LUẬN văn THẠC sĩ vấn đề tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG của ĐẢNG TRONG các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NĂNG HIỆN NAY - Pdf 39

MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

a/- Một trong những vấn đề mang tính phổ biến trong thời đại dân chủ
ngày nay là vai trò đặc biệt quan trọng của đảng chính trị và các tổ chức chính
trị - xã hội. Để phát huy vai trò chính trị, củng cố quyền lực, hầu hết các đảng
chính trị, các đoàn thể chính trị - xã hội đều có tổ chức chặt chẽ xuống đến
các đơn vị hành chính cơ sở, thậm chí cả trong các đơn vị kinh doanh và sự
nghiệp.
Đảng cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng Việt Nam: cách mạng tháng 8 thành công, kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ thắng lợi, non sông thu về một mối, đưa vào cả nước bước vào thời
kỳ quá độ lên CNXH, và hiện đang lãnh đạo công cuộc đổi mới đạt nhiều kết
quả.
Các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng đóng vai trò to lớn trong việc
phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở chính trị vững chắc
của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới và bảo vệ Tổ quốc.
b/- Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng chủ trương: tiếp tục duy trì
và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự điều tiết của Nhà nước và theo định hướng XHCN; các doanh nghiệp
nhà nước phải là thành phần kinh tế gương mẫu đi đầu để hướng dẫn các
thành phần kinh tế khác; thừa nhận kinh tế thị trường tất yếu có cạnh tranh
quyết liệt, nhưng phải cạnh tranh lành mạnh, phát triển kinh tế phải đi đôi với
thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái; kinh doanh phải
mang lại hiệu quả.... Đây là trách nhiệm lãnh đạo của các tổ chức Đảng, đồng
thời là những nội dung hoạt động, giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội
trong doanh nghiệp.

1





chúng, một mặt tạo điều kiện cho cả nhà kinh doanh phát huy hết khả năng
đảm bảo sản xuất kinh doanh đúng pháp luật, và đảm bảo các quyền và lợi ích
chính đang của công nhân lao động trong các doanh nghiệp tư nhân.
+ Tổ chức cơ sở đảng trong nhiều doanh nghiệp nhìn chung hoạt động
tốt, góp phần vào sự tăng trưởng kinh doanh của đất nước. Tuy nhiên sự
chuyển biến của các tổ chức cơ sở đảng doanh nghiệp và sự đổi mới và chỉnh
đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW, nhất là Nghị quyết TW 6 (lần 2) nói
chung còn chậm. Trong nền kinh tế thị trường, đảng viên và công nhân lao
động trong các doanh nghiệp hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của nhiều
vấn đề phức tạp. Việc giữ vững bản chất công nhân của Đảng đứng trước
thách thức mới. Nhưng "Đảng đã thiếu sự chuẩn bị kịp thời cho bước chuyển
biến này, dẫn đến tình trạng bản chất công nhân bị giảm sút, nhiều truyền
thống tốt đẹp như: quan hệ Đảng với nhân dân, đoàn kết thống nhất dân chủ...
đã bị lãng quên ở nhiều nơi, có nơi còn vi phạm nghiêm trọng. Một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất
cảnh giác cách mạng, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đoạ về
đạo đức lối sống"(15)
+ Bên cạnh các tổ chức đảng trong các DNNN, có nên có tổ chức đảng
trong các DNTN? và để có tổ chức đảng trong DNTN thì trước hết phải giải
quyết một vấn đề quan trọng là làm thế nào để phát triển đảng trong các
doanh nghiệp này? có nên kết nạp giới chủ vào Đảng không hay chỉ kết nạp
vào đảng những người lao động (họ - với tư cách là những người làm thuê)?
Những đảng viên hiện đang là chủ doanh nghiệp tư nhân, nếu họ quản lý
doanh nghiệp tốt, chấp hành đúng pháp luật, chính sách, thì có thể đưa họ vào
cấp uỷ hay không?
+ Vấn đề nổi cộm nhất hiện nay về sự lãnh đạo của đảng trong các
doanh nghiệp, đặc biệt là: Mối quan hệ giữa lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng,
của cấp uỷ đối với doanh nghiệp và thủ trưởng doanh nghiệp phải được giải

