LUẬN VĂN:
Vấn đề tổ chức và hoạt động của Đảng
trong các doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng
(1)
. Trong gần 20 năm đổi mới, cùng với việc đổi mới cơ chế chính sách phát
huy quyền tự chủ tài chính và nghiệp vụ kinh doanh của các doanh nghiệp trong và
ngoài quốc doanh, sự kiện toàn, đổi mới hoạt động của các tổ chức Đảng, đoàn thể
trong các doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế
và giữ vững định hướng XHCN trong hoạt động của các doanh nghiệp.
c/- Sự lãnh đạo của Đảng và phát huy hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã
hội, nhất là tổ chức công đoàn, là một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng trong
đổi mới kinh tế và phát huy hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay.
Tuy nhiên, để phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và tinh thần làm chủ
của các đoàn thể chính trị - xã hội, trong tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng và các
đoàn thể chính trị - xã hội đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới cả
về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động.
Về phía tổ chức Đảng:
+ Những năm qua, doanh nghiệp tư nhân (kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài) đang phát triển mạnh và ngày càng đóng vai trò quan tọng trong nền kinh
tế quốc dân. Hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân luôn dẫn đầu các thành
phần kinh tế khác. Đảng và Nhà nước ta khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển theo
đúng định hướng XHCN và trong khuôn khổ pháp luật. Vấn để tổ chức cơ sở Đảng
trong các doanh nghiệp tư nhân là một vấn đề mới nhưng rất cấp thiết. Bởi Đảng lãnh
đạo kinh tế không thể buông lơi một số cơ sở nào. Đặc biệt trong các doanh nghiệp tư
nhân ngày càng tập trung đông đảo công nhân. Đảng phải tổ chức và lãnh đạo quần
chúng, một mặt tạo điều kiện cho cả nhà kinh doanh phát huy hết khả năng đảm bảo
sản xuất kinh doanh đúng pháp luật, và đảm bảo các quyền và lợi ích chính đang của
công nhân lao động trong các doanh nghiệp tư nhân.
+ Tổ chức cơ sở đảng trong nhiều doanh nghiệp nhìn chung hoạt động tốt, góp
phần vào sự tăng trưởng kinh doanh của đất nước. Tuy nhiên sự chuyển biến của các
Đặc biệt tổ chức công đoàn - một tổ chức tương đối độc lập - Là người đại diện quyền
và lợi ích chính đáng của công nhân lao động, vì sự phát triển của doanh nghiệp và vì
lợi ích của chính mình.
+ Trong các doanh nghiệp tư nhân, người chủ sở hữu là tư nhân, công nhân là
người làm thuê thì mối quan hệ giữa tổ chức công đoàn và Chủ tịch công đoàn với
doanh nghiệp và Giám đốc doanh nghiệp thế nào? Trong các doanh nghiệp tư nhân
quyền lợi căn bản là thống nhất, nhưng xung đột lợi ích khó tránh khỏi. Nhiều khi
xung đột đó dẫn tới đình công bãi công, làm thiệt hại cho giới chủ và cho nền kinh tế
chung của đất nước. Những năm qua, các tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp
bước đầu đã biết phát huy vai trò làm chủ của mình trong sản xuất, trong bảo vệ các
quyền lợi chính đáng của mình, trong việc thực hiện các thoả ước tập thể giữa công
nhân lao động với giới chủ. Tuy nhiên những kết quả hoạt động đó có nhiều hạn chế.
Do đó, việc củng cố và phát huy vài trò công đoàn và các tổ chức chính trị khác trong
doanh nghiệp tư nhân càng trở thành nhu cầu cấp thiết.
Tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị xã hội khác ở nhiều doanh nghiệp
hoạt động có hiệu lực. Tuy nhiên, nhìn chung các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động
trong các doanh nghiệp còn kém, nhất là trong các doanh nghiệp tư nhân. Công đoàn
chưa thực sự đóng vai trò đại diện quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.
Hơn nữa, trong các doanh nghiệp tư nhân, hoạt động của tổ chức đảng và công đoàn
còn gặp nhiều khó khăn, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan.
