phân tích ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và tác động tới môi trường tại đà lạt - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------

BÁO CÁO
THỰC TẬP KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

PHÂN TÍCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG
TẠI ĐÀ LẠT

GVHD: PGS.TS Đặng Thanh Hà
SVTH: Nhóm 2

Thành phố Hồ chí Minh
Tháng 5/2016
1


DANH SÁCH NHÓM 2
STT
1

Họ lót
Nguyễn Hướng

Tên
Dương

MSSV
13120172


Phạm Minh

Tuyên

13120453

9

Đặng Thị Lệ

Huyền

13120223

10

Nguyễn Như

Phương

13120345

11

Trịnh Thị Thanh

Quyên

13120355


13120505

16

Đặng Trí

Tài

13120365

17

Trần Trung

Điển

13120185

18

Lê Bảo

Vy

13120479

19

Bùi Thị Minh


2


Nội dung

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài “Phân tích ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông
nghiệp và tác động tới môi trường tại Đà Lạt” trong đợt thực tập chuyên ngành, chúng em
đã được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của quý thầy, cùng với sự nhiệt tình, thân thiện
của người dân tại Đà Lạt, nhất là người dân tại làng hoa Vạn Thành.
Chúng em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy đã tận tâm, nhiệt tình truyền đạt kiến thức
và nhắc nhở những sai sót trong quá trình thực tập. Đặc biệt, nhóm chúng em xin gửi lời
cảm ơn chân thành đến thầy Đặng Thanh Hà - giáo viên hướng dẫn nhóm, thầy đã nhiệt
tình giúp đỡ, hướng dẫn cả nhóm về quy trình làm việc, thu thập số liệu và luôn động viên
cả nhóm cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chúng em xin cảm ơn thầy.
Xin gửi lời cảm ơn đến tập thể nhóm, mọi người đã luôn đoàn kết, nỗ lực để cả nhóm
có thể làm việc tốt trong quá trình thực tập đầu tiên.
Đây là lần thực tập chuyên ngành đầu tiên của các bạn trong lớp nói chung và của
nhóm chúng em nói riêng, nên trong quá trình thực tập và hoàn thành đề tài không tránh
được sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy và các bạn. Xin chân thành cám
ơn.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2016

3


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ



Khoa Học – Công Nghệ
DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Hình ảnh tại làng hoa Vạn Thành............................................................46
Phụ lục 2. Mẫu câu hỏi điều tra................................................................................47

5


6


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1.

Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây nền kinh tế ở Việt Nam đang trên đà phát

triển, không chỉ ở những ngành công nghiệp, dịch vụ mà còn ở ngành nông
nghiệp. Hơn nữa, nước ta là một nước nông nghiệp, do đó việc phát triển
nông nghiệp là một việc mang tính chiến lược và áp dụng lâu dài, đặc biệt là
việc sử dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất và
nuôi trồng.
Nông nghiệp công nghệ cao là một khái niệm đã không còn xa lạ trong
thời gian gần đây. Nông nghiệp công nghệ cao áp dụng những công nghệ mới
vào sản xuất bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu
của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu
mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất

nông nghiệp đem lại lợi ích rất lớn trong việc phát huy cao độ tiềm năng năng
suất, chất lượng của giống, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho các sản
phẩm nông nghiệp, giá thành hạ, hiệu quả kinh tế, đảm bảo môi trường sinh
thái. Đây cũng là xu thế hội nhập mà chúng ta phải đi theo.Tuy nhiên phải
phù hợp với điều kiện của Việt nam cả về tự nhiên, kinh tế xã hội, môi
trường.
Hiện nay, Lâm Đồng là một địa phương dẫn đầu trong cả nước về khả
năng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ở Đà
Lạt, nơi hội tụ những điều kiện cần và đủ cho khu công nghệ cao trong nông
nghiệp hoạt động có hiệu quả cao nhất. Ở thành phố Đà Lạt có nhiều vùng
chuyên canh sản xuất hoa phục vụ cho thị trường nội địa. Đà Lạt hiện có 3
làng hoa lớn nhất là làng hoa Vạn Thành, làng hoa Hà Đông và làng hoa Thái
Phiên . Trong đó, làng hoa nơi nhóm tiến hành nghiên cứu đã có những bước
tiến bộ trong việc áp dụng công nghệ cao vào sản xuất cũng như phân phối
sản phẩm ra thị trường, để giúp người dân quen thuộc hơn và hiểu rõ lợi ích
của việc áp dụng công nghệ cao trong sản xuất, nhóm đã thực hiện đề tài
“Phân tích ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và tác
động tới môi trường tại Đà Lạt”.
8


