Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THẾ DƯƠNG Tên đề tài :
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI CÂY MÃ ĐẬU
LINH QUẢNG TÂY (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang)
LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
LOÀI TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC
TỈNH BẮC KẠN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoa : Lâm Nghiệp
Khóa học : 2010 -2014

Khóa học : 2010 -2014
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Tuyên
Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thái Nguyên, năm 2014 LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, tôi đã trang bị cho mình kiến thức cơ bản về chuyên môn dưới sự giảng
dạy và chỉ bảo tận tình của toàn thể thầy cô giáo. Để củng cố lại những khiến thức
đã học cũng như làm quen với công việc ngoài thực tế thì việc thực tập tốt nghiệp là
một giai đoạn rất quan trọng, tạo điều kiện cho sinh viên cọ sát với thực tế nhằm
củng cố lại kiến thức đã tích lũy được trong nhà trường đồng thời nâng cao tư duy
hệ thống lý luận để nghiên cứu ứng dụng một cách có hiệu quả những tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, ban
chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Th.S La
Quang Độ và Th.S Nguyễn Thị Tuyên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu
một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia
kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và
phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc Tỉnh Bắc Kạn ”
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của cô
giáo Th.S Nguyễn Thị Tuyên và các thầy cô giáo trong khoa cùng với sự phối hợp
giúp đỡ của các ban ngành lãnh đạo khu bảo tồn Nam Xuân Lạc và người dân hai
xã: Bản Thi và Xuân Lạc tôi đã hoàn thành khóa luận đúng thời hạn. Qua đây tôi

LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
ÔDB : Ô dạng bản
ÔTC : Ô tiêu chuẩn
STT : Số thứ tự
VQG : Vườn quốc gia
MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích 3
1.3. Mục tiêu 3
1.4. Ý nghĩa của khóa luận 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu 4
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 5
2.2.1. Trên thế giới 5
2.2.2. Ở Việt Nam 9
2.3. Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của khu vực nghiên cứu 16
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 16
2.3.1.1. Vị trí địa lý 16
2.3.1.2. Điều kiện khí hậu, thủy văn 16
2.3.1.3. Đặc điểm địa hình 17
2.3.1.4. Đặc điểm hệ động thực vật 17
2.3.2. Tình hình dân cư kinh tế Khu bảo tồn nằm trên địa bàn của xã Xuân Lạc và
xã Bản Thi với tổng số 986 hộ, 4750 khẩu, phần lớn là đồng bào Dao và Tày 18

4.3 Một số đặc điểm sinh thái của loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây . 32
4.3.1.Các loài cây đi kèm 32
4.3.2. Đặc điểm về tái sinh của loài 33
4.3.3. Đặc điểm cây bụi, dây leo và thảm tươi nơi có loài phân bố 34
4.3.6. Đặc điểm đất nơi loài cây nghiên cứu phân bố 35
4.4 Đặc điểm phân bố của loài Mã Đậu Linh Quảng Tây. 35
4.4.1 Đặc điểm phân bố trong các trạng thái rừng 35
4.4.2.Đặc điểm phân bố theo độ cao 36
4.5 Sự tác động của con người đến khu vực nghiên cứu. 36 4.6 Đề xuất một số biện pháp phát triển và bảo tồn loài cây Mã Đậu Linh
Quảng Tây . 39
4.6.1. Đề xuất biện pháp bảo tồn 39
4.6.2. Đề xuất biện pháp phát triển loài 40
Phần 5 KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 41
5.1. Kết luận 41
5.2. Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
I. Các tài liệu trong nước : 43
II. Tiếng Anh 44
III. Các cổng thông tin điện tử 44
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi 18
Bảng 4.1 . Thống kê Sự hiểu biết của người dân về loài cây Mã Đậu Linh
Quảng Tây 28
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của trái đất nói chung và của
mỗi quốc gia nói riêng. Ngoài chức năng cung cấp những lâm sản phục vụ nhu cầu của
con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường và rừng là nơi lưu giữ các nguồn
gen động thực vật, phục vụ cho cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp. Rừng có
được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH). ĐDSH là một trong
những nguồn tài nguyên quí giá nhất, vì nó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng và
tiến hoá bền vững của các loài sinh vật trên hành tinh chúng ta. Nhưng hiện nay dân số
thế giới tăng, nhu cầu về lâm sản tăng dẫn đến khai thác rừng quá mức và không khoa
học làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm ĐDSH. Chính
vì vậy loài người đã, đang và sẽ phải đứng trước một thử thách, đó là sự suy giảm về
ĐDSH dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trường kéo theo là những thảm
họa như lũ lụt, hạn hán, lở đất, gió bão, cháy rừng, ô nhiễm môi trường sống, các căn
bệnh hiểm nghèo…xuất hiện ngày càng nhiều. Tất cả các thảm họa đó là hậu quả, một
cách trực tiếp hay gián tiếp của việc suy giảm ĐDSH.
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông
Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều
nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10
quốc gia ở Châu Á có tính đa ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố.
Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng
do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc
chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch, chiến
tranh,… Theo số liệu mà Maurand P. công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông
Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ
che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ. Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943