+ Đứng về góc độ thể chế, hoạt động của công đoàn thì đã có luật công đoàn,
luật khiếu nại, tố cáo, luật biểu tình quy định rất rõ quyền lợi và trách nhiệm của
người lao động trong doanh nghiệp và trong quan hệ với giới chủ. Trong khi đó, Đảng
là tổ chức chính trị đại diện quan trọng nhất thì không có quy định pháp lý nào, và điều
kiện này đã gây không ít khó khăn về tổ chức hoạt động của tổ chức Đảng trong các
doanh nghiệp, nhất là DNTN.
Từ cách đặt vấn đề trên đây cho thấy, kiện toàn và phát huy vai trò lãnh đạo của
- Viện công nhân và công đoàn - Tổng liên đoàn lao động Việt Nam: Nâng cao
hiệu quả hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
Nxb, LĐ, Hà Nội 2003.
- TS Đặng Đình Tân: Thực hành dân chủ trong doanh nghiệp Nhà nước - Vấn
đề chính trị quan trọng hiện nay ở nước ta. Thông tin CHT 2003, số 15
- TS Nguyễn Văn Sáu: Nâng cao vai trò và phát huy hiệu lực lãnh đạo của tổ
chức đảng ở doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu lý luận.
1997 số 9.
- TS Trịnh Đức Hồng, PGS, TS Dương Xuân Ngọc: Về đổi mới phương thức
lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng doanh nghiệp nhà nước NXB CTQG, 2002
- TS Trịnh Đức Hồng: Nét mới trong định hướng phát triển của Đảng bộ khối
công nghiệp Hà Nội. Lý luận chính trị 2000 số 5.
- Nguyễn Thị Mỹ Hiền: Thực hiện cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ" trong lĩnh vực khám chữa bệnh ở ngành y tế Bình Thuận, Luận văn
Đại học chính trị, 2003
- Phan Thị Thanh Hà: Tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong các
doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay. Luận văn cao cấp chính trị 2003.
Những công trình nghiên cứu trên đã phân tích khá sâu sắc trên nhiều nội dung
lý luận và thực trạng, những vấn đề hạn chế, bức xúc trong tổ chức, hoạt động của các
tổ chức đảng, đoàn thể trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một
công trình nghiên cứu hay đề tài khoa học nào nghiên cứu toàn diện các tổ chức chính
trị xã hội trong các doanh nghiệp, nhất là tại địa bàn thành phố Đà Nẵng.
III. Mục đích của luận văn.
Trên cơ sở khảo sát, đánh gía các tổ chức chính trị xã hội trong các doanh
nghiệp (nhà nước và tư nhân), luận văn đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vài trò
của các tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp ở nước ta
hiện nay.
hoạt động của mình trong doanh nghiệp. Ngoài ra luận văn có thể làm tài liệu tham
khảo cho Thành uỷ, UBND Thành phố, các cơ quan và những ai đang quan tâm đến
vấn đề này.
Chương I
Vai trò của Đảng trong các doanh nghiệp trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện
nay
1.1. Vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng trong sự nghiệp đổi mới nói chung và
trong phát triển kinh tế nói riêng.
1.1.1. Vị trí và vai trò của Đảng cầm quyền - một số vấn đề chung
Đảng cầm quyền là đảng đã nắm được chính quyền, và sử dụng chính quyền
nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của giai cấp.
ở Việt Nam, Đảng cộng sản đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền từ
tháng 8/1945. Từ đó đến nay, Đảng là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo nhân dân
ta thực hiện thành công cách mạng dân tộc, dân chủ, xây dựng đất nước, từng bước đi
lên chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã có
những thành tựu rất quan trọng, tạo tiền đề vững chắc để bước vào thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Từ khi chưa có chính quyền - Đảng hoạt động trong vòng bí mật, đến khi có
chính quyền là bước ngoặt cơ bản của các mạng Việt Nam. Vì vậy khi có chính quyền,
nhiệm vụ chính trị của Đảng ta đã thay đổi căn bản. Nếu trước đây, nhiệm vụ chính trị
chủ yếu của Đảng là lãnh đạo giai cấp và toàn dân tộc đấu tranh lật đổi chế độ xã hội
cũ để giành chính quyền; thì nay nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm là xây dựng xã hội
mới và bảo vệ thành quả cách mạng đã đạt được. Lúc này, chủ nghĩa xã hội từ lĩnh vực
lý luận đã chuyển sang lĩnh vực thực tiễn. Lênin đã viết: "xét theo quan điểm chính trị
đơn thuần, thì điều mấu chốt hiện nay là ở chỗ: Trên những nét chủ yếu về cơ bản thì
sử, với tư cách là người lãnh tụ và người lãnh đạo xã hội, không bao giời diễn ra mà lại
không có một thời kỳ "tròng trành" hết sức dữ dội, một thời kỳ chán động, đấu tranh
và bão táp, đó là một mặt; mặt khác, không bao giờ diễn ra mà không có một thời kỳ
mò mẫm, thí nghiệm, do dự, ngả nghiêng trong việc lựa chọn những phương hướng
mới đáp ứng với tình thế khách quan mới "
(27)
. Người khẳng định: Trong việc đó
không có cái gì là không thể thực hiện được nếu chúng ta nhận thức được và có quyết
tâm. " chúng ta sẽ học tập được cách làm công tác đó vơi tất cả nhiệt tình cách
mạng"
(28)
.
