1
Lời nói đầu
Trong thế giới tự nhiên, xã hội loài ngời là một hình thức tổ chức
cao nhất, trong đó con ngời luôn đóng vai trò là nhân tố trung tâm của mọi
hoạt động diễn ra trong xã hội và mọi hoạt động đó cũng không nằm ngoài
mục đích nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con ngời. Để có đợc
những thành tựu to lớn trên mọi phơng diện của đời sống con ngời nh
ngày hôm nay, con ngời đã không ngừng phấn đấu, tìm tòi học hỏi và
nhận thức ngày càng sâu sắc hơn thực tại khách quan nhằm cải thiện môi
trờng sống và hoàn thiện chính bản thân mình.
Mỗi con ngời tồn tại đợc một cách bình thờng trong xã hội đều
cần phải duy trì hai yếu tố cơ bản nhất, đó là trí lực và thể lực; trong đó yếu
tố này là tiền đề cho yếu tố kia phát triển và không tách rời nhau trong toàn
bộ đời sống con ngời. Muốn có đợc thể lực tốt nhất, con ngời phải luôn
biết cách chăm sóc sức khoẻ cho chính mình: khi khoẻ mạnh phải giữ gìn
sức khoẻ và khi ốm đau phải chạy chữa. Điều này dẫn đến các hoạt động y
tế dần nẩy sinh và không thể thiếu đợc trong đời sống con ngời khi hiểm
họa bệnh tật ngày một nhiều.
Do đó, với mục tiêu phát triển toàn diện con ngời, Đảng và Nhà
nớc ta luôn coi trọng sự nghiệp y tế là một trong những sự nghiệp quan
trọng nhất, thiết yếu nhất trong đời sống kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy
các lĩnh vực khác phát triển đi lên. Theo đó mục tiêu phát triển sự nghiệp y
tế chỉ có thể do nhà nớc quản lý và bảo đảm bằng quỹ tài chính lớn nhất,
tập trung nhất của nền kinh tế quốc dân, đó là Ngân sách Nhà nớc. Vì vậy,
để đạt đợc kết quả cao nhất trong sự nghiệp y tế ( chăm sóc sức khoẻ,
khám chữa bệnh cho nhân dân) thì nâng cao chất lợng các hoạt động y tế
thông qua quản lý chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp này là yêu cầu
cấp bách đặt ra trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và trong
tơng lai. Hơn nữa, để ngời dân đợc trực tiếp hởng thụ các dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh do Nhà nớc cung cấp, định hớng phát
1.1. Quản lý chi Ngân sách Nhà nớc đối với sự
nghiệp y tế tuyến cơ sở
1.1.1. Tầm quan trọng của sự nghiệp y tế trong đời sống xã hội
Tác động của các hoạt động y tế đến đời sống xã hội
Đời sống kinh tế xã hội là hình thức biểu hiện cao nhất, tiến bộ
nhất của con ngời, khác xa với các hoạt động khác có trong thế giới tự
nhiên ở chỗ con ngời nhận thức đợc thực tại khách quan và các quy luật
tự nhiên. Để phát triển kinh tế xã hội thì yếu tố quyết định phải chính là
con ngời và mục tiêu của phát triển kinh tế xã hội phải hớng tới duy
trì sự tồn tại, phát triển của con ngời. Muốn vậy, con ngời phải có đợc
một thể lực và trí lực thích hợp nhất, trong đó thể lực lại là tiền đề cho tạo ra
và nâng cao trí lực.
Thể lực thể hiện sự ngày càng thích nghi với môi trờng sống của
con ngời và chính con ngời lại tự nhận thức, biết nâng cao thể lực thông
qua các hoạt động y tế của mình. Các hoạt động y tế với mục tiêu chăm sóc
sức khoẻ và bảo vệ con ngời trớc những tác động tiêu cực của môi trờng
sống. Khi có đợc sức khoẻ tốt nhất, con ngời có điều kiện để tiếp thu và
phát triển trí thức cho mình nhằm xây dựng, nâng cao chất lợng cuộc sống
của mình ngày càng tốt hơn.
