngân sách trung
ương
Chế độ thu ngân sách được quy định thống nhất trong toàn quốc, mọi
nguồn thu đều được tập trung vào NSNN sau đó điều tiết theo tỷ lệ quy định
cho từng tỉnh.
Sau khi dự toán thu ngân sách tỉnh được xây dựng và giao chính thức,
Trung ương sẽ căn cứ vào đó để xác định số bổ sung ngân sách tỉnh hàng năm
và từng quý chuyển đến cho NSĐP.
Ngoài những nội dung trên, Trung ương còn cấp cho địa phương kinh
phí để thực hiện các chương trình mục tiêu. Phần này nằm ngoài cân đối
NSĐP và tùy thuộc vào nội dung chương trình mục tiêu ở từng năm.
Như vậy có thể nói NSĐP phụ thuộc chặt chẽ vào Trung ương từ khâu
hoạch định chính sách, chế độ thu chi, đến khâu xây dựng dự toán và cuối
cùng nhưng cũng trực tiếp nhất là thông qua số hỗ trợ bổ sung.
1.2.4.2. Mối quan hệ giữa ngân sách tỉnh với ngân sách huyện
chuyển dịch tài sản… mang lại.
Thuế mang sẵn trong nó các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thuế là hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc luật
định. Đóng thuế là nghĩa vụ bắt buộc không được từ chối. Phân phối các khoản
thu nhập qua thuế gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước. Nhà nước dựa
16
vào quyền lực to lớn của mình để ấn định các thứ thuế, bắt buộc người nộp thuế
phải thực hiện để Nhà nước có nguồn thu ổn định, thường xuyên, đảm bảo
trang trải các nhu cầu trên của Nhà nước.
1.3.2. Hệ thống thuế ở Việt Nam và phân loại thuế
Hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế mà Nhà nước sử dụng, nó tạo
lập nguồn thu cho NSNN và thực hiện những mục tiêu nhất định trong quản
lý kinh tế – xã hội.
Thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ kinh tế hoạch hóa tập
trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XNCH, hệ thống thuế ở Việt Nam đã được cải cách căn bản bằng việc ban
hành luật, pháp lệnh thuế áp dụng chung cho mọi thành viên trong cả nước.
Đến nay hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam bao gồm:
- Thuế giá trị gia tăng
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế nhà đất
- Thuế tài nguyên
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
- Thuế môn bài.
Ngoài ra còn có một số loại thu khác có tính chất thuế như lệ phí trước
thuế suất tỷ lệ cao thấp khác nhau nhằm khuyến khích hay hạn chế chúng.
- Phân loại theo đối tượng đánh thuế.
Dựa vào đối tượng đánh thuế, nghĩa là thuế đánh trên cái gì, thuế được
chia thành:
+ Thuế thu nhập như thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp…
18
+ Thuế tài sản như thuế sử dụng tài sản Nhà nước (thuế sử dụng đất
nông nghiệp, thuế tài nguyên…), thuế chuyển nhượng tài sản (thuế chuyển
giao quyền sử dụng đất, thuế mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ…).
+ Thuế tiêu dùng đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường
trong nước và xuất nhập khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…
Cách phân loại này giúp cho việc tìm các giải pháp để quản lý, khai
thác, bồi dưỡng từng nguồn thuế, đồng thời còn giúp cho việc xem xét thuế
với việc đảm bảo quản lý được các hoạt động khác nhau, các nguồn thu nhập
khác nhau để có thể mở rộng và phát triển hệ thống thuế.
1.3.3 Tổ chức bộ máy thu thuế
Tổ chức bộ máy thu thuế. là một trong những nội dung công tác quản
lý thu NSNN có vị trí cực kỳ quan trọng, là điều kiện tiên quyết để đưa các
luật thu thuế. vào đời sống kinh tế xã hội một cách có hiệu quả.