ích chính đáng của người lao động. Hơn nữa, trong các doanh nghiệp tư nhân,

4


hoạt động của tổ chức đảng và công đoàn còn gặp nhiều khó khăn, do nhiều
nguyên nhân chủ quan và khách quan.
+ Đứng về góc độ thể chế, hoạt động của công đoàn thì đã có luật công
đoàn, luật khiếu nại, tố cáo, luật biểu tình.... quy định rất rõ quyền lợi và trách
nhiệm của người lao động trong doanh nghiệp và trong quan hệ với giới chủ.
Trong khi đó, Đảng là tổ chức chính trị đại diện quan trọng nhất thì không có
quy định pháp lý nào, và điều kiện này đã gây không ít khó khăn về tổ chức
hoạt động của tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp, nhất là DNTN.
Từ cách đặt vấn đề trên đây cho thấy, kiện toàn và phát huy vai trò lãnh
đạo của Đảng, hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội trong doanh nghiệp
là vấn đề rất quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới
Đảng và các đoàn thể nói riêng. Trên ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài "Vấn đề tổ
chức và hoạt động của Đảng trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng" làm luận văn thạc sĩ chính trị học.
II. TÌNH HÌNH NGHIÊM CỨU.

Vấn đề củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của các tổ
chức chính trị - xã hội nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu ở mọi
cấp độ quyền lực, từ vĩ mô (Trung ương) đến vi mô (cấp cơ sở xã phường).
- PGS.TS Tô Huy Rứa: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vì công cuộc
đổi mới. NXB CTQG, 2005
- Lê Đức Bình: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt: NXB CTQG Hà
Nội, 2003.
- TS Đặng Đình Tân (chủ biên): Thể chế Đảng cầm quyền - một số vấn
đề lý luận và thực tiễn. NXB CTQG, 2003

- Nguyễn Thị Mỹ Hiền: Thực hiện cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ" trong lĩnh vực khám chữa bệnh ở ngành y tế Bình
Thuận, Luận văn Đại học chính trị, 2003

6


- Phan Thị Thanh Hà: Tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
trong các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay. Luận văn cao cấp chính
trị 2003.
Những công trình nghiên cứu trên đã phân tích khá sâu sắc trên nhiều
nội dung lý luận và thực trạng, những vấn đề hạn chế, bức xúc trong tổ chức,
hoạt động của các tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên,
cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu hay đề tài khoa học nào
nghiên cứu toàn diện các tổ chức chính trị xã hội trong các doanh nghiệp, nhất
là tại địa bàn thành phố Đà Nẵng.
III. MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN VĂN.

Trên cơ sở khảo sát, đánh gía các tổ chức chính trị xã hội trong các
doanh nghiệp (nhà nước và tư nhân), luận văn đề xuất những giải pháp nhằm
phát huy vài trò của các tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong
các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.
IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tổ chức đảng và công đoàn
trong các doanh nghiệp.
- Phạm vi và thời gian nghiên cứu: là tổ chức và hoạt động của các tổ
chức đảng và công đoàn trong các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân ở Thành
Phố Đà Nẵng trong những năm từ năm 2001 đến nay.
V. CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

văn có thể làm tài liệu tham khảo cho Thành uỷ, UBND Thành phố, các cơ
quan và những ai đang quan tâm đến vấn đề này.

8


CHƯƠNG I
VAI TRÒ CỦA ĐẢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI
MỚI NÓI CHUNG VÀ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÓI RIÊNG.

1.1.1. Vị trí và vai trò của Đảng cầm quyền - một số vấn đề chung
Đảng cầm quyền là đảng đã nắm được chính quyền, và sử dụng chính
quyền nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của giai cấp.
Ở Việt Nam, Đảng cộng sản đã lãnh đạo nhân dân giành được chính
quyền từ tháng 8/1945. Từ đó đến nay, Đảng là lực lượng chính trị duy nhất
lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công cách mạng dân tộc, dân chủ, xây
dựng đất nước, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp đổi mới do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo đã có những thành tựu rất quan trọng, tạo tiền đề
vững chắc để bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Từ khi chưa có chính quyền - Đảng hoạt động trong vòng bí mật, đến
khi có chính quyền là bước ngoặt cơ bản của các mạng Việt Nam. Vì vậy khi
có chính quyền, nhiệm vụ chính trị của Đảng ta đã thay đổi căn bản. Nếu
trước đây, nhiệm vụ chính trị chủ yếu của Đảng là lãnh đạo giai cấp và toàn
dân tộc đấu tranh lật đổi chế độ xã hội cũ để giành chính quyền; thì nay nhiệm
vụ chủ yếu và trung tâm là xây dựng xã hội mới và bảo vệ thành quả cách
mạng đã đạt được. Lúc này, chủ nghĩa xã hội từ lĩnh vực lý luận đã chuyển
sang lĩnh vực thực tiễn. Lênin đã viết: "xét theo quan điểm chính trị đơn