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội - cả lý luận và thực tiễn hiện nay
còn nhiều vấn đề chưa sáng tỏ. Nước ta lại phát triển trong điều kiện từ một nền sản
xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lại càng khó khăn
gian khổ hơn nhiều; đòi hỏi sự lãnh đạo sáng suốt, tìm tòi, sáng tạo của Đảng, sự nhất
trí và quyết tâm cao của toàn đảng, toàn dân thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
mới thành công. Hồ Chủ tịch đã dạy: "Khó thì khó thật, nhưng chúng ta quyết tâm;
chúng ta vừa làm vừa học thì nhất định chúng ta vượt qua hết thảy những khó khăn
đó"
(26)
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ sắc bén để thông qua đó Đảng thực hiện
sự lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội. Khác với nhà nước tư sản, nhà nước xã hội
chủ nghĩa, bản chất của nó là nhà nước của dân, do dân vì dân. Nhà nước giữ vị trí vai
trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống chính trị. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức
thể hiện tập trung quyền lực của nhân dân; thể hiện và thực hiện ý chí, nguyện vọng,
hưởng đến uy tín, đến vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước.
Hiện tượng này không gắn với bản chất của Đảng, nhưng trong điều kiện nền kinh tế
thị trường nguy cơ sa đoạ về phẩm chất là rất lớn. Điều này đòi hỏi kỷ luật của Đảng
phải thật nghiêm minh, pháp luật cảu Nhà nước phải chặt chẽ, cơ chế quản lý không
còn những kẻ hỡ, để kịp thời ngăn chặn và trừng trị những phần tử tiêu cực, thoái hoá
biến chất trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta đang tích cực tìm các
giải pháp khắc phục để làm trong sạch đội ngũ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân,
nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với toàn xã
hội. Đây là cuộc đấu tranh gian khổ, quyết liệt, và phức tạp; một thứ giặc "nội xâm"
như Bác hồ từng dạy. Thắng lợi trong cuộc đấu tranh này có ý nghĩa sống còn đối với
vai trò lãnh đạo của Đảng, và sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta
đã lựa chọn.
Khi có chính quyền, nhiệm vụ trung tâm của Đảng là xây dựng, sáng tạo, trước
hết trên lĩnh vực kinh tế. Cho nên phương pháp lãnh đạo của Đảng đã thay đổi căn
bản. Lê nin chỉ ra rằng: "Khi tình hình đã thay đổi và chúng ta phải giải quyết những
nhiệm vụ thuộc loại khác, thì không nên nhìn lại đằng sau và sử dụng những phương
pháp của ngày hôm qua"
(29)
. Lê nin nhắc nhở những người cộng sản: Ai muốn dùng
phương thức cũ trong cuộc đấu tranh giành chính quyền để giải quyết những nhiệm vụ
tổ chức thì người đó sẽ phá sản hoàn toàn với tính cách là người chính trị, là người xã
hội chủ nghĩa, "và chúng ta bắt tay vào nhiệm vụ xây dựng kinh tế của chúng ta trong
cơ sở kinh nghiệm của ngày hôm qua của ta, và chính đó là một điều sai lầm căn bản
của chúng ta"
(30)
.
Vì thế khi có chính quyền Đảng phải biết loại bỏ những phương pháp cũ không
hoàn toàn trước vận mệnh phát triển của dân tộc. Do vị trí quan trọng như vậy, cho
nên quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
ở Việt Nam, vị trí vai trò lãnh đạo của Đảng là do sứ mệnh lịch sử giao phó.
