Header Page 1 of 161.
LUẬN VĂN:
Tăng cường quản lý thu ngân sách
địa phương ở Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào
Footer Page 1 of 161.
Header Page 2 of 161.
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào), Luật Ngân sách Nhà
nước Lào ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 14/4/1995 đã quy định thu ngân sách Nhà
nước (NSNN) là một hệ thống thống nhất bao gồm thu ngân sách Trung ương (NSTW) và thu
ngân sách các cấp chính quyền địa phương.
Ngân sách tỉnh là một cấp trong ngân sách các cấp chính quyền địa phương được Nhà
nước phân cấp nguồn thu theo chức năng quyền hạn cụ thể. Tuy nhiên trong thực tế quản lý
thu ngân sách cấp tỉnh ở Lào còn nhiều bất cập.
Để thu ngân sách cấp tỉnh trở thành một cấp thu ngân sách theo đúng nghĩa, cần
phải tìm những giải pháp hữu hiệu trong công tác tăng cường quản lý nhằm hoàn thiện việc
thu ngân sách cấp tỉnh, đó là một vấn đề cấp thiết hiện nay. Vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên
cứu đề tài: " Tăng cường quản lý thu ngân sách địa phương ở Cộng hũa dõn chủ nhõn
dõn Lào (Ví dụ ở tỉnh Viêng Chăn)" cho bản luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Thông qua việc nghiên cứu hoạt động của thu ngân sách cấp tỉnh trong mối quan hệ
với hệ thống thu NSNN nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp hướng cho ngân sách tỉnh phát
huy được vai trò tích cực của mình, góp phần tăng cường công tác quản lý thu ngân sách ở
Lào ngày một tốt hơn.
Chương 1: Vai trò của thu NSNN và tổ chức hệ thống quản lý thu ngân sách cấp
tỉnh.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu ngân sách Nhà nước ở cộng hòa dân
chủ nhân dân lào (Ví dụ ở Tỉnh Viêng Chăn).
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thu ngân sách Nhà nước ở CHDCND
Lào (ví dụ ở tỉnh Viêng Chăn).
Footer Page 3 of 161.
Header Page 4 of 161.
Chương 1
Vai trò của thu ngân sách nhà nước và tổ chức
hệ thống quản lý thu ngân sách cấp tỉnh
1.1. Những vấn đề chung về thu ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thu ngân sách nhà nước
Khi Nhà nước ra đời, để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình, Nhà nước đã
đặt ra chế độ thuế khóa nhằm huy động sự đóng góp của dân cư để hình thành nên quỹ tiền
tệ tập trung của Nhà nước. Lúc đầu, Nhà nước sử dụng nó để nuôi bộ máy nhà nước; sau
đó phạm vi sử dụng được mở rộng dần theo sự phát triển của các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước. Ngày nay, Nhà nước còn sử dụng NSNN để chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã
hội và phát triển kinh tế. Do vậy, hệ thống thu NSNN ngày càng được hoàn thiện.
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần
nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà
nước.
Nguồn tài chính được tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập của Nhà nước
được hình thành trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình
thức giá trị. Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối
các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội. Sự phân phối đó
Trong hệ thống thu NSNN, thu từ thuế, lệ phí, phí chiếm tỷ trọng chủ yếu. Vì vậy
để tăng thu NSNN cần có biện pháp ngăn ngừa hạn chế thất thu thuế giữ vai trò quan
trọng.
Để quản lý tốt nguồn thu việc phân loại các khoản thu có ý nghĩa quan trọng qua
đó có thể phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN. Có hai cách phân loại phổ
biến là:
- Phân loại theo nội dung kinh tế:
Footer Page 5 of 161.
Header Page 6 of 161.
Phân loại các khoản thu NSNN theo nội dung kinh tế là cần thiết để thấy rõ sự
phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả của nền kinh tế. Theo cách phân loại này, có thể
chia các khoản thu NSNN thành hai nhóm:
+ Nhóm thu thường xuyên có tính chất bắt buộc gồm thuế, phí, lệ phí với nhiều
hình thức cụ thể do luật định.