1.2.Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung

Đánh giá tính hiệu quả của mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nền nông nghiệp
nước ta nói chung và thành phố Đà Lạt nói riêng. Từ đó định hướng phát triển mô hình
ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất một cách bền vững trong nền nông nghiệp nhằm
nâng cao chất lượng, năng suất và giảm thiểu các tổn hại đến môi trường, sức khỏe con
người.
1.2.2. Mục tiêu cụ thế

 Nghiên cứu được thực hiện tại làng hoa Vạn Thành, thành phố Đà Lạt.
 Số lượng mẫu thu thập được: 70 mẫu

10


Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
2.2. Tổng quan về Lâm Đồng
2.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Lâm Đồng thuộc Nam Tây Nguyên, có tọa độ địa lý từ 11˚12’- 12˚15’ vĩ độ Bắc
và 107˚45’ kinh độ đông.
Phía Bắc giáp với tỉnh Đắk Lắk
Phía Đông-Bắc giáp với tỉnh Khánh Hòa
Phía Đông giáp với tỉnh Ninh Thuận
Phía Tây giáp Đắk Nông
Phía Tây-Nam giáp tỉnh Đồng Nai và Bình Phước
Phía Nam và Đông nam giáp tỉnh Bình Thuận

Hình 2.1.Bản đồ hành chính tỉnh Lâm Đồng
*Địa hình
11


Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là
Bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ Bằng phẳng đã tạo nên
những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật... và những cảnh
quan kỳ thú cho Lâm Đồng.

hóm đất xám (acrisols), nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols), nhóm đất xói mòn mạnh
(leptosols)
Đất có độ dốc dưới 25o chiếm trên 50%, đất dốc trên 25 o chiếm gần 50%. Chất lượng
đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất có khả
năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000 ha đất Bazan tập trung ở cao nguyên Bảo
Lộc Di Linh thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như
cà phê, chè, dâu tằm. Diện tích trồng chè và cà phê khoảng 145.000 ha, tập trung chủ yếu
ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha tập
trung tại Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng; chè, cà phê, rau, hoa ở Lâm Đồng đa dạng về
chủng loại, có những loại giá trị phẩm cấp cao. Đất có khả năng nông nghiệp còn lại tuy
diện tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng khai thác thấp vì Bị úng
ngập hoặc Bị khô hạn, tầng đất mỏng có đá lộ đầu hoặc kết vón, độ màu mỡ thấp, hệ số sử
dụng không cao... Trong diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng chiếm 60%, còn lại là đất
trồng đồi trọc (khoảng 40%).
*Thủy văn
Nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá
dày đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng.
Sông suối trên địa Bàn Lâm Đồng phân Bố khá đồng đều, phần lớn sông suối chảy từ
hướng đông Bắc xuống tây nam, hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và
có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn.
Ba con sông chính là: Đa Dâng, Đa Nhim, La Ngà.
Một số sông khác: Đa Queyon, Đạ Huoai, Đạ Tẻh...
Lâm Đồng có nhiều hồ: hồ Đơn Dương, Đan Kia - Suối Vàng, Xuân Hương, Đa
Thiện, Than Thở, Tuyền Lâm, Đạ Tẻh...
Trên địa Bàn của tỉnh đã phát hiện được một số nguồn nước khoáng như Gougah
(huyện Đức Trọng), Đạ Long (Lạc Dương), Trại Mát...
Nguồn nước sinh hoạt chính được dẫn về từ hồ Dankia. Hồ Dankia và hồ Suối Vàng
(Ankroet) ở phía Tây Bắc Đà Lạt có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt của cư dân thành phố.
Hồ Dankia có diện tích lưu vực khoảng 141 km 2, lượng nước Bình quân chảy vào hồ trên
dưới 4,1 m3/s. Lượng nước trung Bình lấy cho sinh hoạt vào khoảng 0,46 m 3/s. Hồ Suối