giữ những nguồn gen và các loài động thực vật có giá trị, đặc biệt loài cây Mã Đậu
Linh Quảng Tây. Để tìm hiểu một số loài thực vật quý hiếm đó tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã đậu linh Quảng
Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện
pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc
Tỉnh Bắc Kạn ”. 3
1.2. Mục đích
Dựa trên cơ sở điều tra nghiên cứu đặc điểm sinh thái và sự bố của loài cây
Mã Đậu Linh Quảng Tây làm cơ sở để đề xuất một số biện pháp nhằm bảo vệ loài
cây này và bảo tồn nguồn gen loài thực vật quý hiếm còn tồn tại trong KBT.
1.3. Mục tiêu
- Tìm hiểu được đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân địa phương
về loài Mã Đậu Linh Quảng Tây trong khu vực nghiên cứu.
- Xác định được một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Mã
Đậu Linh Quảng Tây.
- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc Mã
đậu linh Quảng Tây, một trong những loài cây thuốc quý hiếm có trong KBT .
1.4. Ý nghĩa của khóa luận
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Việc nghiên cứu giúp tôi củng cố lại và bổ sung thêm kiến thức đã học. Qua đó
giúp tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thấy được sự đa dạng của các loài thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu,
và sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua.
Đưa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn loài cây thuốc Mã Đậu Linh cùng các
loài thực vật quý hiếm khác tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
- Đây là tài liệu tham khảo cho những người có nhu cầu tìm hiểu về các vấn

Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân hạng
chính sau:
+ Cực kì nguy cấp (CR)
+ Nguy cấp (EN) 5
+ Sắp nguy cấp (VU)
Nhóm các loài ít nguy cấp:
+ Ít nguy cấp: (LR)
- Phụ thuộc bảo tồn: (LR/cd)
- Sắp bị đe dọa: (LR/nt)
- Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc)
+Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD)
+ Không đánh giá: Not Evaluated (NE)
Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban
hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP) [9]. Nghị định quy định các loài động, thực
vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính:
+IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục
đích thương mại (IA đối với thực vật rừng).
+IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích
thương mại (IIA đối với thực vật rừng).
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại KBTL&SCNXL huyện Chợ
Đồn tỉnh Bắc Kạn có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN
và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng
sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, một trong những loài thực vật
cần được bảo tồn là loài cây thuốc quý hiếm Mã đậu linh Quảng Tây tại KBT, đây là
cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận.
Đối với bất kỳ công tác bảo tồn một loài động thực vật nào đó thì việc đi tìm hiểu
kỹ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất. Ở KBT loài và sinh