+ Nhóm thu không thường xuyên bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế của
Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà
nước và các khoản thu khác đã kể ở trên.
- Phân loại theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN:
Có thể chia các khoản thu NSNN thành:
+ Thu trong cân đối NSNN: bao gồm các khoản thu thường xuyên và thu không
thường xuyên.
+ Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi
tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức
kinh tế - xã hội, vay từ nước ngoài.
Cách phân loại này cho phép đánh giá sự lành mạnh của NSNN và có ý nghĩa
trong tổ chức điều hành NSNN.
1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước
Nhân tố này phụ thuộc vào:
+ Quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó.
+ Những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ.
+ Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước.
Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí Nhà nước không có khả năng
tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ dẫn đến tỷ suất thu NSNN tăng lên.
ở hầu hết các nước đang phát triển, Nhà nước đều có tham vọng đẩy nhanh sự tăng
trưởng kinh tế bằng việc đầu tư vào các công trình lớn. Để có nguồn vốn đầu tư phải tăng thu.
Nhưng trong thực tế tăng thu quá mức lại làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại. Để giải quyết
vấn đề nan giải đó, Nhà nước phải có một chương trình phát triển kinh tế, xã hội thận trọng
trên cơ sở khoa học và thực tiễn để đạt hiệu quả cao, từ đó xác lập một chính sách chi có hiệu
Footer Page 7 of 161.
Header Page 8 of 161.
quả và tiết kiệm. Có như vậy mới giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa thu và chi của
NSNN.
Tổ chức bộ máy thu nộp.
Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn,
lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn đáp ứng nhu cầu chi
tiêu của NSNN.
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, để xác định mức thu NSNN đúng đắn cần
phải có sự phân tích, đánh giá cụ thể các nhân tố tác động đến nó trong những điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ. Tỷ suất thu NSNN được xem
là hạt nhân cơ bản của chính sách thu nên cần phải được nghiên cứu, xem xét trên
nhiều khía cạnh kinh tế, chính trị, xã hội.
1.2 Tổ chức quản lý thu ngân sách cấp tỉnh
Căn cứ chức năng quyền hạn của chính quyền địa phương, Nhà nước phân cấp cho
địa phương được hưởng các nguồn thu tương ứng theo phương pháp phân định như sau:
- Thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu).
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp các đơn vị
hạch toán toàn ngành).
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Tỷ lệ điều tiết ở đây, theo Luật NSNN do Trung ương quy định cụ thể cho từng
tỉnh và được ổn định từ 3 – 5 năm.
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách
cấp huyện, ngân sách xã phường, thị trấn:
- Thuế chuyển quyền áp dụng đất.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước của một số mặt hàng phân chia
cho địa phương.
Footer Page 9 of 161.
Header Page 10 of 161.
Tỷ lệ điều tiết cho mỗi cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, theo
Luật NSNN hiện hành do tỉnh quy định. Riêng tỷ lệ điều tiết thuế sử dụng đất nông nghiệp
để lại cho xã, phường, thị trấn tối thiểu là 20%.
Mô hình 2: Mỗi khoản thu phát sinh thì NSTW thu một phần và NSĐP thu một
phần. Phổ biến nhất là các khoản thuế giá trị gia tăng (GTGT), Thu nhập doanh nghiệp
(TNDN), thu nhập cá nhân… (Thường luật Thuế do Nhà nước Trung ương ban hành và quy
định biểu thuế cho NSTW, sau đó cho phép các địa phương có biểu thuế riêng tương ứng.
Thông thường Chính phủ Trung ương quy định khung thuế suất với mức thấp nhất và mức
cao nhất). Các địa phương vận dụng trong khung đó. Biểu thuế địa phương này có 2 dạng
phổ biến:
Thứ nhất, là biểu thuế địa phương lũy tiến theo mức cố lũy tiến của biểu thuế
Trung ương.