Việc tổ chức bộ máy thu thuế. sao cho gọn nhẹ lại đạt hiệu suất công
tác cao trong bối cảnh phải triển khai một hệ thống thu thuế. đa dạng liên
quan đến nhiều đối tượng trong xã hội là cả một vấn đề hàm chứa nhiều nội
dung phức tạp. Nội dung tổ chức bộ máy thu thuế bao gồm:
* Lựa chọn mô hình bộ máy
Trên phương diện lý thuyết mô hình bộ máy thu thuế phải đạt được
hai tiêu chuẩn quan trọng.
Bộ Trưởng thu
Tổng cục thuế
Hội đồng
Bộ trưởng
Bộ trưởng
chi
Tổng cục
Hải quan
Thu ngân
sách
sách
Sơ đồ
1.1: Mô hình ngành thuế trực thuộcChi
Bộngân
Tài chính
Chính
sách
thuế
Ngành thuế
và Hải quan
XD
NSNN
Kiểm soát
Ngoài ra trong việc lựa chọn mô hình tổ chức ngành thuế cũng cần
xem xét đến mối quan hệ khác như: Mối quan hệ giữa ngành thuế với Hải
quan, quan hệ chỉ đạo ngay trong ngành thuế.
Về mối quan hệ ngành thuế và chính quyền địa phương.
Trước thời kỳ cải cách, hầu hết tại các nước, cơ quan thuế là một bộ
phận trong bộ máy chính quyền các cấp, chịu sự quản lý và điều hành chung
của chính quyền địa phương. Theo mô hình này ngành thuế sẽ được sự chỉ
đạo trực tiếp của chính quyền các cấp, việc triển khai thực hiện chính sách
thuế và thực hiện tính nghiêm minh của luật được tiến hành thuận lợi hơn.
Tuy nhiên do trực thuộc chính quyền địa phương nên viện triển khai thực hiện
đồng bộ chính sách thuế trên toàn quốc sẽ gặp khó khăn hơn, thiếu sự chỉ đạo
thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Việc chỉ đạo thu của địa phương nhiều
khi mang tính cục bộ địa phương, mang nặng tính địa phương chủ nghĩa do
vậy nó sẽ thiếu tính thống nhất linh hoạt khi cần thiết nhằm điều chỉnh vĩ mô
nền kinh tế thông qua hệ thống chính sách thuế. Chính vì vậy khi tiến hành
cải cách đối với đa số quốc gia, việc đầu tiên là tổ chức thống nhất ngành thuế
thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương nhằm tập trung nguồn thu
vào NSNN. Tuy nhiên, trong quá trình thống nhất tổ chức theo ngành dọc từ
Trung ương đến cơ sở, do tính chất phức tạp của công tác hành thu và thực
chi luật thuế cần thiết có sự phối hợp của chính quyền địa phương, do đó
chính quyền địa phương vẫn có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệu quả
công tác thuế và tổ chức chỉ đạo cơ quan thuế địa phương.
22
Việc tập trung tổ chức từ Trung ương đến cơ sở theo ngành dọc độc lập
với chính quyền địa phương là cần thiết nhằm tập trung quyền lực điều tiết kinh
tế vĩ mô vào trong tay chính quyền Trung ương. Tuy nhiên, mức độ độc lập đến
đâu còn tùy thuộc vào mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia.
một số nước chỉ định trong khối sang thực hiện đa phương hóa quan hệ ngoại
thương theo nguyên tắc hoạt động của cơ chế thị trường. Chính vì vậy, các
chính sách quản lý ngoại thương thông qua hạn ngạch phi thuế quan được
chuyển sang quản lý xuất nhập khẩu thông qua chính sách điều tiết bằng thuế
quan (thuế xuất nhập khẩu).