Các hoạt động y tế là phần không thể thiếu đợc trong xã hội loài
ngời, con ngời luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không những của
bản thân mà của cả gia đình mình. Không một ai lại sống mà luôn luôn
khoẻ mạnh cả bởi sự thay đổi thờng xuyên của môi trờng sống cùng với
sự vận động của thế giới tự nhiên. Các hoạt động y tế mà con ngời sáng
4
tạo ra cũng chính nhằm mục đích điều hoà những tác động không tốt của
môi trờng sống tới con ngời.
Do đó, các hoạt động y tế là không thể thiếu đợc trong đời sống con
ngời. Tuy mỗi con ngời có cuộc sống khác nhau nhng các hoạt động y
có thể phân định ra hai loại nhu cầu sau: nhu cầu do cá nhân xác định và
nhu cầu do Chính phủ xác định.
Sự can thiệp của Chính phủ vào việc xác định các nhu cầu về dịch vụ
y tế cũng là một tất yếu trong quá trình quản lý bộ máy Nhà nớc và quản
lý nền kinh tế, đời sống xã hội. Bởi vì việc xác định các nhu cầu về dịch vụ
y tế của các cá nhân chỉ xuất hiện khi họ thực sự cần phải đợc khám chữa
bệnh chứ ít cá nhân lại thấy đợc mình phải đợc phòng bệnh hay cần làm
gì để ngăn chặn các đại dịch xảy ra. Các nhu cầu đợc xác định bởi Chính
phủ nhằm góp phần đẩy lùi các đợt dịch bệnh lây lan hay phòng ngừa
những bệnh dễ mắc phải trong dân c.
Từ việc định hớng xác định nhu cầu về các dịch vụ y tế mà trong
quá trình quản lý, Nhà nớc sẽ có kế hoạch và thực thi các chơng trình
mục tiêu để đảm bảo sức khoẻ cộng đồng và hơn hết là gây dựng đợc sự
tin tởng vào bộ máy Nhà nớc, hệ thống chính trị.
Tìm hiểu về thị trờng dịch vụ y tế
Xuất phát từ nhu cầu các dịch vụ y tế của con ngời và các nhu cầu
này lại có khả năng chi trả từ phía các cá nhân cho nên các mức giá và sản
lợng tơng ứng sẽ đợc xác định, theo đó hình thành nên cầu về các dịch
vụ y tế. Có cầu thì có cung đó là điều mà các nhà kinh tế học đã chứng
minh: Cung các dịch vụ y tế là cung hạn chế bởi tính đặc thù và chuyên
môn cao vốn có của ngành y tế. Khi cung và cầu về y tế gặp nhau hình
thành nên thị trờng các dịch vụ y tế.
Điều quan trọng ở đây không phải là chúng ta đi tìm hiểu xem thị
trờng các dịch vụ y tế hoạt động ra sao, mà điểm cốt lõi là đặc trng của
thị trờng này có gì khác biệt với các thị trờng khác, nhằm định hớng cho
6
công tác triển khai các hoạt động trong sự nghiệp y tế với nền kinh tế thị
trờng định hớng XHCN có sự quản lý của Nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng thì mọi hàng hoá, dịch vụ đợc định giá
bởi thị trờng nhng dịch vụ y tế lại không nên để thị trờng kiểm soát mà
ngời sử dụng các dịch vụ y tế đợc cung cấp trên thị trờng, ngời sử dụng
dịch vụ y tế không biết đợc chính xác thông tin về bác sĩ, về thuốc men, về
bệnh viện... do không dễ gì có đợc trình độ chuyên môn phù hợp.
Sự nghiệp y tế đặt ra cho nền kinh tế nớc ta
Mục tiêu và bản chất nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN có sự
quản lý của Nhà nớc ở nớc ta, một Nhà nớc của dân, do dân và vì dân,
phải coi y tế là một sự nghiệp chung cũng giống nh sự nghiệp cách mạng,
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta vậy.
Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một trong những công việc hết
sức to lớn, quan trọng mang lợi ích chung và lâu dài cho toàn bộ xã hội. Với
phơng châm xây dựng một xã hội XHCN bền vững và phát triển toàn diện,
coi trọng yếu tố quyết định là con ngời thì không thể đặt các hoạt động y
tế ngoài sự nghiệp chung của toàn xã hội đợc.
Do vậy, sự nghiệp y tế là yêu cầu tất yếu khách quan của chế độ xã
hội ở nớc ta và phải nhằm thực hiện những mục tiêu đem lại những kết quả
về chăm sóc sức khoẻ nhân dân cao nhất. Phấn đấu để mọi ngời dân đều
đợc hởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận
và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lợng. Mọi ngời đều đợc sống trong
cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Giảm tỷ lệ mắc
bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi.
Trong điều kiện hiện nay, khi chuyển cơ chế mới thì sự nghiệp y tế
đợc xác định là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí
hoạt động thờng xuyên hay là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn
bộ chi phí hoạt động thờng xuyên, cụ thể đợc xác định nh sau:
(
1
)(
trích khấu hao tài sản cố định).
+ Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thờng xuyên cơ sở vật chất: nhà
cửa, máy móc thiết bị...
Mức tự đảm bảo chi
phí hoạt động
thờng xuyên của
đơn vị sự nghiệp
[A](%)
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
Tổng số chi hoạt động thờng xuyên
X100%
9
+ Chi khác.
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thờng
xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo đợc toàn bộ chi phí hoạt
động thờng xuyên, ngân sách không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt động
thờng xuyên cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A lớn hơn hoặc
bằng 100%).
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thờng
xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp cha tự trang trải toàn bộ chi phí
hoạt động thờng xuyên, Ngân sách Nhà nớc cấp một phần chi phí hoạt
động thờng xuyên cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A nhỏ hơn
100%).
Theo đó, các đơn vị sự nghiệp y tế hiện nay đợc chủ động hơn trong
hoạt động của mình khi áp dụng Nghị định 10/2002/NĐ-CP, phần nào giảm
bớt đi gánh nặng cho Ngân sách Nhà nớc và thể hiện sự đổi mới trong
quản lý các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung cũng nh sự nghiệp y tế nói
riêng.
năm, mức Ngân sách Nhà nớc bảo đảm sẽ đợc xác định lại cho phù hợp.
(1)
Đợc quy định theo Thông t số 25/2002/TT-BTC ngày 21/03/2002 của Bộ tài chính
11
Ngoài nguồn từ Ngân sách Nhà nớc, chi cho các hoạt động sự
nghiệp y tế còn bao gồm các khoản khác nh: nguồn thu sự nghiệp của các
đơn vị ( đã nêu ở phần 1.2.1.) và các nguồn khác theo quy định ( các dự án
viện trợ, quà biếu tặng...).
Nội dung các hoạt động trong sự nghiệp y tế tuyến cơ sở
Sự nghiệp y tế tuyến cơ sở ( gồm y tế thôn, bản, xã, phờng, quận,
huyện, thị xã ) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi ngời
dân đợc chăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện
công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự
an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa. Do
vậy, các hoạt động y tế cơ sở phải là toàn diện và nằm trong các hoạt động
chủ yếu sau:
+ Các hoạt động khám chữa bệnh thông thờng, sơ cứu bệnh nhân
nặng và chăm sóc sức khoẻ ban đầu trên địa bàn quận, huyện, xã, phờng là
chủ yếu ( những trờng hợp bệnh nhân nặng phải chuyển lớn tuyến trên).