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cách mạng Việt Nam đứng trước sự khủng hoảng về
đường lối chính trị, thực chất là sự khủng hoảng về giai cấp tiên phong lãnh đạo cách
mạng. Giai cấp phong kiến mà đại diện là triều đình Nhà Nguyễn đã đầu hàng; phong
trào cần vương của các sĩ phu yêu nước đã thất bại, phong trào nông dân tuy oanh liệt
nhưng không thành công. Phong trào tư sản, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã
mau chóng thất bại. Đúng lúc đó, lịch sử trao sứ mệnh cho giai cấp công nhân Việt
Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời chấm dứt giai
đoạn bế tắc về đường lối cứu nước. Từ đây mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều
gắn liền với Đảng. Không có Đảng, dân tộc ta, nhân dân ta không thể thoát khỏi ách đô
hộ áp bức, bóc lột hàng ngàn năm phong kiến, đế quốc; không thể thoát khỏi sự bần
cùng, lạc hậu và nghèo khổ. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam từ
trước đến nay và từ nay về sau là một đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: " ở nước ta không có sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản thì không thể có độc lập dân tộc, không có quyền làm chủ thực sự
của nhân dân, không có Nhà nước của dân, do dân và vì dân, không thể có chủ nghĩa
xã hội. Lúc bình thường vài trò lãnh đạo của Đảng đã rất quan trọng, ở những bước
chuyển giai đoạn, vai trò đó lại càng quan trọng"
(7)
.
Khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với cách mạng Việt Nam,
hiện nay đó là vấn đề có tính quy luật có tính nguyên tắc. Buông lỏng sự lãnh đạo của
Đảng là sai lầm về nguyên tắc, là thủ tiêu sức mạnh của Nhà nước và của hệ thống
chính trị trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta có đủ trí tuệ và kinh nghiệm
lịch sử để bác bỏ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Sự sụp đổ của Liên xô và các
nước ta.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng; đồng
thời Đảng ta cũng không tránh khỏi thiếu sót, sai lầm, những giai đoạn "tròng trành"
trong lãnh đạo kinh tế xã hội, nhưng đã đứng vững, vượt qua khó khăn thử thách đưa
đất nước ta đạt được những thắng lợi quan trọng như ngày hôm nay.
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội của các đảng cộng sản (trong đó có Đảng ta) là
một quá trình. Suốt nhiều thập kỷ, các Đảng Liên Xô, Trung Quốc anh em đã coi chủ
nghĩa xã hội là một xã hội mà trong đó là nền kinh tế chỉ huy, tập trung bao cấp cao độ
với thành phần kinh tế thuần nhất là kinh tế quốc dân và kinh tế tập thể; không thừa
nhận kinh tế thị trường và quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Công cuộc xây dựng kinh tế ở
Liên xô giai đoạn đầu với phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa sâu rộng, nhân dân Liên
xô đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, đến đầu những năm 70 của thế
kỷ hai mươi, nền kinh tế - xã hội ở Liên xô đã bộc lộ những điểm yếu và ngày càng đi
vào khủng hoảng sâu sắc. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đã làm mất đi động lực
phát triển, làm tha hoá các giai cấp cơ bản trong xã hội như công nhân, nông
dân v v
Đảng ta là Đảng cầm quyền nằm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, là nước đi
sau, không thể không ảnh hưởng những quan điểm trên. Nhìn lại lịch sử thời kỳ cải tạo
và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thấy rõ những sai sót trong tư duy lý luận
và chỉ đạo của Đảng. Lúc đó đã có quan niệm sai lầm cho rằng: quan hệ sản xuất phải
đi trước một bước để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Nhận thức chủ quan
và nóng vội trên đây đã dẫn tới những hậu quả khôn lường. Hàng tiêu dùng ngày càng
khan hiếm, phải phân phối từ cái kim, sợi chỉ. Trong nông nghiệp, các hợp tác xã ngày
càng lụn bại, thu nhập của xã viên ngày càng thấp, người nông dân không muốn sản
xuất. Khi đánh giá nguyên nhân của sản xuất nông nghiệp đình trệ, Đảng lại cho là do
quy mô hợp tác xã còn nhỏ. Do đó đi tới chủ trương xây dựng nền sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa, xây dựng quy mô hợp tác xã toàn xã, xây dựng huyện thành "pháo đài cấp
chữa.
