Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình - Pdf 39

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía Tây
Nam tỉnh Hòa Bình

Phạm Quang Tùng

Chuyên ngành Lâm sinh.
Mã số: 62.62.02.05.

Giáo viên hướng dẫn: GS.TSKH. Đặng Huy Huỳnh

2013


2
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan
trọng và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới. Với sự phát triển
nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn
yếu kém đã làm cho đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy thoái ngày càng nghiêm
trọng [11], [51], [59], [78]. Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại,
nhiều loài động thực vật bị đe dọa và nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ
yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý. Do đó, việc quản lý tài
nguyên và bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết và cấp bách [48], [60].
Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của ĐDSH, năm 1993
Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về bảo tồn ĐDSH. Năm 1995,

 Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp bộ số liệu đầy đủ nhất về ĐDSH của dải núi đá vôi phía Tây
Nam tỉnh Hòa Bình.
- Cung cấp số liệu hiện trạng ĐDSH, nguồn lực và nhân lực để quản lý,
bảo tồn ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất giải pháp phù hợp phục vụ việc quản lý dải núi đá vôi phía Tây
Nam tỉnh Hòa Bình.
 Ý nghĩa thực tiễn
- Tư liệu của luận án góp phần vào công tác quản lý, sử dụng, phát triển
bền vững tài nguyên ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình


4
- Làm cơ sở cho việc đề xuất các chính sách bảo tồn ĐDSH tại dải núi đá
vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình
4. Những đóng góp mới của luận án
- Lần đầu tiên có sự đánh giá tổng hợp về hiện trạng tài nguyên ĐDSH
tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình.
- Lập danh lục đầy đủ và hệ thống động vật và thực vật tại dải núi đá vôi
phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình.
- Cung cấp nhiều số liệu phân tích tình hình quản lý tại dải núi đá vôi
phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất mở rộng Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông thêm 3 xã Pù Bin,
Noong Luông, Vạn Mai thuộc huyện Mai Châu.
- Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn để tổ chức quản
lý, phát triển bền vững ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa
Bình.
5. Bố cục luận án
Luận án gồm 134 trang, 29 bảng, 8 hình, 36 ảnh màu, và được cấu trúc
thành 4 phần chính như sau: Đặt vấn đề (3 trang), Chương 1: Tổng quan (35

ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp [3].
Theo luật ĐDSH năm 2008, ĐDSH là sự phong phú về nguồn gen, các
loài sinh vật và HST trong tự nhiên [21].


6

ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên trái
đất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ Vi sinh vật, Nấm,
Thực vật, Động vật, các HST và môi trường chúng sinh sống.
ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con người trong phát triển kinh tế,
góp phần xóa đói, giảm nghèo…. Những giá trị trực tiếp đó là giá trị sử dụng,
tiêu thụ, và sản xuất ra các mặt hàng phục vụ nhu cầu của con người. ĐDSH và
cảnh quan là nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồn
nước, bảo vệ môi trường đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổi
khí hậu hiện nay [25], [37].
1.1.2. Bảo tồn ĐDSH
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con
người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ
hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.
Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH. Một số
phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các
dòng di truyền hay các sinh cảnh. Một số khác được sử dụng để sản xuất một
cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,…
[7], [8], [9], [10], [12], [84], [96]. Có thể phân chia các phương pháp và công cụ
thành các nhóm như sau:
- Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation):
Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo
vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên. Tùy
theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo

8

1.1.3. Quản lý ĐDSH
a. Khái niệm về quản lý ĐDSH
Quản lý ĐDSH là sự quan tâm, chăm sóc đối với TNTN, các HST, các loài và
nguồn tài nguyên di truyền ở một địa phương, một vùng, một lưu vực, những nơi
có giá trị cao về bảo tồn [7].
Quản lý ĐDSH là công việc cần thiết phải có sự tham gia của nhiều ngành:
Các nhà sinh vật học, kinh tế học, nhân chủng học, lâm nghiệp, nông nghiệp, các
nhà khoa học về biển…và được nhiều tổ chức quần chúng, các cấp chính quyền
cùng tham gia thì thành công sẽ đạt được kết quả vững chắc.
b. Các công ước về quản lý và bảo tồn ĐDSH


Công ước ĐDSH: là thành quả chính của Hội nghị Thượng đỉnh về Môi

trường tại Rio de Janiero vào năm 1992. Chính phủ Việt Nam đã ký Công ước
vào ngày 16/11/1994 và phê duyệt Kế hoạch Hành động ĐDSH quốc gia vào
tháng 12 năm 1995.