tăng 9,75%; khu vực II đạt 5.696,9 tỷ đồng, tăng 9,97%; khu vực III đạt 9.280,1 tỷ
đồng, tăng 12,54%; Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 1.053,1
tỷ đồng, tăng 12,67% so cùng kỳ. Do trong 6 tháng đầu năm đối với ngành nông
nghiệp chủ yếu là cây hàng năm như rau, hoa…không tính sản phẩm chủ lực của địa
phương là cà phê nên cơ cấu kinh tế có khác với cơ cấu cả năm là khu vực III chiếm
14


cao nhất 43,37%, tiếp đến khu vực I chiếm 30,01% và khu vực II chiếm 26,62%
(Thông thường cơ cấu cả năm là khu vực I, khu vực III, khu vực II).
Về hoạt động tài chính, tín dụng
Trong 6 tháng đầu năm 2015, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ đầu
năm đến ngày 15/6/2015 đạt 1.837,5 tỷ đồng, bằng 26,25% so dự toán, giảm 2,66% so
cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương từ đầu năm đến ngày 15/6/2015 đạt
6.870,9 tỷ đồng, bằng 65,06% so dự toán, tăng 1,75% so cùng kỳ. Kho bạc nhà nước
tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phối hợp với các cơ quan thu trên địa bàn tổ chức thu nộp các
nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí vào quỹ ngân sách nhà nước kịp thời, chính xác, phân
cấp ngân sách đúng tỷ lệ quy định. Bên cạnh đó, Kho bạc nhà nước Lâm Đồng cũng đã
quan tâm, chú trọng công tác quản lý kho quỹ, luôn tuân thủ, giữ vững nguyên tắc, chế
độ đáp ứng nhu cầu thu nộp và trả Ngân sách nhà nước bằng tiền mặt cho các cá nhân,
đơn vị; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra hoàn thuế đảm bảo thực hiện đúng quy định của
pháp luật; hạn chế nợ đọng thuế; xử lý nghiêm các trường hợp trốn thuế, kê khai không
trung thực các khoản phải nộp Ngân sách nhà nước.
b) Xã hội

Qui mô dân số sơ bộ năm 2012 là 1.234.599 người, dân số trong độ tuổi lao
động là 758.266 người, trong đó 670.761 người đang làm việc trong các ngành kinh tế.
Trong năm đã giải quyết việc làm cho 28.560 lao động, đạt 95,2% kế hoạch, giảm
5,27% so cùng kỳ, trong đó lao động nước ngoài là 580 lao động, lao động trong nước
là 27.980 lao động. Tỷ lệ thất nghiệp trong năm 2012 là 0,72%, trong đó khu vực


Địa hình núi và địa hình bình nguyên trên núi.
-

Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới Xavan, Đà Lạt có hai mùa rõ rệt: mùa
mưa và muà khô. Mùa mưa từ tháng 5 – 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm

-

sau.
Thỗ nhưỡng: Gồm có các loại đất chính sau: đất feralit, đất phù sa, đất than bùn,

-

đất bồi tụ, đất lầy.
Sinh vật: Lâm Đồng có 238 loài cây thường gặp thuộc 214 chi, 112 họ và 7 ngành.
Trong số này có khoảng 20 loài quý hiếm thuộc 18 chi, 14 họ và 4 ngành, mà tiêu
biểu là sâm Ngọc Linh.

Đến năm 2001, Lâm Đồng có 618,5 nghìn ha rừng. Rừng được chia thành 4 dạng
chính:
+ Rừng kín lá rộng thường xanh ẩm nhiệt đới phân Bố ở độ cao khoảng 1000m với sự
đa dạng về sinh học.
+ Rừng cây thưa lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp ở độ cao 600 – 1.000m.
+ Rừng kín hỗn hợp cây lá rộng và lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp gồm rừng hỗn giao
giữa thông và các loài họ dẻ, họ re ở độ cao hơn 1.000m.
+ Rừng hỗn giao gỗ, tre và rừng tre nứa phân Bố ở các vùng ẩm ướt và ven sông suối.
Động vật đa dạng, gồm 128 họ thuộc 31 Bộ, gồm các nhóm côn trùng, lưỡng thê, Bò
sát, chim, thú. Riêng động vật xương sống ở cạn đã có 254 loài thuộc 67 họ, 24 Bộ. Trong
số này có 16 loài Bò sát và ếch nhái, 164 loài chim và 74 loài thú.