Văn kiện đại hội VI chủ rõ " , trong mười năm qua đã phạm nhiều sai lầm
trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo
xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế"
(8)
.
Nguyên nhân của tình trạng trên"do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng
đường, và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần
thiết. Đại hội lần thứ IV chưa xác định những mục tiêu cuả chặng đường đầu tiên.
Trong những năm 1976-1980, trên thực tế, chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công
nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế
quản lý đã lỗi thời"
(9)
.
Đại hội đã phân tích những sai lầm về bố trí cơ cấu kinh tế, về cải tạo xã hội chủ
nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế, về phân phối lưu thông.v v
Đại hội VI của Đảng, trước hết đổi mới về tư duy. Chúng ta đã nhận thức lại,
rằng: "Nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản vẫn chưa hết khả năng phát triển "
(10)
.
"Thời kỳ quá độ ở nước ta, do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ,
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải làm lâu dài và rất khó
khăn"
(11)
. Trong quan hệ sản xuất "phải có chính sách mở đường cho người lao động tự
tạo việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm tiêu
dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội"
(12)
. Về cơ chế quản lý,
nước tăng bình quân mỗi năm 7,56%. Nhờ vậy, đến cuối năm 2000 tổng sản phẩm
trong nước đã gấp 2,07 lần năm 1990, vượt mục tiêu tổng quát đã đề ra.
Một trong những thành tựu kinh tế lớn nhất trong 10 năm qua là phát triển nông
nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực. Đến nay vấn đề an toàn lương thực đã được
giải quyết, năm 2000 đạt 35,6 triệu tấn, tăng 14,1 triệu tấn so với năm 1990, bình quân
lương thực đầu người tăng từ 327,5kg năm 1990 lên 458,2 kg năm 2000. Diện tích cây
công nghiệp hàng năm năm 2000 đã đạt 808,7 nghìn ha, gấp 1,5 lần 1990. Diễn tích
cây ăn quả 541 nghìn ha gấp 1,9 lần. Diện tích cây công nghiệp lâu năm 1,4 triệu ha,
gấp 2,1 lần. Chăn nuôi năm 2000 tăng 75% so với 1990.
Sản xuất công nghiệp tốc độ tăng bình quân mỗi năm 13,6%. Tính theo giá trị
sản xuất thì quy mô sản xuất công nghiệp đã tăng gấp 3,6 lần năm 1990. Những sản
phẩm quan trọng như khai thác than đạt trên 10,8 triệu tấn, gấp 2,3 lần năm 1990; dầu
thô 16,3 triệu tấn, gấp 6 lần; điện 26,6 tỷ kwh, gấp 3 lần; xi măng 13,3 triệu tấn gấp
5,3 lần; thép cán 1,7 triệu tấn gấp 16,5 lần; phân hoá học 1,3 triệu tấn, gấp 3,7 lần
- Cơ cấu kinh tế từng bước được chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp
hoá hiện đại hoá. Cơ cấu ngành, đã giảm tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu vùng kinh tế càng bắt đầu có sự chuyển dịch theo
hướng hình thành các vùng động lực phát triển kinh tế, vùng chuyên canh và các khu
công nghiệp tập trung, khu chế xuất quy mô lớn. Cơ cấu các thành phần kinh tế phát
triển đa dạng, bao gồm 6 thành phần kinh tế.
- Quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế cơ bản hoàn thành, cho phép
chuyển sang giai đoạn hoàn thiện cơ chế mới theo chiều sâu.
- Đã thành công trong việc mở cửa, hội nhập quốc tế, phá thế bao vây, cấm vận
kinh tế và thương mại. Chúng ta thực hiện phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với
tất cả các nước". Sau nhiều năm thực hiện chính sách cấm vận và bao vây kinh tế
chống Việt Nam, ngày 11/7/1995 Mỹ đã tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao
với nước ta và ngày 12/7/1995 hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao. Ngày
thì chỉ số giáo dục của nước ta năm 1999 đứng thứ 92/174 nước, góp phần nâng chỉ số
phát triển con người 110/174 nước năm 1999, xếp trên nhiều năm trong khu vực như
ấn Độ, Pakistan, Myanma Bănglađét.
Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng có những tiến bộ đáng kể.
Số thầy thuốc (từ trung cấp trở lên) tính bình quân cho 1 vạn dân đã tăng từ 10,8 người
năm 1990 lên 11,7 người trong năm 1999, số bác sĩ bình quân 1 vạn dân cũng tăng từ
3,6 người lên 4,9 người.
Tuy kinh tế - xã hội còn có những yếu kém; nhưng rõ ràng dưới sự lãnh đạo của
Đảng nhân dân ta đã đạt được những thành tựu rất lớn; đưa nước ta ra khỏi thời kỳ
khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá -
hiện đại hoá, có bước tăng trưởng cao so với khu vực và quốc tế (chỉ đứng sau Trung
Quốc). An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; theo đánh giá của
người nước ngoài, nước ta là một trong những nước có ổn định xã hội và an toàn nhất
trên thế giới.
Vai trò và uy tín của Đảng ta được năng cao rõ rệt. Trong hệ thống xã hội chủ
nghĩa của chỉ có Trung Quốc và Việt Nam đổi mới thành công. Do sai lầm trong đổi
mới và nhiều vấn đề khác, Liên xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Cu Ba và Cộng hoà
dân chủ nhân dân Triều Tiên đang gặp những khó khăn. Như vậy không phải chỉ bỏ
bao cấp đi, thì tự nhiều đất nước sẽ đi lên. Sự lãnh đạo của Đảng, trước hết trong chủ
trương đường lối đúng, có bước đi và phương thức đổi mới phù hợp có vai trò quyết
định. Tập trung vào đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới chính trị xã hội. Để đổi mới
kinh tế thành công, trước hết phải đổi mới tư duy, đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới
công tác tổ chức cán bộ. Trong suốt thời kỳ quá độ, Đảng ta coi phát triển kinh tế là
nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
1.2. Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng.
1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và
của Đảng ta về vai trò tổ chức cơ sở Đảng.
Lãnh đạo thực hiện chính thức kinh tế mới, Lênin nhấn mạnh: Để giành được
thắng lợi trong bước chuyển có tính chất chiến lược này, các tổ chức cơ sở đảng phải
đem hết sức lực, đem hết chú ý để tạo ra, để phát huy tính chủ động, sáng tạo lớn hơn
nữa ở cơ sở. Lê nin nhiều lần nhấn mạnh: Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của đảng, là
đơn vị chiến đấu cơ bản, là tế bào trong tổ chức của đảng, hạt nhân chính trị của đảng
ở cơ sở và có mối liên hệ chặt chẽ, sâu rộng với quần chúng trong việc giải quyết các
vấn đề kinh tế - xã hội, đặt ra. Các tổ chức cơ sở vững mạnh thì các cấp bộ đảng mới
mạnh, toàn Đảng mới mạnh.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt
quan tâm công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng. Trong diễn văn bế mạc Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, thay mặt cho Đại hội và 50
vạn đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất mạnh: "Mỗi chi bộ phải là một hạt nhân
vững chắc, lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cầm kiện, xây dựng Nhà nước. Mỗi
cấp uỷ Đảng phải là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy phong trào cách mạng sôi nổi tiến
lên"
(21)
. Người còn nhấn mạnh: "Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo
quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng phát huy được
trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng"
(22)
.
Trong bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện, Chủ tịch Hồ
Chí Minh căn dặn cán bộ: Cần phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, chịu
khó đi sâu, đi sát cở sở để hiểu rõ tình hình sản xuất, đời sống của nhân dân, tình hình
các tổ chức đảng, chi bộ và các đoàn thể quần chúng mà có chủ trương, biện pháp cho
đúng, cho kịp thời.
thống tổ chức Đảng từ các chi bộ ở các cơ sở. Mỗi chi bộ cấp xã phường (khu phố), thị
trấn nhiều nhất không quá 50 đảng viên, xí nghiệp không quá 70 đảng viên. Nơi quá
đông đảng viên có thể thành lập đảng bộ cơ sở gồm nhiều chi bộ, đến huyện, tỉnh
thành, xứ, khu, hoặc liên khu và cấp Trung ương.