Thứ hai, là biểu thuế địa phương chỉ áp dụng một mức cố định cho mọi thu nhập
giảm thuế thu nhập, thuế GTGT để nhằm mục đích tăng lợi nhuận có thể tổ chức kinh
doanh hoặc di chuyển địa điểm kinh doanh và vốn tới địa phương có biểu thuế địa phương
thấp…
Các mô hình thuế nêu trên có thể được lựa chọn áp dụng ở các quốc gia khác nhau
phụ thuộc vào phân cấp kinh tế xã hội và hành chính của từng quốc gia, các yếu tố chính
trị và đặc điểm của hệ thống thuế.
Với mô hình thứ nhất thì đòi hỏi sự chia xẻ trách nhiệm của cả các cấp chính quyền
từ Trung ương đến địa phương. Bởi vì nguồn thu được điều tiết cho các cấp, nên việc tổ
chức bộ máy thu thống nhất do Trung ương quản lý để phối hợp với chính quyền địa phương
trong công tác thu sẽ phát huy được hiệu quả.
Với mô hình thứ hai cho phép địa phương tự quyết định mức trong khung thuế địa
phương, tạo động lực cho địa phương tự tìm kiếm nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tăng
thêm ở địa phương thích hợp với cách tổ chức bộ máy thu riêng cho từng cấp.
1.2.3. Các khoản thu bổ sung từ ngân sách Trung ương
Ngoài các khoản thu cố định và điều tiết, một khoản thu rất quan trọng đối với
ngân sách tỉnh là thu bổ sung từ ngân sách cấp trên. Đây là một biện pháp điều hòa ngân
sách nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa, đồng đều của tất cả các vùng, miền.
Căn nguyên thứ nhất của biện pháp này xuất phát từ sự tách rời giữa nơi sáng tạo
GDP và nơi thực hiện GDP. Chúng ta đều biết rằng nguồn thu từ thuế do GDP tạo ra ở một
Footer Page 11 of 161.
Header Page 12 of 161.
địa phương nào đó, nhưng bằng biện pháp bổ sung NSĐP có thể thụ hưởng từ một địa
phương khác. Ví dụ: Một doanh nghiệp thu mua hàng nông sản xuất khẩu đăng ký hoạt
động ở địa phương A. Khi thu mua hàng thì doanh nghiệp phải nộp thuế GTGT với thuế
suất 2% mặc dù nơi sản xuất ra hàng nông sản đó có thể là ở một địa phương B.
Như vậy, điều bất hợp lý có thể xảy ra, đó là nơi sáng tạo ra nhiều GDP lại có thể
có nguồn thu nhỏ, trong khi nơi không tạo ra nhiều GDP nhưng vẫn có nguồn thu lớn.
Trước hết, cần phải khẳng định ngân sách tỉnh là một cấp ngân sách trong hệ
thống NSNN thống nhất, nên nó có mối quan hệ hữu cơ với các cấp ngân sách khác.
1.2.4.1. Mối quan hệ giữa ngân sách tỉnh với ngân sách trung ương
Footer Page 12 of 161.
Header Page 13 of 161.
Chế độ thu ngân sách được quy định thống nhất trong toàn quốc, mọi nguồn thu
đều được tập trung vào NSNN sau đó điều tiết theo tỷ lệ quy định cho từng tỉnh.
Sau khi dự toán thu ngân sách tỉnh được xây dựng và giao chính thức, Trung ương
sẽ căn cứ vào đó để xác định số bổ sung ngân sách tỉnh hàng năm và từng quý chuyển đến
cho NSĐP.
Ngoài những nội dung trên, Trung ương còn cấp cho địa phương kinh phí để thực
hiện các chương trình mục tiêu. Phần này nằm ngoài cân đối NSĐP và tùy thuộc vào nội
dung chương trình mục tiêu ở từng năm.