quản. Hiện nay Philippines, Thái Lan, Trung Quốc đã cấp giấy phép sử dụng đất cho
các cá nhân theo các chương trình lâm nghiệp xã hội.Các tổ chức hợp tác bảo vệ
rừng như chương trình hợp tác của TFAP (Tropical Forestry Action Plan), kế hoạch
hành động bảo vệ rừng nhiệt đới và ITTA, Hiệp ước quốc tế về gỗ nhiệt đới. Các
công ước quốc tế đã được ký kết nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn
đa dạng sinh học như: Công ước Cites 1973, IUCN (International Union for
Conservation of Nature and Natural Resources) - liên minh quốc tế về bảo tồn
nguồn tài nguyên thiên nhiên.Nghị định Thư Montreal về các chất làm suy giảm 7
tầng Ozon (1987). Tháng 9 năm 1991, hội nghị lâm nghiệp thế giới lần thứ X tại
Pari đã vạch ra chiến lược toàn cầu hóa về bảo vệ rừng.
Năm 1991, Hiệp hội thế giới về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) và quỹ bảo vệ
động vật hoang dã (WWF) đã đưa ra đề xuất tăng diện tích rừng được bảo vệ lên
10% vào thế kỷ XXI. Những công ước quốc tế đã được kí kết nhằm mục đích bảo
vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới như: Công ước bảo vệ
di sản văn hóa thế giới (1973), công ước về buôn bán các loài đang có nguy cơ tuyệt
chủng (Công ước Cites, 1973) công ước bảo vệ các vùng đất ướt Ramar, Nghị định
thư montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozone (1987), ngày 5/6/1992 Công ước
đa dạng sinh học được kí kết và có 170 nước tham gia.
Hệ thống AGP III là một hệ thống phân loại thực vật đối với thực vật có
hoa hiện đại. Nó được Angiosperm Phylogeny Group (APG) công bố tháng 10 năm
2009 trong Botanical Journal of the Linnean Society (Tạp chí thực vật học của Hiệp
hội Linnaeus). Cho biết đã đưa họ Mộc Hương (danh pháp khoa học:
Aristolochiaceae ) vào trong bộ Hồ Tiêu ( Piperales ), nhưng việc đưa họ này vào
trong bộ riêng của chính nó là bộ Mộc Hương Nam (Aristochiales) vẫn còn rất phổ
biến, mặc dù điều này đã lỗi thời. Họ Aristolochiaceae là một nhóm thực vật hai lá
mầm cơ sở (thực vật hai lá mầm cổ). Nó có quan hệ họ hàng gần với các bộ
Magnoliales, Laurales, Canellales và Piperales, chúng tạo thành một nhánh đơn

Trên thế giới các nghiên cứu về cây dây leo Mã đậu linh Quảng Tây chưa có
nhiều. Do đây là loài đặc hữu chỉ thấy mọc ở Nam Trung Quốc (Quảng Tây) và Bắc Việt
Nam.
Mô tả đặc điểm từ thực vật của Trung Quốc: Aristolochia kwangsiensis là
cây bụi leo núi. Bắt nguồn terete, cắm nông striate, đông bụi vàng đế xồm xoàm
nâu. Cuống 6 – 15 cm, mật độ xồm xoàm; lá lưỡi giống hình trái tim đế hình cầu,
11-13 x 9-32 cm, mỏng như giấy, cả hai bề mặt vừa phải để đông xồm xoàm, tĩnh
mạch palmate, 2 cặp từ cơ sở, cơ sở giống hình trái tim hoặc auriculate, xoang sâu
3-5 cm, đỉnh tù hoặc cấp xồm xoàm; bractlets giống hình cây giùi, 3-6 mm. Đài hoa
chân tay màu tím sấm, cố họng màu vàng, 4-5 cm; ống hình móng ngựa, abaxially
đông xồm xàm; phần cơ bản của ống 20-35 x 3-10 mm; chi dạng đĩa suborbicular,
3,5-4,5 cm đường kính, rõ ràng 3 thùy; thùy rộng cơ delta, Bao phấn thuôn dài, ca. 2 9
mm. Gynostemium 3 thùy. Viên nag hình trụ, 8-10 x 2 cm, dehiscing baripetally.
Hạt hình trứng, 5 x 4 mm. Fl. Mar-May, fr. Aug-Tháng chín.
Aristolochia austroszechuanica được bao gồm ở đây trên cơ sở protologue;
tiếp tục nghiên cứu là cần thiết để làm rõ vị trí và tình trạng của nó.
* Rừng trên sườn núi; 600-1600 m. phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý
Châu, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Chiết Giang.
Trích dẫn: Bách khoa toàn thư tập 3 (NXB nhân dân Bắc Kinh )[19]
2.2.2. Ở Việt Nam
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của vùng
Đông Nam Á, nhiều nhà khoa học đã nhận định rằng rừng Việt Nam là một trong
top 10 quốc gia châu Á có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Việt Nam được
thế giới công nhận là 1/16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao, trong
đó có hệ động thực vật hoang dã điển hình của rừng nhiệt đới.
Trên thực tế, việc bảo tồn, bảo vệ rừng đặc dụng là đóng góp tích cực của
Việt Nam đối với việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trên toàn cầu, nhưng

dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan,
20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 KBT biển chứa đựng các hệ sinh thái,
cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh cao, với diện tích trên 2,26 triệu ha, đại diện
cho hầu hết các hệ sinh thái quan trọng trên cạn, đất ngập nước và trên biển (Tổ chức Bảo
tồn Thiên nhiên Quốc tế - IUCN Việt Nam (2008),Cục kiểm lâm và viện điều tra quy
hoạch rừng) [13].
KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc theo đánh giá của WWF Chương trình
Việt Nam 2008. (Bộ Công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam WWF
Chương trình Việt Nam, 2008)[15]. Đáp ứng đầy đủ các tiêu chí cho KBT có giá trị
bảo tồn cao liên quan đến việc duy trì đa dạng sinh học ở mức độ loài. Có ba tiêu trí
mà Bộ Công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam đã đề ra: (1) Là khu
rừng đặc dụng, (2) Có nhiều loài bị đe dọa và nguy cấp, (3) Có các loài đặc hữu.
Các mối đe dọa đối với tài nguyên thực vật hiện nay là rất lớn không loại trừ
các KBT và VQG. Để đánh giá mức độ tác động của con người đã có nhiều tài liệu
đã đề cập tới. Bộ Công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam đã khuyến
cáo nên đánh giá theo các tiêu chí chính sau:
- Mất loài, thay đổi quần xã.
- Mất rừng, tình trạng manh mún. 11
- Tăng độ lắng đọng trầm tích, tần suất hạn hán nhiều hơn.
- Sản lượng lâm sản ngoài gỗ giảm sút
- Mất đi những địa điểm có tầm quan trọng
Chương trình hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội, 2000, Bài giảng Bảo tồn đa dạng
sinh học đã đưa ra con người có thể gây nên các tác động ngắn hạn hoặc dài hạn.
Tác động tức thời như chăn thả quá mức có thể làm mất nguồn thức ăn cho động vật
hoang dã. Tác động lâu dài làm mất đi sự tái sinh tự nhiên của các loài cây thân gỗ
và lau sậy chiếm ưu thế. Cũng như đối với các dạng điều tra khác, điều quan trọng
là chúng ta phải hiểu sâu sắc các mục tiêu đánh giá tác động của con người và vật

đang bị khai thác nhiều chỉ còn lại số lượng ít, hy vọng sau kết quả nghiên cứu này,
nhiều loài cây khác cũng sẽ được nghiên cứu và bảo tồn[17].
Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của các loài thực vật bản địa hoang
dại hữu ích, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Lecomte - một nhà nghiên cứu của
Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích có giá
trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam [16].
Đỗ Tất Lợi (1991) [7] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - tái
bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật bảm địa hoang dại hữu ích
làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay. Theo Hà Thu Chử (1996)[8] tới nay
Việt Nam đã thống kê được 5 chi và 30 loài cây song bao gồm: Chi mây nếp
(Calamus) có 19 loài và 1 loài phụ; chi hèo (Daemonrops) có 4 loài; chi phướn
(Korthalsia) có 2 loài; chi mây rúp (Myriapis) có 1 loài; chi song lá bạc
(Plectocomia) có 2 loài và chi song voi (Plecomomiopsis) có 1 loài. Ngoài ra tác giả
và các cộng sự [8] đã đưa ra định nghĩa, phân loại các loài thực vật bản địa hoang
dại hữu ích, giới thiệu về một số nhóm các loài thực vật bản địa dại hữu ích có giá
trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý các loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích,
những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển các loài thực vật bản địa hoang
dại hữu ích
Theo Triệu Văn Hùng và cộng sự (2007) [12] ở Việt Nam có thể có đến 200
loài tre trúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giảm định tên, trong
đó có rất nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển.
24 Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bổ, đặc điểm hình thái,
sinh thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất.
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) [10] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh
thái phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm
trúc và Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc. 13
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [12], đã mô tả hình thái, phân