không có một thời kỳ "tròng trành" hết sức dữ dội, một thời kỳ chán động,
đấu tranh và bão táp, đó là một mặt; mặt khác, không bao giờ diễn ra mà
không có một thời kỳ mò mẫm, thí nghiệm, do dự, ngả nghiêng trong việc lựa
chọn những phương hướng mới đáp ứng với tình thế khách quan mới " (27).
Người khẳng định: Trong việc đó không có cái gì là không thể thực hiện được

10


nếu chúng ta nhận thức được và có quyết tâm. ".... chúng ta sẽ học tập được
cách làm công tác đó vơi tất cả nhiệt tình cách mạng"(28).
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội - cả lý luận và thực tiễn
hiện nay còn nhiều vấn đề chưa sáng tỏ. Nước ta lại phát triển trong điều kiện
từ một nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa lại càng khó khăn gian khổ hơn nhiều; đòi hỏi sự lãnh đạo sáng suốt,
tìm tòi, sáng tạo của Đảng, sự nhất trí và quyết tâm cao của toàn đảng, toàn
dân thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mới thành công. Hồ Chủ tịch đã
dạy: "Khó thì khó thật, nhưng chúng ta quyết tâm; chúng ta vừa làm vừa học
thì nhất định chúng ta vượt qua hết thảy những khó khăn đó"(26)
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ sắc bén để thông qua đó Đảng
thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội. Khác với nhà nước tư sản,
nhà nước xã hội chủ nghĩa, bản chất của nó là nhà nước của dân, do dân vì
dân. Nhà nước giữ vị trí vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống chính trị.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức thể hiện tập trung quyền lực của nhân
dân; thể hiện và thực hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích, quyền làm chủ của
nhân dân; nhân danh nhân dân để quản lý xã hội.
Sự lãnh đạo Đảng được thể hiện tập trung ở nhà nước và thực hiện chủ
yếu thông qua nhà nước. Khi có chính quyền, ngoài những công việc nội bộ
của Đảng, còn tất cả đường lối chủ trương, chính sách lớn của Đảng đều được
thể chế hoá thành chính sách và pháp luật của Nhà nước. Quyền lãnh đạo và

đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Hiện tượng này không gắn
với bản chất của Đảng, nhưng trong điều kiện nền kinh tế thị trường nguy cơ
sa đoạ về phẩm chất là rất lớn. Điều này đòi hỏi kỷ luật của Đảng phải thật
nghiêm minh, pháp luật cảu Nhà nước phải chặt chẽ, cơ chế quản lý không
còn những kẻ hỡ, để kịp thời ngăn chặn và trừng trị những phần tử tiêu cực,
thoái hoá biến chất trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta
đang tích cực tìm các giải pháp khắc phục để làm trong sạch đội ngũ, đảm bảo
quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng hiệu lực
quản lý của Nhà nước đối với toàn xã hội. Đây là cuộc đấu tranh gian khổ,
quyết liệt, và phức tạp; một thứ giặc "nội xâm" như Bác hồ từng dạy. Thắng
12


lợi trong cuộc đấu tranh này có ý nghĩa sống còn đối với vai trò lãnh đạo của
Đảng, và sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Khi có chính quyền, nhiệm vụ trung tâm của Đảng là xây dựng, sáng
tạo, trước hết trên lĩnh vực kinh tế. Cho nên phương pháp lãnh đạo của Đảng
đã thay đổi căn bản. Lê nin chỉ ra rằng: "Khi tình hình đã thay đổi và chúng ta
phải giải quyết những nhiệm vụ thuộc loại khác, thì không nên nhìn lại đằng
sau và sử dụng những phương pháp của ngày hôm qua" (29). Lê nin nhắc nhở
những người cộng sản: Ai muốn dùng phương thức cũ trong cuộc đấu tranh
giành chính quyền để giải quyết những nhiệm vụ tổ chức thì người đó sẽ phá
sản hoàn toàn với tính cách là người chính trị, là người xã hội chủ nghĩa, "và
chúng ta bắt tay vào nhiệm vụ xây dựng kinh tế của chúng ta trong cơ sở kinh
nghiệm của ngày hôm qua của ta, và chính đó là một điều sai lầm căn bản của
chúng ta"(30).
Vì thế khi có chính quyền Đảng phải biết loại bỏ những phương pháp cũ
không còn phù hợp. Có những phương pháp cũ nay còn phải sử dụng thì cần
được cải tiến cho phù hợp và phải bằng những hình thức mới. Quan trọng hơn
là phải sáng tạo nhiều phương pháp, hình thức mới, phong phú đa dạng, phù