Như vậy có thể nói NSĐP phụ thuộc chặt chẽ vào Trung ương từ khâu hoạch định
chính sách, chế độ thu chi, đến khâu xây dựng dự toán và cuối cùng nhưng cũng trực tiếp
nhất là thông qua số hỗ trợ bổ sung.
1.2.4.2. Mối quan hệ giữa ngân sách tỉnh với ngân sách huyện
Tương tự như vậy, ngân sách tỉnh quan hệ với ngân sách huyện cũng như quan hệ
giữa Trung ương với tỉnh. Tỉnh giao dự toán thu ngân sách huyện trên cơ sở chính sách
chế độ chi tiêu của Trung ương có tính đến đặc thù của từng huyện và xác định số bổ sung
cho huyện, thông qua đó nắm được tình hình thực hiện nhiệm vụ thu Trung ương của từng
huyện.
Tóm lại, mối quan hệ giữa thu ngân sách tỉnh với thu các cấp ngân sách khác là
quan hệ giữa các cấp ngân sách, thông qua trực tiếp nhất là số bổ sung để điều hòa thu
ngân sách, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các vùng, miền và tăng cường quản lý của
cấp trên đối với cấp dưới.
1.3. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
Nam đã được cải cách căn bản bằng việc ban hành luật, pháp lệnh thuế áp dụng chung cho
mọi thành viên trong cả nước.
Đến nay hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam bao gồm:
- Thuế giá trị gia tăng
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế nhà đất
Footer Page 14 of 161.
Header Page 15 of 161.
- Thuế tài nguyên
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
- Thuế môn bài.
Ngoài ra còn có một số loại thu khác có tính chất thuế như lệ phí trước bạ, lệ phí
chứng thư, lệ phí hải quan, phí giao thông, cầu phí cầu phà, phí đường, phí bay qua bầu
trời…
Bất cứ hệ thống thuế của quốc gia nào cũng đều được phân loại để quản lý. Có
nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng thông thường có các cách phân loại phổ biến sau:
- Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế:
Chuyển giao thuế là việc xác định ai là người nộp thuế, ai là người thực sự phải
gánh chịu thuế. Theo tiêu thức này thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế
gián thu.
+ Thuế trực thu: là các thứ thuế trực tiếp huy động một phần thu nhập của người làm
nghĩa vụ. Đặc điểm cơ bản của thuế trực thu là người nộp thuế và người chịu thuế là một. Nó
đánh trực tiếp vào người nộp thuế, tức là người có thu nhập chịu thuế làm giảm phần thu nhập
của họ. ở đây không có hiện tượng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác chịu. ở nước
ta, đó là các thứ thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng
Tổ chức bộ máy thu thuế. là một trong những nội dung công tác quản lý thu
NSNN có vị trí cực kỳ quan trọng, là điều kiện tiên quyết để đưa các luật thu thuế. vào đời
sống kinh tế xã hội một cách có hiệu quả.
Việc tổ chức bộ máy thu thuế. sao cho gọn nhẹ lại đạt hiệu suất công tác cao trong
bối cảnh phải triển khai một hệ thống thu thuế. đa dạng liên quan đến nhiều đối tượng
trong xã hội là cả một vấn đề hàm chứa nhiều nội dung phức tạp. Nội dung tổ chức bộ máy
thu thuế bao gồm:
* Lựa chọn mô hình bộ máy
Trên phương diện lý thuyết mô hình bộ máy thu thuế phải đạt được hai tiêu chuẩn
quan trọng.
- Gọn nhẹ, tiết kiệm.
- Có khả năng thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các luật về thu thuế.
Footer Page 16 of 161.
Header Page 17 of 161.
Trong việc lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy thu thuế. Cần phải xem xét mô hình
đó trong mối quan hệ với các cơ quan chức năng khác trong bộ máy công quyền.
Về vấn đề này, trên thế giới thường có hai mô hình:
- Mô hình thu thuế trực thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Tài chính bao
gồm quản lý cả thu và chi.