Công ước Ramsar về Đất ngập nước (ĐNN): ban đầu tập trung vào bảo

tồn và sử dụng khôn ngoan các khu ĐNN là sinh cảnh của các loài chim nước
quan trọng. Trọng tâm này ngày càng được mở rộng và hiện nay ĐNN được
xác định rõ ràng là HST rất quan trọng cho bảo tồn ĐDSH nói chung và cho sự
tồn tại của con người nói riêng. Công ước Ramsar đã bắt đầu được thực thi từ
năm 1975 và tính tới 04/04/2005, đã có 131 thành viên tham gia ký kết vào
Công ước và bảo vệ 1.150 khu ĐNN. Công ước này được bổ sung bằng một
Nghị định thư tại Paris năm 1982. Việt Nam đã tham gia vào Công ước này từ

đi đến một chương trình thực thi hành động, chia sẻ quyền lực và lợi ích, đồng
thời có trách nhiệm quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên. Người sử dụng tài


10

nguyên và các chính quyền địa phương cùng nhau đàm phán thỏa thuận đối
tượng nào? để làm gì? ở đâu? khi nào? bằng cách nào? và mất bao nhiêu? trên
một diện tích tài nguyên cụ thể được thực hiện và giám sát bởi chính những
người sử dụng tài nguyên [7].
Đồng quản lý là một biện pháp hiệu quả để duy trì và tăng cường chức năng
của rừng và đồng thời cung cấp sinh kế cho các cộng đồng địa phương. Để đồng
quản lý TNTN hiệu quả , điều chủ yếu là có sự hỗ trợ toàn diện của chính quyền tất
cả các cấp (tỉnh, huyện, xã), có sự tuân thủ quy tắc có “sự tham gia” và sự thỏa
thuận của tất cả các bên liên quan và ban quản trị nhiều thành phần.
1.2. Nghiên cứu về bảo tồn ĐDSH
1.2.1. Nghiên cứu quản lý và đề xuất giải pháp bảo tồn ĐDSH trên thế giới
a. Xác lập thứ bậc ƣu tiên bảo tồn trên phạm vi toàn cầu
Trên thực tế, các nguồn lực giành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, vì vậy để
phân bổ các nguồn lực một cách phù hợp và thiết thực, cần phải xác định được
thứ tự ưu tiên, xây dựng chiến lược và lập kế hoạch trong bảo tồn một cách hiệu
quả. Nhiều tổ chức phi Chính phủ (NGO) đã tham gia vào quá trình này nhằm
xác định được các khu vực mà họ muốn hướng các nguồn đầu tư của mình vào
đó [25], [75], [96], [97], có thể gộp thành 3 nhóm như sau:


Bảo tồn dựa trên các sinh cảnh đại diện: Hình thức này đã được một số tổ

chức bảo tồn như Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), tổ chức bảo tồn tự
nhiên (TNC),...sử dụng [25]. Trong đó, WWF đã xác định được 867 vùng sinh thái

Bảo tồn dựa trên tiêu chí về các mối đe dọa: để xác định các mức đe dọa

tối thiểu hoặc các vùng biệt lập, được Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã
Quốc tế (FFI) và Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) sử dụng [90].