cũng nặng nề hơn. Đảng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước vận mệnh
phát triển của dân tộc. Do vị trí quan trọng như vậy, cho nên quá trình đi lên
chủ nghĩa xã hội cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
Ở Việt Nam, vị trí vai trò lãnh đạo của Đảng là do sứ mệnh lịch sử giao
phó. Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cách mạng Việt Nam đứng trước sự khủng
hoảng về đường lối chính trị, thực chất là sự khủng hoảng về giai cấp tiên
phong lãnh đạo cách mạng. Giai cấp phong kiến mà đại diện là triều đình Nhà
Nguyễn đã đầu hàng; phong trào cần vương của các sĩ phu yêu nước đã thất
bại, phong trào nông dân tuy oanh liệt nhưng không thành công. Phong trào tư
sản, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã mau chóng thất bại. Đúng lúc đó,
lịch sử trao sứ mệnh cho giai cấp công nhân Việt Nam, lãnh đạo cách mạng
Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời chấm dứt giai đoạn bế tắc về

14


đường lối cứu nước. Từ đây mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn
liền với Đảng. Không có Đảng, dân tộc ta, nhân dân ta không thể thoát khỏi
ách đô hộ áp bức, bóc lột hàng ngàn năm phong kiến, đế quốc; không thể
thoát khỏi sự bần cùng, lạc hậu và nghèo khổ. Sự lãnh đạo của Đảng đối với
cách mạng Việt Nam từ trước đến nay và từ nay về sau là một đòi hỏi tất yếu
của lịch sử dân tộc Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng
định: ".....ở nước ta không có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản thì không thể có
độc lập dân tộc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có Nhà
nước của dân, do dân và vì dân, không thể có chủ nghĩa xã hội. Lúc bình
thường vài trò lãnh đạo của Đảng đã rất quan trọng, ở những bước chuyển
giai đoạn, vai trò đó lại càng quan trọng"(7).
Khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với cách mạng Việt
Nam, hiện nay đó là vấn đề có tính quy luật có tính nguyên tắc. Buông lỏng
sự lãnh đạo của Đảng là sai lầm về nguyên tắc, là thủ tiêu sức mạnh của Nhà

định hướng xã hội chủ nghĩa, mới phát huy được nhân tố tích cực, hạn chế và
khắc phục tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, trong quan hệ đối
ngoại; giải quyết tốt những vấn đề trong xây dựng Nhà nước pháp quyền. Sự
lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của Tổ
quốc, của chế độ và xã hội chủ nghĩa và bản thân Đảng ta.
1.1.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới kinh tế xã hội ở nước ta.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng;
đồng thời Đảng ta cũng không tránh khỏi thiếu sót, sai lầm, những giai đoạn
"tròng trành" trong lãnh đạo kinh tế xã hội, nhưng đã đứng vững, vượt qua
khó khăn thử thách đưa đất nước ta đạt được những thắng lợi quan trọng như
ngày hôm nay.
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội của các đảng cộng sản (trong đó có Đảng
ta) là một quá trình. Suốt nhiều thập kỷ, các Đảng Liên Xô, Trung Quốc anh
em đã coi chủ nghĩa xã hội là một xã hội mà trong đó là nền kinh tế chỉ huy,
tập trung bao cấp cao độ với thành phần kinh tế thuần nhất là kinh tế quốc dân

16


và kinh tế tập thể; không thừa nhận kinh tế thị trường và quan hệ hàng hoá tiền tệ. Công cuộc xây dựng kinh tế ở Liên xô giai đoạn đầu với phong trào
thi đua xã hội chủ nghĩa sâu rộng, nhân dân Liên xô đã đạt được những thành
tựu quan trọng. Tuy nhiên, đến đầu những năm 70 của thế kỷ hai mươi, nền
kinh tế - xã hội ở Liên xô đã bộc lộ những điểm yếu và ngày càng đi vào
khủng hoảng sâu sắc. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đã làm mất đi động
lực phát triển, làm tha hoá các giai cấp cơ bản trong xã hội như công nhân,
nông dân..v..v....
Đảng ta là Đảng cầm quyền nằm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, là
nước đi sau, không thể không ảnh hưởng những quan điểm trên. Nhìn lại lịch
sử thời kỳ cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thấy rõ những sai
sót trong tư duy lý luận và chỉ đạo của Đảng. Lúc đó đã có quan niệm sai lầm