+ Hoạt động trong khuôn khổ các chơng trình quốc gia về y tế: các
đơn vị sự nghiệp y tế tuyến cơ sở là các đơn vị trực tiếp triển khai các
chơng trình dới sự chỉ đạo trực tiếp về nghiệp vụ của các sở y tế, bao gồm
các mục tiêu sau:
+ Mục tiêu phòng chống bệnh sốt rét.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh bớu cổ.
+ Mục tiêu tiêm chủng mở rộng.
+ Mục tiêu phòng chống lao.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh phong.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh sốt xuất huyết.
Ngân sách Nhà nớc đảm bảo cho hầu hết các hoạt động của mình. Do vậy,
việc quản lý Ngân sách Nhà nớc chi cho sự nghiệp y tế là yêu cầu không
13
thể thiếu trong điều kiện cần phát huy hơn nữa vai trò và hiệu quả của y tế
trong đời sống kinh tế xã hội.
Để quản lý các khoản chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế
cũng nảy sinh nhiều cách thức phân chia khác nhau nhng một cách tổng
quát có thể chia làm các nhóm chi chủ yếu sau:
- Nhóm một: Các khoản chi thờng xuyên. Chi thờng xuyên là
những khoản chi có tính định kỳ và thờng xuyên trong toàn bộ hoạt động
sự nghiệp. Trong nhóm chi thờng xuyên lại bao gồm một số khoản cụ thể
sau:
+ Chi cho con ngời: đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ cho đội
ngũ cán bộ công nhân viên hoạt động trong lĩnh vực y tế cũng nh quản lý
về y tế nh: chi tiền lơng, tiền công, tiền thởng, phụ cấp, các khoản đóng
góp, phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cán bộ công nhân
viên.
+ Chi cho các nghiệp vụ chuyên môn: là các khoản chi đặc thù cho
lĩnh vực y tế nh: mua sắm thuốc chữa bệnh, bơm kim tiêm, bông, băng,
gạc, cồn, phim chụp X quang...; vật t, trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng
không phải là tài sản cố định và các khoản chi khác.
+ Chi cho quản lý hành chính: bao gồm các khoản chi phục vụ cho
việc quản lý mọi hoạt động sự nghiệp y tế nh: chi mua vật t văn phòng,
điện, nớc, thuê bao điện thoại, chi hội nghị, tiếp khách, chi thuê mớn và
các khoản chi khác có liên quan.
- Nhóm hai: Chi mua sắm, sửa chữa. Nhóm chi này bao gồm các
khoản chi chủ yếu cho tài sản cố định: các chi phí sửa chữa tài sản cố định;
mua sắm tài sản cố định; vận chuyển, lắp đặt tài sản cố định; chi phí thanh
lý, nhợng bán tài sản cố định... Do tài sản cố định sử dụng trong lĩnh vực y
tế có đặc thù riêng và thuộc về sự nghiệp của Nhà nớc nên không đợc
thì quyết toán số còn lại.
15
Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc quản lý và hạch toán Ngân sách
Nhà nớc chi cho sự nghiệp y tế thì các đơn vị sự nghiệp y tế phải quản lý
danh mục các khoản chi theo chi tiết hệ thống Mục lục Ngân sách Nhà
nớc hiện hành.