12

b. Xác định các cảnh quan để bảo tồn
Thuật ngữ “cảnh quan” (landscape) mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy
theo mục đích cụ thể. Theo mục đích bảo tồn, thì cảnh quan có thể hiểu là: “Một
vùng đất rộng lớn bao gồm nhiều đặc trưng khác nhau và được xem như là kết
quả của một quá trình hình thành và biến đổi lâu dài” [100]. Đến nay vẫn chưa
có giải thích cụ thể nào về qui mô của cảnh quan, cũng như chưa có định nghĩa
nào về việc xác định ranh giới của cảnh quan. Tuy nhiên, các nhà qui hoạch bảo
tồn đã xác định ranh giới của cảnh quan dựa trên các yếu tố tự nhiên như: lưu
vực, vùng núi, ngọn núi, phạm vi phân bố của một loài hoặc nhóm loài [95].
Cho dù chưa có định nghĩa rõ ràng về cảnh quan, nhưng việc xác định các
cảnh quan trong ưu tiên bảo tồn đã giúp cho việc bảo vệ và duy trì các chức năng
sinh thái của nó, đồng thời giúp cho việc xác định và thực thi các chiến lược về
bảo tồn. Theo cách này, WWF (2004) đã đưa ra khái niệm về tầm nhìn ĐDSH
nhằm xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn trong phạm vi một vùng sinh thái.
WCS (2004) cũng đưa ra khái niệm về loài đại diện cho một vùng cảnh quan
nhằm bảo vệ các giá trị ĐDSH trong từng vùng [91].
c. Xác định các khu vực để triển khai các hoạt động bảo tồn
Bảo tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các KBT là ý tưởng đầu tiên
xuất hiện ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone ngày
01 tháng 03 năm 1872 [89].
Bảo tồn ngày càng được chú trọng, mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế
giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạo



14

Các phương thức tiếp cận nêu trên đều giống nhau trong việc nỗ lực tìm
kiếm một số giải pháp tối ưu để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trong
việc sử dụng các nguồn TNTN, mà những quyền lợi này có thể là giữa bảo tồn
và phát triển, giữa cộng đồng địa phương và một quốc gia, hoặc giữa các nhóm
người có liên quan trong xã hội. Điểm nổi bật trong các phương thức tiếp cận
này là nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương cũng như những nhóm người
trong xã hội có liên quan đến TNTN (những người hưởng lợi, những người bị tác
động). Các phương thức tiếp cận này đang được hình thành và phát triển nhằm
khắc phục những hạn chế trong cách quản lý áp đặt từ trên xuống theo cách quan
liêu bao cấp và đẩy mạnh cách thức quản lý TNTN từ dưới lên.
Những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìn
nhận vấn đề, điểm trung tâm là tính ưu tiên của các phương pháp cụ thể được
ứng dụng. Ví dụ: phương pháp tiếp cận hệ sinh thái quan tâm trước tiên là tính
toàn vẹn của HST và nhìn nhận con người là một bộ phận của HST. Vì vậy
muốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của phát
triển bền vững. Vì thế, phương pháp tiếp cận là làm sao tận dụng được mọi thế
mạnh của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ TNTN, để có thể chia sẻ lợi
ích một cách công bằng cho cộng đồng địa phương được quan tâm trước tiên,
nhưng tất nhiên đều phải gắn chặt với quyền lợi bảo tồn thiên nhiên để đảm bảo
sự hài hoà. Trong khi đó, phương pháp tiếp cận đồng quản lý có nhiều đặc điểm
giống với phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, nhưng mang ý nghĩa rộng
hơn, tức là quan tâm đến mọi đối tác, mọi nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp
liên quan đến tài nguyên, để đạt được mục đích là chia sẻ quyền lợi công bằng
đồng thời không làm suy thoái TNTN và bảo vệ ĐDSH.