Mô hình này có ưu điểm là với chức năng quản lý và chịu trách nhiệm toàn bộ các
vấn đề tài chính Nhà nước của Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ tạo điều kiện cho việc điều hành
các vấn đề TCNN của Bộ trưởng thuận lợi. Công tác chỉ đạo thu thuế của Bộ trưởng sẽ sâu
sát hơn. Tuy nhiên, dù sao đi nữa đứng về mặt tâm lý người ta vẫn thấy vai trò quản lý thu
thuế còn có mặt hạn chế.
- Mô hình ngành thuế đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ thu. ở đây không có khái niệm
Bộ Tài chính, mà nhiệm vụ thu chi của NSNN được đặt dưới sự chỉ đạo của hai bộ: Bộ thu
và Bộ chi.
tế, hơn thế nữa chính sách tài khóa lại vô cùng nhạy cảm do vậy Bộ Tài chính phải là cơ
quan điều hành toàn bộ các nguồn thu tài chính trong đó có thuế. Do đó mô hình 1 là phù
hợp với nền kinh tế của Lào hiện nay.
Tuy nhiên, mặc dù ngành thuế trực thuộc Bộ Tài chính song các nước nói chung
và Lào nói riêng ngành thuế vẫn có tính độc lập tương đối. Nó thể hiện ở chỗ về vấn đề tổ
chức ngành thuế hiện hành hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương trực tiếp
tiến hành mọi công việc liên quan trong lĩnh vực thuế. Tổng cục trưởng Tổng cục thuế
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính về cơ chế hành thu, tổ chức về
số thu và các vấn đề khác có liên quan. Về vấn đề ngân sách ngành thuế được phép xây
dựng quỹ ngân sách ngành riêng theo quy định. Quỹ này được hình thành từ nguồn chi
thường xuyên do NSNN cấp cùng với nguồn trích thưởng trên tổng số thu, tổng số truy thu
hay các nguồn hỗ trợ từ các địa phương. Các nguồn khác đó là nguồn để đầu tư trang bị,
hiện đại hóa ngành thuế.
Footer Page 18 of 161.
Header Page 19 of 161.
Ngoài ra trong việc lựa chọn mô hình tổ chức ngành thuế cũng cần xem xét đến
mối quan hệ khác như: Mối quan hệ giữa ngành thuế với Hải quan, quan hệ chỉ đạo ngay
trong ngành thuế.
Về mối quan hệ ngành thuế và chính quyền địa phương.
Trước thời kỳ cải cách, hầu hết tại các nước, cơ quan thuế là một bộ phận trong bộ
máy chính quyền các cấp, chịu sự quản lý và điều hành chung của chính quyền địa
phương. Theo mô hình này ngành thuế sẽ được sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền các
cấp, việc triển khai thực hiện chính sách thuế và thực hiện tính nghiêm minh của luật được
tiến hành thuận lợi hơn. Tuy nhiên do trực thuộc chính quyền địa phương nên viện triển
khai thực hiện đồng bộ chính sách thuế trên toàn quốc sẽ gặp khó khăn hơn, thiếu sự chỉ
đạo thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Việc chỉ đạo thu của địa phương nhiều khi mang
tính cục bộ địa phương, mang nặng tính địa phương chủ nghĩa do vậy nó sẽ thiếu tính
Về mối quan hệ giữa ngành thuế và Hải quan đối với các nước có mô hình nền
kinh tế kế hoạch tập trung, ngành thuế và Hải quan luôn là hai tổ chức riêng biệt độc lập.
Mô hình này xuất phát từ cơ chế quản lý của các nước này. Do nền kinh tế vận hành theo
kế hoạch đã định, do đó Hải quan chủ yếu đảm nhiệm vai trò kiểm soát hoạt động ngoại
thương (xuất nhập khẩu) hơn thế nữa quan hệ ngoại thương lại chủ yếu tập trung vào một
số nước nhất định (chỉ định sẵn) có quan hệ ngoại giao. Do vậy, hoạt động ngoại thương
mang tính chất hạn hẹp, đơn thuần. Hoạt động kiểm soát, quản lý ngoại thương của Hải
quan chủ yếu thông qua các chính sách ngoại thương phi thuế quan như hạn ngạch trao đổi
hàng hóa và các quy định phi thuế quan khác.
Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển, các nước đang chuyển dần từ cơ chế quản lý
chỉ huy, mệnh lệnh, kế hoạch cứng nhắc sang một nền kinh tế được điều tiết bằng các
chính sách kinh tế vĩ mô. Từ chỗ quan hệ hạn hẹp với một số nước chỉ định trong khối
sang thực hiện đa phương hóa quan hệ ngoại thương theo nguyên tắc hoạt động của cơ chế
thị trường. Chính vì vậy, các chính sách quản lý ngoại thương thông qua hạn ngạch phi
thuế quan được chuyển sang quản lý xuất nhập khẩu thông qua chính sách điều tiết bằng
thuế quan (thuế xuất nhập khẩu).
Với chức năng quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu ngành Hải quan lúc này đảm
nhận thêm chức năng thu thuế xuất nhập khẩu, số thu về thuế xuất nhập khẩu của các nước
này thường chiếm khoảng 25 – 30% tổng số thu ngân sách quốc gia. Ngoài chức năng trên
Hải quan còn với tư cách là hàng rào biên giới về kinh tế, nó còn nhiều chức năng khác
Footer Page 20 of 161.
Header Page 21 of 161.
như chống buôn lậu, bảo vệ hàng hóa trong nước, bảo vệ và quản lý tài sản quý hiếm của
quốc gia… Lúc này Hải quan trở thành một ngành quan trọng, có quyền lực rất lớn.
Trong thời đại ngày nay, trong xu hướng tự do hóa thương mại thế giới, mở cửa
quan hệ với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới. Các nước dần dần buộc phải cắt
giảm hàng rào thuế quan. Thu về thuế XNK do ngành Hải quan đảm nhiệm ngày càng suy
chính thuế, qua việc xây dựng bộ máy ngành thuế phù hợp đảm bảo việc tổ chức quản lý
thuế một cách chặt chẽ, có hiệu quả nhất, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thị
trường, hòa nhập với tiến trình hiện đại hóa toàn xã hội. Mô hình tổ chức bộ máy phù hợp
sẽ cho phép áp dụng một cách tốt nhất các trang thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại hóa
ngành thuế.
Một số nước đang phát triển như các nước: Đông Âu, Việt Nam, Lào ngành thuế
có một số đặc điểm nổi bật về vấn đề tổ chức như sau:
Thứ nhất: Ngành thuế thường được tổ chức theo loại hình đối tượng nộp thuế hay
theo sắc thuế.
Thứ hai: Ngành thuế thường tổ chức gắn với các cấp chính quyền hành chính địa
phương theo địa giới hành chính theo 3 cấp: Trung ương, tỉnh, thành phố, quận, huyện.
Thứ ba: Ngành thuế ngoài chức năng quản lý thuế còn phải giữ các chức năng phụ
khác như: quản lý chặt chẽ hệ thống đối tượng nộp thuế, kiểm soát hoạt động nền kinh tế
quốc dân theo các chính sách vĩ mô, việc quản lý theo đối tượng nộp thuế mà trực tiếp là
cán bộ thuế chuyên quản đơn vị chịu trách nhiệm từ việc kê khai, nộp thuế, thanh quyết
toán tiền thuế đã tạo điều kiện cho cán bộ thuế tiếp xúc quá sâu với đơn vị, có quá nhiều
quyền tự quyết, tùy tiện trong việc tính thuế, thu thuế và xử lý các vấn đề liên quan đến
lĩnh vực thuế. Chính việc tổ chức theo mô hình như vậy là cơ sở để phát sinh những tiêu
cực trong lĩnh vực thuế, thiếu sự chỉ đạo thống nhất theo nguyên tắc nhất định, thiếu sự
giám sát, kiểm tra kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận trong cơ quan thuế. Hơn nữa việc
tổ chức theo địa bàn hành chính dẫn đến sự can thiệp trực tiếp của chính quyền địa phương
vào công việc chuyên môn của ngành thuế theo lợi ích của cục bộ các địa phương.