Trong những năm gần đây Đà lạt đang dần hình thành một số khu vực trồng hoa
chuyên loại như khu vực Thái Phiên – phường 12 và Xuân Thọ trồng các loại hoa Cúc;
phường 4, phường 5 chuyên trồng các loại hoa Hồng và một số loại hoa cao cấp như Lily,
Cát Tường; phường 8 có hoa Cẩm Chướng; vùng ven như phường 11, Xuân Trường
chuyên trồng hoa Glayơn.

17


Người nông dân không tập trung cao về một loại giống hoa nào mà thường là trồng
xen kẻ nhiều chủng loại nên khi thu hoạch và xuất Bán cũng nhỏ lẻ. Bên cạnh đó mỗi
vùng sản xuất lại có tập quán sản xuất và áp dụng quy trình canh tác khác nhau nên sản
phẩm hoa thường là không đồng nhất về mặt chất lượng.
Nhờ thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi, Đà Lạt có điều kiện để phát triển nhiều loại
cây ôn đới. Đà Lạt được Biết đến như vùng đất của những loài hoa, với các giống Mai anh
đào Đà Lạt, hoa lan, hoa hồng, hoa ly, hoa lay ơn, hoa cẩm tú cầu, hoa Bất tử, hoa cẩm
chướng... Các giống lan nhập nội vào Đà Lạt thuộc các chi Lan kiếm, Lan hoàng
thảo, Lan hài, Lan hoàng hậu... với trên 300 giống. Từ năm 2000, một số giống lan vùng
nhiệt đới và á nhiệt đới cũng được trồng thành công như giống lai trong chi Hồ
điệp, Hoàng y Mỵ Nương, Lan nhện.. Các loài lay ơn, hoa hồng, hoa lys đều được trồng ở
Đà Lạt từ khoảng giữa thế kỷ 20. Trên các vùng đất ngoại ô thành phố, còn có thể thấy
những vườn cây ăn trái như đào, mận, hồng, dâu tây... các vùng trồng cây công nghiệp
như chè, cà phê, hay atisô, loài cây dược liệu nổi tiếng của Đà Lạt. Vào năm 2011, thành
phố có 7.123 hecta gieo trồng rau,441 hecta trồng cây ăn quả, 25 hecta trồng lúa, và gần
3.500 hecta diện tích trồng hoa, trong đó khoảng 1.500 hecta nhà kính.
Trước đây, tham gia sản xuất nông nghiệp ở Đà Lạt là các gia đình nông dân và
một số điền trang tư nhân quy mô nhỏ. Thời kỳ sau năm 1975, với chính sách kinh tế kế
hoạch tập trung, ở Đà Lạt xuất hiện các hợp tác xã nông nghiệp và các tập đoàn sản xuất.
Sản xuất nông nghiệp khi đó được thực hiện theo kế hoạch đến từng khóm dân cư, việc
thu mua rau do Công ty Nông sản Thực phẩm và Công ty Ngoại thương đảm nhận.

Công nghệ thủy canh; công nghệ giá thể tổng hợp; công nghệ tự động hóa chiếu sáng và
điều tiết dinh dưỡng; công nghệ chẩn đoán xét nghiệm phân tử; công nghệ gây tạo đột
Biến; công nghệ chuyển gene…
Đến nay toàn tỉnh có 58 cơ sở ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô thực vật (riêng tại
thành phố Đà Lạt có 50 cơ sở), hàng năm cung cấp cho thị trường trên 20 triệu cây giống
cấy mô thực vật chủ yếu là sản xuất các giống, rau hoa cao cấp.
Tính trong giai đoạn 2011-2015, nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) tại tỉnh Lâm
Đồng đã có sự phát triển vượt Bậc về năng suất, thu nhập và chất lượng sản phẩm trở
thành “điểm sáng” về sản xuất NNCNC trong cả nước. Tư duy làm nông kiểu mới đã lan
tỏa đến những vùng sâu, vùng đồng Bào dân tộc thiểu số địa phương.
Doanh thu trên đơn vị diện tích gia tăng nhanh, từ 27 triệu đồng/ha năm 2004 lên 70
triệu năm 2009. Gía trị xuất khẩu nông sản năm 2004 khoảng 90 triệu USD đến năm 2009
là 231 USD, chiếm 84% giá trị xuất khẩu của tỉnh. Nhờ Biết ứng dụng khoa học- công
19