để đưa đất nước ta phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng,
đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, đưa nước ta bước vào thời kỳ đổi mới và
hội nhập quốc tế. Nhận thức để đổi mới cũng là một quá trình. Nhân dân ta
với thực tế sản xuất và đời sống đã "khoán chui" trong nông nghiệp như ở Hải
Phòng và Hà Tây, và "phá rào" trong các doanh nghiệp. Trước những thực
tiễn ấy, Đảng ta đã thật sự cầu thị, lắng nghe ý kiến nhân dân, và ra đời chỉ thị
100 và ba phần kế hoạch trong công nghiệp. Khoán 10 đi vào cuộc sống và
tạo ra sự phát triển vượt bậc trong nông nghiệp và khởi sắc rõ rệt trong nông
nghiệp và nông thôn Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI với tinh thần nhìn thẳng vào sự
thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật đã vạch ra những sai lầm khuyết
điểm trầm trọng trong hơn 10 năm qua, trên cơ sở đó phân tích nguyên nhân
và vạch ra phương hướng sửa chữa.
Văn kiện đại hội VI chủ rõ "......, trong mười năm qua đã phạm nhiều sai
lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế"(8).
Nguyên nhân của tình trạng trên"do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải

18


qua nhiều chặng đường, và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ
qua những bước đi cần thiết. Đại hội lần thứ IV chưa xác định những mục tiêu
cuả chặng đường đầu tiên. Trong những năm 1976-1980, trên thực tế, chúng
ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề
cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý đã lỗi thời"(9).
Đại hội đã phân tích những sai lầm về bố trí cơ cấu kinh tế, về cải tạo xã
hội chủ nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế, về phân phối lưu thông.v..v...
Đại hội VI của Đảng, trước hết đổi mới về tư duy. Chúng ta đã nhận

Qua các Đại hội VII, VIII, IX của Đảng, Đảng ta phát triển ngày càng
sâu rộng hơn đường lối đổi mới, tổ chức chỉ đạo thực tiễn, giành được những
thành tựu vô cùng quan trọng.
Trong 10 năm (1991-2000), chúng ta đã đạt được nhưng thành tựu chủ
yếu.
- Kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ tăng tương đối cao; đưa đất
nước ra khỏi siêu lam phát và khủng hoảng kinh tế. Từ 1991 đến 2000 tổng
sản phẩm trong nước tăng bình quân mỗi năm 7,56%. Nhờ vậy, đến cuối năm
2000 tổng sản phẩm trong nước đã gấp 2,07 lần năm 1990, vượt mục tiêu
tổng quát đã đề ra.
Một trong những thành tựu kinh tế lớn nhất trong 10 năm qua là phát
triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực. Đến nay vấn đề an toàn
lương thực đã được giải quyết, năm 2000 đạt 35,6 triệu tấn, tăng 14,1 triệu tấn
so với năm 1990, bình quân lương thực đầu người tăng từ 327,5kg năm 1990
lên 458,2 kg năm 2000. Diện tích cây công nghiệp hàng năm năm 2000 đã đạt
808,7 nghìn ha, gấp 1,5 lần 1990. Diễn tích cây ăn quả 541 nghìn ha gấp 1,9
lần. Diện tích cây công nghiệp lâu năm 1,4 triệu ha, gấp 2,1 lần. Chăn nuôi
năm 2000 tăng 75% so với 1990.
Sản xuất công nghiệp tốc độ tăng bình quân mỗi năm 13,6%. Tính theo
giá trị sản xuất thì quy mô sản xuất công nghiệp đã tăng gấp 3,6 lần năm
1990. Những sản phẩm quan trọng như khai thác than đạt trên 10,8 triệu tấn,
20


gấp 2,3 lần năm 1990; dầu thô 16,3 triệu tấn, gấp 6 lần; điện 26,6 tỷ kwh, gấp
3 lần; xi măng 13,3 triệu tấn gấp 5,3 lần; thép cán 1,7 triệu tấn gấp 16,5 lần;
phân hoá học 1,3 triệu tấn, gấp 3,7 lần....
- Cơ cấu kinh tế từng bước được chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh
công nghiệp hoá hiện đại hoá. Cơ cấu ngành, đã giảm tỷ trọng nông, lâm, ngư
nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu vùng kinh tế càng bắt