Với chức năng quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu ngành Hải quan lúc
này đảm nhận thêm chức năng thu thuế xuất nhập khẩu, số thu về thuế xuất
nhập khẩu của các nước này thường chiếm khoảng 25 – 30% tổng số thu ngân
sách quốc gia. Ngoài chức năng trên Hải quan còn với tư cách là hàng rào
biên giới về kinh tế, nó còn nhiều chức năng khác như chống buôn lậu, bảo vệ
hàng hóa trong nước, bảo vệ và quản lý tài sản quý hiếm của quốc gia… Lúc
này Hải quan trở thành một ngành quan trọng, có quyền lực rất lớn.
Trong thời đại ngày nay, trong xu hướng tự do hóa thương mại thế
giới, mở cửa quan hệ với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới. Các
nước dần dần buộc phải cắt giảm hàng rào thuế quan. Thu về thuế XNK do
ngành Hải quan đảm nhiệm ngày càng suy giảm và mất dần vai trò trong cơ
cấu thu ngân sách. Tuy nhiên, do chức năng cụ thể của hai ngành có khác
nhau, quy trình quản lý Hải quan và quy trình quản lý thuế cũng có sự khác
nhau, do vậy việc thống nhất giữa hai ngành là một tất yếu khách quan.
Về quan hệ trong nội bộ ngành thuế.
Trong quá trình thống nhất tổ chức ngành thuế, vai trò quyền lực và
vấn đề tổ chức cơ quan Thuế Trung ương là một vấn đề vô cùng quan trọng.
Mục đích tối ưu là nhằm tập trung quyền lực thống nhất trong công tác quản
24
lý thuế theo pháp luật. Trên thế giới hiện nay có hai mô hình tổ chức ở hai
mức độ khác nhau sau:
Hình thức thứ nhất là, hình thức tổ chức cơ quan thuế Trung ương
Thứ hai: Ngành thuế thường tổ chức gắn với các cấp chính quyền
hành chính địa phương theo địa giới hành chính theo 3 cấp: Trung ương, tỉnh,
thành phố, quận, huyện.
Thứ ba: Ngành thuế ngoài chức năng quản lý thuế còn phải giữ các
chức năng phụ khác như: quản lý chặt chẽ hệ thống đối tượng nộp thuế, kiểm
soát hoạt động nền kinh tế quốc dân theo các chính sách vĩ mô, việc quản lý
theo đối tượng nộp thuế mà trực tiếp là cán bộ thuế chuyên quản đơn vị chịu
trách nhiệm từ việc kê khai, nộp thuế, thanh quyết toán tiền thuế đã tạo điều
kiện cho cán bộ thuế tiếp xúc quá sâu với đơn vị, có quá nhiều quyền tự
quyết, tùy tiện trong việc tính thuế, thu thuế và xử lý các vấn đề liên quan đến
lĩnh vực thuế. Chính việc tổ chức theo mô hình như vậy là cơ sở để phát sinh
những tiêu cực trong lĩnh vực thuế, thiếu sự chỉ đạo thống nhất theo nguyên
tắc nhất định, thiếu sự giám sát, kiểm tra kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận
trong cơ quan thuế. Hơn nữa việc tổ chức theo địa bàn hành chính dẫn đến sự
can thiệp trực tiếp của chính quyền địa phương vào công việc chuyên môn
của ngành thuế theo lợi ích của cục bộ các địa phương.
Theo xu hướng cải cách hiện đại ngành thuế, quy trình quản lý thuế
phải thay đổi cho phù hợp với điều kiện kinh tế hiện đại, phù hợp với việc
hiện đại hóa tối ưu ngành thuế đòi hỏi ngành thuế phải xây dựng một mô hình
mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn. Trên thực tế hiện nay các nước tiên tiến đang
áp dụng mô hình tổ chức ngành thuế, theo mô hình chức năng…
- Mô hình quản lý theo chức năng cho phép chuyên môn hóa sâu cán
bộ thuế, tăng cường hiệu suất quản lý, cho phép cán bộ phát triển theo chuyên
môn của người đó thực hiện.