nghệ (KH-CN) vào sản xuất, nông dân Đà Lạt có thu nhập từ 300 triệu đến 2 tỷ đồng/ha
đất canh tác
Các tài liệu có liên quan đến ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất:
Tưới nhỏ giọt-ứng dụng của công nghệ cao- là kỹ thuật tưới cung cấp nước vào đất
dưới dạng các giọt nước nhỏ ra đều đều từ công cụ hay thiết Bị tạo giọt đặt tại một số
điểm trên mặt đất gần gốc cây. Hệ thống tưới nhỏ giọt đơn giản Bao gồm Bồn chứa nước,
hệ thống ống dẫn và đầu tưới nhỏ giọt hay dây nhỏ giọt. Phần điều khiển tự động Bao
gồm van điện điều khiển khu vực tưới, Bộ lọc, Bộ điều khiển số lần và thời gian tưới
trong ngày.
Phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp cần tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu
là: chọn giống, lai tạo, nhân giống, cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng
cao, Bảo quản chế Biến sản phẩm nông nghiệp. Hình thành các khu nông nghiệp công
nghệ cao hoạt động có hiệu quả tại những vùng nông nghiệp trọng điểm
Đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ cao trong chọn, lai tạo giống, chuyển giao công

+ Trồng cây trái mùa
+ Có được tốc độ tăng trưởng nhanh hơn và năng suất cao hơn
+ Trồng giống khác nhau
+ Bảo vệ cây trồng từ thời tiết lạnh, mưa đá, gây thiệt hại gió và mưa
+ Giữ sâu Bệnh cho cây trồng.
Nhà Bóng được sử dụng để Bảo vệ cây trồng và cây mẫn cảm với ánh sáng mặt trời dữ
dội, nhiệt và gió.
-

Các Loại Cơ Cấu Nhà Kính

Hình dạng của nhà kính có ảnh hưởng đến cấu trúc:
+ Lượng ánh sáng truyền
+ Lượng thông gió tự nhiên
+ Không gian nội Bộ sử dụng được
+ Sử dụng hiệu quả các vật liệu cấu trúc
+ Ngưng tụ run-off
+ Yêu cầu về sưởi ấm.
Một mái đầu hồi là thiết kế tốt nhất cho thông gió tự nhiên, kết hợp với lỗ thông hơi
được cung cấp đầy đủ
-

Chi phí
Một nhà kính kiểu nhiều đường hầm (nhà mái vòm) cơ Bản có giá khoảng 9 $ /

m2. Giá cả có thể cao nhưng có thể cung cấp lợi ích sản xuất và tiết kiệm lao động. khí
hậunhà kính được kiểm soát tốt. Nhà kính Bằng kính là tốn kém hơn, nhưng có một loạt
các lợi thế, cũng như tấm polycarBonate.

21

Không gây ra xói mòn đất, không tạo nên váng đất đọng trên Bề mặt và không phá vỡ
cấu tượng đất do tưới nhỏ giọt được thực hiện một cách liên tục với mức tưới rất nhỏ dưới
dạng từng giọt.
22