tốc độ tăng trưởng đạt 7,7%, trong đó khu vực dịch vụ tăng đột biến với mức
tăng 7,5%, kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ trên 28,9%, đạt giá trị trên 26 tỷ
USD. Kinh tế tư nhân đạt mức tăng trưởng rất cao, góp vào tăng trưởng GDP
khoảng 42%. Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong tổng sản phẩm
quốc nội ngày càng tăng: năm 2000 là 36,7% lên 40,1% năm 2004. Tỷ trọng
ngành nông, lâm ngư nghiệp từ 24,5% xuống còn 21,7% và ngành dịch vụ
duy trì ở mức trên 38%.
- Đời sống các tầng lớp dân cư được cải thiện rõ rệt, sự nghiệp văn hoá,
giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác được củng cố và tăng cường. Kết
quả các cuộc điều tra mức sống nhân dân cho thấy; thu nhập bình quân mỗi
người 1 tháng của các hộ đã tăng từ 92,1 nghìn đồng năm 1992 lên
206,1nghìn đồng năm 1995 và 295 nghìn đồng năm 1999. Tỷ lệ đói nghèo đã
giảm từ 55% năm 1990 xuống còn 16,5% năm 1995 và 11,3% năm 2000 (tiêu
chí nghèo đói cũ).
Năm 2000 chúng ta đã hoàn thành chương trình mục tiêu chống mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học. Theo đánh giá của tổ chức phát triển Liên hiệp
quốc (UNDP) thì chỉ số giáo dục của nước ta năm 1999 đứng thứ 92/174
nước, góp phần nâng chỉ số phát triển con người 110/174 nước năm 1999, xếp
trên nhiều năm trong khu vực như Ấn Độ, Pakistan, Myanma Bănglađét.
Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng có những tiến bộ
đáng kể. Số thầy thuốc (từ trung cấp trở lên) tính bình quân cho 1 vạn dân đã
tăng từ 10,8 người năm 1990 lên 11,7 người trong năm 1999, số bác sĩ bình
quân 1 vạn dân cũng tăng từ 3,6 người lên 4,9 người.
Tuy kinh tế - xã hội còn có những yếu kém; nhưng rõ ràng dưới sự lãnh
đạo của Đảng nhân dân ta đã đạt được những thành tựu rất lớn; đưa nước ta ra
khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, bước vào thời kỳ đẩy
22


mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, có bước tăng trưởng cao so với khu vực

cầm kiện, xây dựng Nhà nước. Mỗi cấp uỷ Đảng phải là động cơ mạnh mẽ
thúc đẩy phong trào cách mạng sôi nổi tiến lên" (21). Người còn nhấn mạnh:

24


"Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở,
đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng phát huy được trí tuệ và
lực lượng vĩ đại của quần chúng"(22).
Trong bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện, Chủ
tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ: Cần phải nắm vững đường lối, chính sách
của Đảng, chịu khó đi sâu, đi sát cở sở để hiểu rõ tình hình sản xuất, đời sống
của nhân dân, tình hình các tổ chức đảng, chi bộ và các đoàn thể quần chúng
mà có chủ trương, biện pháp cho đúng, cho kịp thời.
Người cho rằng: "Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc
sẽ tốt"(23). Hồ Chủ tịch nhấn mạnh: Chi bộ là gốc rễ của Đảng, là nền tảng của
Đảng. Đảng mạnh là do chi bộ đều mạnh. Chi bộ là đồn luỹ của Đảng chiến
đấu trong quần chúng. Chi bộ là sợ dây chuyền để liên hệ Đảng với quần
chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến việc xây
dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở, nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng.
Người chỉ rõ. "Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi
bộ tốt, chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt"(24).
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta khẳng định vị trí quan trọng và trách
nhiệm nặng nề của tổ chức cơ sở đảng.
Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930) đã quy định hệ thống tổ chức theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Hệ thống tổ chức của Đảng bao gồm các chi bộ
ở cơ sở (nhà máy, công xưởng, hầm mỏ, đồn điền, đường phố) đến huyện bộ,
thi bộ, khu bộ, tỉnh bộ, thành bộ và Trung ương.
Điều lệ Đảng công sản Đông dương (tháng 10-1930) khẳng định: chi bộ
(nhà máy, công sở, trường học....) là "căn bản tổ chức của Đảng". Điều lệ do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status