2003), Việt Nam được xếp thứ 16 trong số các nước có ĐDSH cao nhất thế giới
[9]. Theo báo cáo quốc gia về ĐDSH Việt Nam năm 2011 thì hệ thực vật Việt
Nam đã ghi nhận 13.766 loài thực vật, trong đó có 11.373 loài thực vật bậc cao
có mạch, có 2256 chi, 305 họ chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 5%
tổng số họ thực vật trên thế giới, 2.393 loài thực vật bậc thấp chưa kể các nhóm
vi tảo ở nước [9], [58].
Về hệ động vật, ngoài các loài đặc hữu Việt Nam còn có nhưng loài động
vật mang tính chất hỗn hợp của hai khu hệ động vật Nam Trung Hoa và Ấn Độ,
Mã Lai [58], [60], [81]. Nhiều loài không những có giá trị cao về kinh tế, mà còn
có giá trị bảo tồn ở Việt Nam và thế giới, nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt
Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2012). Sự phong phú về thực vật và các hệ
sinh thái là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật. Việt Nam có đến 312 loài và
phân loài Thú, 840 loài Chim, 317 loài Bò sát, 167 loài Lưỡng cư, 7700 loài Côn
trùng, 547 loài Cá nước ngọt, 2038 loài Cá biển và 9300 loài Động vật không
xương sống [9], [57].
Tuy nhiên, Việt Nam cũng trong tình trạng chung của toàn cầu là ĐDSH đã
và đang bị đe dọa và có chiều hướng suy giảm mạnh. Nguyên nhân của sự mất
mát ĐDSH được xác định bao gồm hai yếu tố chính là do thiên tai và do tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp của con người [59], [80], [92]. Vì vậy, Việt Nam đã có
nhiều nỗ lực trong công tác nghiên cứu và quản lý bảo tồn ĐDSH, trong đó phải
kể đến các vấn đề quan trọng sau đây:


17

a. Sơ lược về tình hình nghiên cứu ĐDSH ở Việt Nam
Các nghiên cứu ĐDSH thường được bắt đầu bằng những nghiên cứu cơ bản
để có tiền đề xây dựng luận chứng kinh tế- kỹ thuật (LCKT) cho các KBT. Phần
lớn LCKT được xây dựng bởi các cơ quan chuyên môn, các Viện nghiên cứu,
các trường đại học như Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm

cách thể chế và luật pháp đã phát triển nhanh chóng với sự ra đời của các văn
bản pháp luật do nhà nước ban hành liên quan đến bảo tồn và sử dụng bền vững
tài nguyên ĐDSH như: Luật bảo vệ và phát triển rừng 1991 (được sửa đổi, bổ
sung năm 2004); Luật đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và
2003); Luật bảo vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005);
Luật thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, luật Đa dạng sinh học được Quốc hội
phê chuẩn tháng 11 năm 2008 [21]; Sách Đỏ Việt Nam lần đầu tiên được xuất
bản năm 1992 (tái bản có những điều chỉnh cập nhật vào năm 2000 và 2007)
[13].
Ngoài ra, trong phong trào chung và tính cấp bách của toàn cầu về bảo tồn
và phát triển bền vững, Việt Nam cũng đã tham gia ký kết nhiều công ước quốc
tế về môi trường có liên quan, đặc biệt là: Công ước Ramsar về đất ngập nước
(1975), công ước ĐDSH (1993) và Công ước CITES về buôn bán quốc tế các
loài động thực vật hoang dã nguy cấp (1994).
Trong giai đoạn 2005-2010, các quy hoạch, kế hoạch hành động Quốc gia
về bảo tồn ĐDSH đã được ban hành và tổ chức thực hiện như quy hoạch hệ thống
khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020, Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn


19

biển Việt Nam đến năm 2020 [20]. Đặc biệt là kế hoạch hành động Quốc gia về
ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2007 [13].
Bên cạnh đó, các ngành các cấp tiếp tục triển khai Chiến lược, Kế hoạch, chương
trình khác có liên quan đến bảo tồn ĐDSH được phê duyệt trước năm 2005 như
Chương trình nâng cao nhận thức bảo tồn ĐDSH đến năm 2010, Kế hoạch hành
động Quốc gia về tăng cường kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã đến
năm 2010, Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến
năm 2010 [10], Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –

trên cạn, 45 khu bảo tồn vùng nước nội địa, 16 khu bảo tồn biển phân bố trên tất
cả các vùng sinh thái trong cả nước, bao gồm 30 VQG, 58 khu Dự trữ Thiên
nhiên, 11 khu bảo tồn loài/sinh cảnh và 45 khu bảo vệ cảnh quan; các KBT trên
cạn (rừng đặc dụng) chiếm diện tích gần 2.198.744 ha, chiếm 13,5% diện tích tự
nhiên. Bên cạnh đó, đã có một số hình thức bảo tồn khác được công nhận gồm: 4
khu đất ngập nước Ramsar, 8 khu bảo tồn sinh quyển, 4 khu di sản thiên nhiên