Trong rất nhiều các phơng thức quản lý thì phơng thức quản lý chi
Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế tuyến cơ sở chủ yếu hiện nay dựa
vào phơng thức quản lý theo dự toán cùng lúc của các đơn vị quản lý nh:
Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện; Kho bạc nhà nớc quận, huyện,
Sở Tài chính Vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng; ủy ban nhân
dân quận, huyện và các bộ phận quản lý tại các cơ sở y tế; trong đó, Phòng
Tài chính Vật giá quận, huyện đóng vai trò chủ đạo thực hiện sự lãnh
đạo đối với các đơn vị dự toán cấp dới và hớng dẫn của cấp trên. Phơng
thức quản lý theo dự toán đợc tiến hành nh sau
(1)
:
Lập dự toán chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế năm đầu
thời kỳ ổn định
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đợc cấp có thẩm quyền giao,
nhiệm vụ của năm kế hoạch; Căn cứ vào định mức, chế độ chi tiêu tài chính
hiện hành của Nhà nớc quy định; Kết quả thu sự nghiệp và chi hoạt động
thờng xuyên năm trớc liền kề ( có loại trừ các yếu tố đột xuất, không
thờng xuyên) đợc cấp có thẩm quyền phê duyệt; đơn vị sự nghiệp lập dự
toán thu, chi năm kế hoạch. Căn cứ lập dự toán chi nh sau:
- Các khoản chi tiền lơng, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ
cấp theo lơng: tính theo lơng cấp bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp
lơng theo quy định hiện hành đối với từng ngành nghề, công việc. Quỹ
tiền lơng, tiền công của đơn vị sự nghiệp đợc xác định nh sau:
tối
thiểu
Hệ số
lơng
cấp
bậc
bình
quân
và hệ
số
phụ
cấp
lơng
bình
quân
=
X ( 1+ ) X
Biên
chế và
lao
động
hợp
đồng
từ 1
năm
trở lên
X X 12 tháng
16
Tiền
lơng
cá nhân
Lơng tối
thiểu chung
ngời/tháng
do Nhà nớc
quy định
Hệ số điều
chỉnh tăng
thêm cho
cá nhân
Hệ số lơng
cấp bậc và
hệ số phụ
cấp lơng
của cá nhân
=
X (1 + ) X
C
NVi
Số dự kiến
chi về vật
liệu, dụng cụ
cho nghiệp
vụ chuyên
môn
Số dự
kiến chi
: số chi Ngân sách Nhà nớc cho nghiệp vụ chuyên môn của sự nghiệp
y tế tuyến cơ sở.
- Chi quản lý hành chính(C
QL
): vật t văn phòng, dịch vụ công
cộng, công tác phí... theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành do cơ quan
Nhà nớc có thẩm quyền quy định, đợc xác định theo công thức sau:
)(
1
CNi
n
i
QLi
QL
SMC ì=
=
Trong đó:
QLi
M
: mức chi quản lý hành chính bình quân/ 1cán bộ công nhân viên sự
nghiệp y tế tuyến cơ sở dự kiến kỳ kế hoạch thuộc đơn vị thứ i.
CNi
S
: số cán bộ công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế
hoạch thuộc đơn vị thứ i.
- Chi hoạt động sản xuất, dịch vụ: vật t, hàng hoá... theo định
mức kinh tế, kỹ thuật do cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quy định và thực
hiện của năm trớc, tính hao mòn tài sản cố định theo chế độ áp dụng hiện
Nhà nớc cho sự nghiệp y tế tuyến cơ sở, quy trình lập dự toán Ngân sách
Nhà nớc đợc trình tự theo các bớc sau:
- Bớc 1: Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện thông báo
cho các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở thời hạn bắt đầu triển khai lập dự toán
Ngân sách Nhà nớc ( thờng vào đầu qúi III của năm trớc).
- Bớc 2: Các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở ( trạm y tế xã,
phờng, trạm cai nghiện...) lập dự toán của đơn vị mình trực tiếp gửi lên
Trung tâm y tế quận, huyện.
- Bớc 3: Trung tâm y tế quận, huyện sau khi nhận đợc dự
toán của các đơn vị thì tổng hợp với dự toán của Trung tâm y tế rồi gửi lên
Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện.
- Bớc 4: Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện tổng hợp, lập
dự toán của sự nghiệp y tế với dự toán Ngân sách quận, huyện gửi UBND
cùng cấp và bảo vệ trớc Sở Tài chính Vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ơng ( trớc 15/8 hàng năm).
19
- Bớc 5: Sau khi cân đối với dự toán Ngân sách Nhà nớc tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ơng Sở Tài chính Vật giá ấn định số giao
dự toán cho sự nghiệp y tế của quận, huyện.