Đảm Bảo năng suất tưới, năng suất lao động được nâng cao không ngừng vì có khả
năng cơ khí hóa, tự động hóa cao độ khâu nước tưới. Tạo điều kiện cơ giới, tự động hóa
thực hiện tốt một số khâu khác như: phun thuốc trừ sâu, Bón phân hóa học kết hợp tưới
nước.
Việc thực hiện tưới nhỏ giọt thực tế đã rất ít phụ thuộc vào các yếu tố thiên nhiên: độ
dốc địa hình, thành phần và cấu trúc đất tưới, mực nước ngầm ở nông hay sâu, điều kiện
nhiệt độ và không Bị chi phối Bởi ảnh hưởng của gió như là tưới phun mưa và có thể thực
hiện tưới liên tục suốt ngày đêm.
Kỹ thuật tưới nhỏ giọt sử dụng cột nước áp lực làm việc thấp và lưu lượng nhỏ nên tiết
kiệm năng lượng giảm chi phí quản lý vận hành. Nói chung áp lực tưới nhỏ giọt chỉ Bằng
10% - 15% ở tưới phun mưa và lượng nước bơm lại ít hơn 70% - 80%.
Tưới nhỏ giọt đã góp phần ngăn chặn được sự phát triển của cỏ dại quanh gốc cây và
sâu Bệnh, vì nước tưới chỉ làm ẩm quanh gốc cây.
Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước cho phép cung cấp nước trực tiếp đến tận rễ cây và khống
chế phân bố độ ẩm vùng hoạt động của Bộ rễ cây nên rất tiết kiệm nước tưới. Thực tế kỹ
thuật tưới này dùng nước ít hao từ 20 - 30% so với tưới phun mưa toàn bộ, thậm chí có
thể tiết kiệm từ 50 đến 80% so với kỹ thuật tưới thông thường.
Cung cấp nước thường xuyên, tạo ra môi trường ẩm trong đất gần độ ẩm tối đa đồng
ruộng. Lượng nước tưới có thể được khống chế và điều khiển dễ dàng để Bảo đảm nước
tưới được phân bố đều trong vùng đất có bộ rễ hoạt động, duy trì chế độ ẩm thích hợp
theo nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Nhờ khả năng cung cấp nước và chất
dinh dưỡng trực tiếp tới rễ cây nên cây trồng sinh trưởng, phát triển nhanh, đạt năng suất
cao.
-

vỡ cấu tượng đất do hạt mưa nhỏ.
Do toàn Bộ hệ thống đường ống đặt ngầm nên tiết kiệm đất, thuận tiện việc chăm sóc,
canh tác trên đồng ruộng. Mặt khác cũng dễ dàng tự động hóa từng phần hoặc toàn phần
hệ thống tưới, như cơ khí hoá và tự động hóa phần thiết Bị điều khiển, thiết Bị tưới mặt
ruộng hoặc điều khiển toàn Bộ hệ thống từ xa theo chương trình lập sẵn nên tiết kiệm sức
lao động và nâng cao năng suất tưới.
+ Nâng cao năng suất tưới và năng suất các khâu canh tác nông nghiệp khác.
+ Sử dụng áp lực làm việc loại trung Bình và thấp, lưu lượng yêu cầu nhỏ nên tiết
kiệm năng lượng và nguồn nước.
+ Có tác dụng cải tạo vi khí hậu khu tưới.
+ Hạn chế sâu Bệnh, cỏ dại phát triển.
+ Kết hợp được tưới nước với phun thuốc trừ sâu, Bón phân hóa học.
+ Rất phù hợp với các cây trồng mềm yếu (vườn hoa, vườn ươm, cây đang ra hoa, thụ
phấn) và các cây trồng cao cấp trong nhà kính...
-

Nhược điểm:

24


+ Vòi phun dễ Bị tắc nghẽn (khi nước tưới có nhiều tạp chất), nhất là đối với các vòi
phun sương mù (Mist Sdrayer) có các lỗ phun mưa rất nhỏ.
+ Yêu cầu trình độ nhất định trong thiết kế xây dựng và quản lý.
+ Vốn đầu tư Ban đầu cao hơn so với các kỹ thuật tưới cổ điển.
+ Các đường ống và thiết Bị hay hư hỏng, dễ Bị mất mát, phá hoại do con người và
côn trùng tại mặt ruộng (điều này rất dễ xảy ra ở Việt Nam).
Công nghệ sau thu hoạch
Công nghệ Bảo quản giúp nông sản được tươi ngon trong thời gian dài và vẫn giữ
được giá trị dinh dưỡng cao chẳng hạn như phương pháp Bảo quản khoai tây không sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status