Trong Điều lệ Đảng, Đại hội II dành một chương nói về tổ chức cơ sở đảng với
tiêu đề: Chi bộ là nền tẳng tổ chức của Đảng. Tuy lúc này chưa dùng cụm từ "tổ chức
cơ sở Đảng" nhưng đã quy định. "ở những xã, xí nghiệp, khu phố mà có đảng viên quá
đông thì tuỳ theo quan hệ về kinh tế, địa dư và tuỳ theo số đảng viên và tổ chức ra
nhiều chi bộ" (Điều 24)
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức III, Đảng ta tiếp tục khẳng định những
nguyên tắc, quy định về hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV hệ thống tổ chức của Đảng được quy định:
Tổ chức cơ sở Đảng dưới 30 Đảng viên thì thành lập chi bộ, có chi uỷ. Tổ chức Đảng
có trên 30 đảng viên thì thành lập đảng bộ, có chi bộ trực thuộc.
Nơi nhiều đảng viên (xã, phường, xí nghiệp ) có thể thành lập Đảng uỷ bộ
phận trực thuộc Đảng uỷ cơ sở, là cấp trên của các chi bộ. Điều lệ Đảng ở Đại hội ghi
rõ. Hệ thống tổ chức của Đảng được xác định theo 4 cấp: Cơ sở (xã, phường, và tương
đương), huyện (quận), tỉnh (thành) và Trung ương. Đại hội VI và VII khẳng định rằng,
về cơ bản hệ thống tổ chức được lập theo đơn vị Nhà nước.
Điều 10 của Điều lệ Đảng do Đại hội VIII thông qua quy định về hệ thống tổ
chức Đảng được rút gọn như sau:
1. "Hệ thống tổ chức của Đảng được lập tương xứng với hệ thống tổ chức của
Nhà nước.
2. Tổ chức cơ sở đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp kinh tế
hoặc công tác đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh
3. Cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định lập hoặc giải thể đảng bộ, chi bộ trực
- Tổ chức cơ sở Đảng là nơi giáo dục, rèn luyện, sàng lọc đảng viên, nơi đào tạo
cán bộ cho Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng. Chất lượng đội ngũ cán bộ,
đảng viên của Đảng phụ thuộc một phần rất quan trọng ở chất lượng lãnh đạo của tổ
chức cơ sở đảng. Thực tiễn đã chứng minh: Việc giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên
của Đảng tốt hay không tốt, vấn đề kết nạp đảng viên có chất lượng hay không và đưa
những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi đảng đúng hay sai tất cả đều phụ
thuộc một phần rất quan trọng ở chất lượng lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng.
- Tổ chức cơ sở đảng còn là nơi thẩm định tính đúng đắn của đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nơi phản ánh tâm tư nguyện
vọng, những yêu cầu và kinh nghiệm của quần chúng được đề xuất với Đảng đặng góp
phần hoàn thiện đường lối, chính sách và tạo cơ sở để đường lối, chủ trương chính
sách của Đảng đi vào cuộc sống.
Như vậy, có thể nói sự tồn tại, phát triển, vững mạnh của các tổ chức cơ sở đảng
luôn luôn quyết định sự tồn tại, phát triển và vững mạnh của toàn Đảng, của chế độ xã
hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, việc chăm lo xây dựng củng cố các tổ chức cơ sở đảng
nói chung, các tổ chức đảng trong doanh nghiệp nói riêng là một yêu cầu khách quan,
là vấn đề then chốt, có ý nghĩa hết sức quan trọng, là trách nhiệm của toàn Đảng, của
các cấp uỷ các cấp.
1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng.
1.2.2.1. Chức năng
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng đã trở thành lực lượng lãnh đạo toàn
xã hội, tổ chức cơ sở đảng ở mọi loại hình, đều có chức năng là hạt nhân chính trị lãnh
đạo tại đơn vị, cơ sở và tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng.
- Là hạt nhân chính trị ở cơ sở:
Các tổ chức cơ sở đảng bảo đảm tính chất chính trị của sự lãnh đạo của Đảng
trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đơn vị cơ sở, vai trò đó thể hiện:
+ Tổ chức quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương, nghị quyết của
Đảng, chính sách của Nhà nước và cơ quan cấp trên cho phù hợp với đặc điểm của đơn
vị, đề ra phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ công tác, giải pháp thực hiện. Đồng thời
nắm vững và phản ánh tâm tư nguyện vọng, những yêu cầu chính đáng của quần