- Bớc 6: Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện sau khi nhận
đợc số giao dự toán từ Sở Tài chính Vật giá tiến hành phân bổ Ngân
sách Nhà nớc chính thức cho các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở để các đơn vị
này có thể chủ động trong chi tiêu ( chậm nhất vào ngày 05 tháng 01 của
năm tài chính).
- Việc giao dự toán của Phòng Tài chính Vật giá quận,
huyện cũng phải đợc Chủ tịch UBND cùng cấp ra văn bản xác định đơn vị
sự nghiệp thuộc loại tự bảo đảm chi phí hoặc đơn vị sự nghiệp bảo đảm một
phần chi phí; giao dự toán thu, chi Ngân sách Nhà nớc cho các đơn vị trực
thuộc, trong đó có mức Ngân sách Nhà nớc bảo đảm hoạt động thờng
xuyên ( đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí).
Trớc kia, kinh phí đợc cấp phát chi tiết theo các mục chi của Mục
lục Ngân sách Nhà nớc đối với kinh phí Ngân sách Nhà nớc bảo đảm
hoạt động thờng xuyên. Sau năm 2002( từ khi Nghị định số10/NĐ-CP có
hiệu lực), đối với kinh phí Ngân sách Nhà nớc bảo đảm hoạt động thờng
xuyên ( đối với các đơn vị bảo đảm một phần chi phí: đơn vị sự nghiệp y tế
tuyến cơ sở), Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện xuất lệnh chi cho các
đơn vị sự nghiệp qua Kho bạc nhà nớc quận, huyện vào mục 134 chi
khác của Mục lục Ngân sách Nhà nớc để các đơn vị chi chủ động và phù
hợp với tình hình thực tế đơn vị hơn; nhng kế toán và quyết toán các khoản
chi phải theo các mục chi của Mục lục Ngân sách Nhà nớc tơng ứng. Đối
với các khoản kinh phí khác của đơn vi sự nghiệp y tế tuyến cơ sở ( kinh phí
thực hiện nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nớc; kinh phí chơng trình mục tiêu
quốc gia; vốn đối ứng các dự án và vốn đầu t, mua sắm trang thiết bị y
tế...) đợc cấp phát theo dự toán đã đợc phê duyệt của cấp có thẩm quyền.
21
Trong qúa trình thực hiện, các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở đợc điều
chỉnh dự toán chi hoạt động sự nghiệp, kinh phí hoạt động thờng xuyên đã
đợc giao cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị gửi Phòng Tài chính
Vật giá quận, huyện và Kho bạc nhà nớc nơi đơn vị giao dịch để theo
dõi quản lý. Đối với các khoản kinh phí thuộc Ngân sách Nhà nớc buộc
các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở phải mở tài khoản tại Kho bạc nhà nớc
quận, huyện để thực hiện chi qua Kho bạc. Ngoài ra, đơn vị sự nghiệp có
thu đợc mở tài khoản tại Ngân hàng hoặc tại Kho bạc nhà nớc để phản
ánh các khoản thu chi của hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ.
Yêu cầu đặt ra của chấp hành chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp
y tế tuyến cơ sở là phải thờng xuyên đợc sự kiểm tra, thanh tra, kiểm soát
của các cơ quan chủ quản ( Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện; Kho
bạc nhà nớc quận, huyện; Sở y tế ) và các cơ quan Nhà nớc có liên quan(
UBND, HĐND quận, huyện).
Quyết toán chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế tuyến cơ sở
cha đợc thực hiện không đợc chuyển sang năm sau trừ trờng hợp đặc
biệt theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nớc và các văn bản hớng dẫn
hiện hành của Bộ tài chính.
Sau khi quyết toán chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế cơ sở
đợc hoàn tất đòi hỏi Phòng Tài chính Vật giá quận, huyện triển khai
ngay công tác kiểm toán đối với các đơn vị để có những điều chỉnh khi cần
thiết theo các văn bản pháp luật về quản lý Ngân sách Nhà nớc hiện hành.