nách lá. Hoa có cuống, cả cuống và bao hoa cong hình chứ “S”, ống bao hoa màu 14
xanh nhạt, dài đến 7,5 cm.phần lớn nhất ở chỗ hình cong có đường kính khoảng 1,4
cm, các thùy của ống hình tam giác, mặt tím hồng, mặt trên có các gai nổi màu hồng
đậm, họng ống tròn màu vàng. Nhị 6. Bầu 6 ô, vòi nhụy 6. Quả màu nâu vàng, gần
giống hình trụ tròn, dài 8-10 cm, có 6 cạnh lồi, đỉnh có đuôi dài khoảng 3mm. Hạt
hình trứng màu nâu, cỡ 5 x 4, mặt hơi lõm. Mã đậu linh Quảng Tây - Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang
1. Cành mang lá ; 2. Hoa ; 3. Quả
(hình theo SĐVN, 1996)
Sinh học và sinh thái: Ra hoa vào tháng 5, mùa quả tháng 6 - 9. Cây tái sinh
chồi ở thân vào mùa xuân. Chữa rõ khả năng trồng bằng hạt. Cây ưa sáng và có thể
chịu bóng; mọc rải rác trên đất lẫn đá, ở rừng thứ sinh, thưa, ở độ cao tới 1000 m.
Phân bố:
- Trong nước: Hà Giang (Mèo Vạc), Cao Bằng (Thạch An), Lạng Sơn (Cao
Lộc, Đồng Đăng), Hải Phòng (Cát Bà).
- Thế giới: Trung Quốc.
Giá trị: Loài quý hiếm, rễ củ làm thuốc chữa đau bụng thổ tả, đau xương,
đau gân, bệnh viêm gan, mật. 15
Tình trạng: Loài đã từng bị khai thác lấy nguyên liệu làm thuốc. Trong các
điểm phân bố trước đây, tại Thạch An (Cao Bằng) nay không còn tìm lại được. Khu
phân bố chia cắt xa nhau, bị tàn phá nghiêm trọng.
Phân hạng: EN A1c,d

Cây Mã đậu linh Quảng Tây hiên mới phát hiện tại KBT loài và sinh cảnh
Nam Xuân Lạc hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu bảo vệ loài cây tại
khu vực này. Chính vì vậy, để bảo loài cây quý hiếm này cần phải có kế hoạch
đầu tư khoa học và công nghệ để khảo sát, đánh giá, và bảo vệ cây Mã đậu linh
Quảng Tây để nguồn lợi trên mang lại lợi ích về kinh tế và đồng thời góp phần
gìn giữ một nguồn gen cây rừng quý hiếm một cách chủ động và tích cực.
2.3. Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.3.1.1. Vị trí địa lý
KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc có diện tích là: 1.788 ha, diện tích
vùng đệm 7.508ha. Diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 92% tổng diện tích KBT,
diện tích rừng ở đây chủ yếu nằm trên núi đá. KBT Loài và sinh cảnh Nam Xuân
Lạc nằm chủ yếu trên địa phận các xã Bản Thi, Xuân Lạc, Đồng lạc huyện Chợ Đồn
tỉnh Bắc Kạn, có tọa độ địa lý 220
o
17’-22
o
19’ và 105
o
28’-105
o
33’E.
- Phía Bắc giáp thôn Bản Eng và Bản Tưn xã Xuân Lạc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn.
- Phía Tây giáp xã Thanh Tương và Vĩnh Yên huyện Na Hang, tỉnh tuyên Quang.
- Phía Đông giáp Thôn Cốc Tộc xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Phía Nam giáp thôn Phia Khao, thôn Khuổi Kẹn xã Bản Thi - Chợ Đồn - Bắc Kạn.
KBT cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng huyện Chợ Đồn 35km về phía Bắc, giao
thông đi lại khó khăn. Đây là khu rừng còn tương đối nguyên vẹn với hệ sinh thái đa dạng,
phong phú và nối liền với KBT thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang). KBT nằm trên diện
tích của xã Xuân Lạc và giáp với xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status