21

ASEAN, 2 khu di sản thiên nhiên thế giới và đặc biệt Vịnh Hạ Long được công
nhận là 1 trong 7 Kỳ quan Thiên nhiên mới của thế giới [6], [98], [99].
Có thể nhận định rằng, việc thành lập hệ thống các KBT và VQG đã làm
cho công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam phần nào đáp ứng được mục đích bảo
tồn, vấn đề còn lại là thực hiện cho đúng tiến trình kèm theo đó là những thay
đổi, cải tiến về chính sách, thể chế trong quản lý và tất nhiên là để thực hiện tiến
trình này rất cần sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều tổ chức, cơ quan trong và ngoài
nước có liên quan [5].
Xây dựng và quản lý vùng đệm
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam mỗi khi xây dựng một khu
bảo tồn, người dân sống ở quanh hoặc trong KBT buộc phải hy sinh quyền lợi
riêng của mình, họ không được khai thác tài nguyên như trước vì lợi ích của quốc
gia và các thế hệ mai sau [24], [44], [59], [66]. Phần lớn các VQG và KBT đã và
đang được xây dựng thường nằm giữa khu vực có dân cư sinh sống nên chịu sức
ép hết sức nặng nề. Cộng đồng địa phương, những người sống trong, hay gần các
khu bảo tồn đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên các vùng đó,
cuộc sống của họ lệ thuộc phần lớn vào việc khai thác TNTN. Tuy nhiên, công
cuộc bảo tồn ngày nay thường bỏ qua những yêu cầu thiết yếu của họ và đồng
thời cũng ít lưu ý đến các giá trị văn hoá, các phong tục tập quán, những hiểu biết
của họ về thiên nhiên, về các loài mà họ rất quen thuộc, cách thức tổ chức bảo tồn

Việt Nam, Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam, trường Đại học Cần Thơ, Viện
cây Lương thực và Thực phẩm…


23

e. Quản lý hệ sinh thái đá vôi ở Việt Nam
Mặc dù Việt Nam đã và đang cố gắng trong việc đưa ra các giải pháp bảo
tồn ĐDSH nhưng sự suy thoái ĐDSH đáng lo ngại đặc biệt ở các vùng núi đá vôi
vẫn đang diễn ra rất mạnh. Thách thức lớn nhất mà HST đá vôi phải đối mặt đó là
diện tích rừng bị thu hẹp nhanh chóng, các loài bị suy giảm mạnh, nhiều loài có
nguy cơ diệt vong, diện tích rừng trên núi đá ngày càng giảm, nguồn sinh thủy bị
mất, nguồn nước bị cạn kiệt [31], [67]. Nhiều năm qua, Nhà nước đã hỗ trợ miền
núi bằng các chương trình 327, 135, chương trình nước sạch và vệ sinh môi
trường, chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng. Các chương trình này đều
nhằm góp phần cải thiện, nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc miền núi, qua
đó huy động được sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác bảo vệ và
phát triển rừng.
Hoàng Kim Ngũ (1990-1998) [49] đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh
vật học và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng
đàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật... trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc
Cạn. Hoàng Kim Ngũ đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ
thuật gây trồng các loài cây này ở các địa phương trên. Từ năm 1999 đã tiến hành
gây trồng thử nghiệm các loài cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác ở Cao
Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, do còn đang trong
thời gian thử nghiệm nên đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành
công của các mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc.
Khi nghiên cứu hệ sinh thái tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn Thanh
Nhàn [50] đã đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn hệ thực vật trên núi đá vôi:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status