Trong quá trình quản lý chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế cơ sở
đòi hỏi các đơn vị phải thực hiện công khai Ngân sách Nhà nớc nh sau:
(1)
+Công khai dự toán thu chi đã đợc Nhà nớc giao ( năm đầu) và
dự toán thu chi do đơn vị lập ( 2 năm tiếp theo ), kể cả điều chỉnh hoặc
bổ sung trong năm ( nếu có).
+ Công khai quyết toán thu chi Ngân sách Nhà nớc hàng năm
của đơn vị và thông báo duyệt quyết toán của đơn vị dự toán cấp trên.
(1) Nội dung công khai cụ thể thực hiện theo quy định tại Thông t số 83/1999/TT-BTC ngày 01/07/1999
của Bộ tài chính.
23
+ Công khai phơng án chi trả tiền lơng cho ngời lao động, trong
đó có hệ số điều chỉnh tăng thêm cho từng ngời lao động.
+ Công khai việc trích lập và sử dụng các quỹ.
+ Công khai quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu nội bộ.
1.1.3. Xu hớng xã hội hoá các hoạt động y tế trong điều kiện hiện nay
Khái niệm, nội dung của xã hội hoá
Sự nghiệp y tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc chăm
sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân cho nên đòi hỏi phải có sự
đóng góp tích cực cả từ phía Nhà nớc cũng nh nhân dân vào các hoạt
tính tự chủ và năng động của các đơn vị sự nghiệp y tế tuyến cơ sở. Sự phát
triển bền vững sự nghiệp y tế nớc nhà phải luôn đợc đặt trong mối quan
hệ hỗ trợ qua lại giữa phát triển các đơn vị y tế công lập và dân lập mà các
chính sách xã hội hoá đã đề ra.
Yêu cầu khuyến khích xã hội hoá đối với sự nghiệp y tế
Sự nghiệp y tế nếu chỉ đợc bảo đảm từ phía Nhà nớc sẽ không tạo
đà cho sự phát triển nhanh và bền vững, nên yêu cầu khuyến khích xã hội
hoá đối với sự nghiệp y tế là thực sự cần thiết và đang đặt ra cho phát triển
kinh tế xã hội của chúng ta, bởi xã hội hoá đối với sự nghiệp y tế góp
phần:
+ Tạo điều kiện lồng ghép các yêu cầu bảo vệ và nâng cao sức khoẻ
của nhân dân trong các chính sách vĩ mô về kinh tế, xã hội, các chơng
trình, dự án phát triển sản xuất, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo.
+ Đa dạng hoá các loại hình chăm sóc sức khoẻ, tìm kiếm và khai
thác các nguồn đầu t khác nhau cho y tế nh: bảo hiểm y tế tự nguyện,
viện trợ nớc ngoài v.v... xây dựng các điển hình tiên tiến về vệ sinh môi
trờng, an toàn cộng đồng.
+ Tiếp tục củng cố và phát triển các trung tâm truyền thông giáo dục
sức khoẻ các tỉnh, thành phố. Phát triển mạng lới tuyên truyền tới từng xã,
phờng, thôn, bản... Sử dụng các biện pháp và hình thức truyền thông phù
hợp để mọi tầng lớp nhân dân và các tổ chức quần chúng tự nguyện tham
gia và đóng góp vào việc bảo vệ sức khoẻ cho chính bản thân mình và cộng
đồng.
25
Do vậy, yêu cầu đặt ra cho xã hội hoá đối với sự nghiệp y tế là phải
đợc tiến hành một cách thận trọng và toàn diện, tránh tiến hành một cách ồ
ạt, sai lệch với t tởng ban đầu đề ra. Hơn nữa, từng bớc đi trong tiến
trình xã hội hoá phải đợc cụ thể bởi các quy phạm luật pháp, căn cứ vào
tình hình nền kinh tế đất nớc tránh sự nóng vội chủ quan duy ý chí và cần
xác định đây là mục tiêu lâu dài.