Theo xu hướng cải cách hiện đại ngành thuế, quy trình quản lý thuế phải thay đổi
cho phù hợp với điều kiện kinh tế hiện đại, phù hợp với việc hiện đại hóa tối ưu ngành
thuế đòi hỏi ngành thuế phải xây dựng một mô hình mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn. Trên
thực tế hiện nay các nước tiên tiến đang áp dụng mô hình tổ chức ngành thuế, theo mô
hình chức năng…
Footer Page 22 of 161.
Footer Page 23 of 161.
Các phòng trực
tiếp quản lý
thu
Thanh tra
kiểm tra
Header Page 24 of 161.
Sơ đồ 1.4: Mô hình quản lý trung gian
Ghi chú:
+ Mô hình hỗn hợp vừa quản lý theo chức năng, vừa quản lý theo đối tượng.
+ Mô hình này chỉ áp dụng với các nước trong thời kỳ quá độ của cải cách
Cơ quan thuế
Bộ phận
tiếp nhận
và xử lý
tờ khai
công văn
Bộ phận
tính thuế
và thông
báo thuế
Header Page 25 of 161.
Chương 2
thực trạng công tác quản lý thu ngân sách
địa phương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào
(Ví dụ ở Tỉnh Viêng Chăn)
2.1. Những đặc điểm cơ bản về tình hình kinh tế – xã hội chi phối công tác
quản lý thu ngân sách nhà nước của Lào trong thời gian qua
2.1.1. Đặc điểm chung
Lào là một nước tương đối rộng, nằm sâu trong bán đảo Đông Dương, ở một vị trí
địa lý không thuận lợi cho giao lưu quốc tế, có lịch sử giành độc lập lâu dài. Diện tích tự
nhiên của Lào 236.800km2, có chung biên giới với 05 quốc gia có chế độ chính trị khác
nhau, phía Bắc có biên giới với nước CHND Trung Hoa dài 505km, phía Nam có biên giới
chung dài 435km với vương quốc Cămpuchia, phía tây bắc có biên giới chung dài 236km
với Miên Ma, phía Tây có biên giới dài 1.835km với vương quốc Thái Lan, phía Đông giáp
biên giới với CHXHCN Việt Nam dọc theo dãy núi Trường Sơn dài khoảng 2.069km đây
là nước mà CHDCND Lào có mối quan hệ đặc biệt, hữu nghị toàn diện.
Lào là một đất nước có nhiều tài nguyên thiên nhiên, rừng núi trùng điệp, có 03
đồng bằng lớn nằm ở các vùng khác nhau của đất nước và không có đường ra biển là một
khó khăn lớn, đặt Lào vào một vị trí bất lợi về mặt giao lưu quốc tế. Nhân dân Lào hiện
nay khoảng 70 – 80% dân số sống bằng nghề nông. Theo thống kê mới nhất dân số cả
nước Lào hiện nay khoảng 5,2 triệu người. Lào hiện nay có khoảng 68 dân tộc, mỗi dân
tộc có phong tục tập quán khác nhau và sống ở các vùng lãnh thổ khác nhau. Lào có 17
tỉnh và một đặc khu, có mật độ dân số 20 người/km2. Tiếng Lào là ngôn ngữ phổ thông và
cũng là ngôn ngữ chính thức của CHDCND Lào.
Sau khi đất nước hòa bình, độc lập Đảng NDCM Lào đã bắt tay ngay vào việc xây
dựng bảo vệ đất nước và phát triển kinh tế.
Đảng đã đề ra kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế lần thứ nhất (1976 - 1981). Đây là