Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết và một số chủ trương của Hội
nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam khóa XI
7/16/2014 3:59:43 PM
Để phục vụ việc học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI ở các địa
phương, đơn vị, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy cung cấp Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết
và một số chủ trương của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (Dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên) do
Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn. Xin trân trọng giới thiệu tài liệu đến các
đồng chí.
Chuyên đề 1
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
ĐẤT NƯỚC
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và quá trình tổng kết 15 năm thực hiện
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ra đời là sự kế thừa và phát triển đường lối, quan điểm văn hóa của Đảng, được
thể hiện trong Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo nêu bật ba tính chất
cơ bản của văn hóa Việt Nam là dân tộc, khoa học, đại chúng; được bổ sung, phát triển trong Cương lĩnh và nghị
quyết của Đảng từ Đại hội III đến Đại hội VIII, các nghị quyết chuyên đề về văn hóa của Ban Chấp hành Trung ương
trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội. Nghị quyết nêu bật tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, nhất là luận điểm nổi tiếng “Văn
hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Nghị quyết ra đời trong bối cảnh Đảng ta chủ động đổi mới tư duy, thoát dần tư
tưởng giáo điều, bao cấp, lãnh đạo toàn dân thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có văn hóa;
thể hiện bước chuyển quan trọng về tư duy lý luận, năng lực đúc kết thực tiễn những năm đầu đổi mới. Nghị quyết
có tầm nhìn sâu rộng, chứa đựng nhiều giá trị tư tưởng, nhân văn và khoa học. Các quan điểm trong Nghị quyết
thực sự đổi mới, có giá trị chỉ đạo cao trong thực tiễn, được nhân dân đón đợi và đồng tình thực hiện. Nghị quyết đề
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Ban Tuyên giáo Trung ương đã hướng
dẫn các cấp tổng kết, bám sát nội dung nêu trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII để kiểm điểm; kết hợp đánh giá
việc thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Trung ương liên quan đến văn hóa. Tháng 11-2012, Ban Bí thư thành
lập Ban chỉ đạo xây dựng Báo cáo tổng kết. Ban chỉ đạo đã tổ chức nhiều đợt khảo sát, dự hội nghị tổng kết ở
ngành, đoàn thể, địa phương. Các tỉnh, thành ủy chỉ đạo tổng kết điểm ở cấp huyện. Đến tháng 6-2013, các ngành,
đoàn thể và 63 tỉnh thành đã tổ chức xong việc tổng kết 15 năm thực hiện trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII.
Nhìn chung việc tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII được triển khai nghiêm túc. Phần lớn các báo cáo tổng
kết đã bám sát 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp lớn nêu trong Nghị quyết, với tinh thần nhìn thẳng
vào sự thật, không né tránh yếu kém, khuyết điểm, đưa ra các giải lớn khắc phục và định hướng phát triển văn hóa
trong thời gian tới. Nhiều kinh nghiệm hay, mô hình tốt trong hoạt động văn hóa được đúc kết và nhân rộng. Việc
biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều nổ lực và thành tích đã động viên, cổ vũ cán bộ, nhân dân
phát huy tích cực, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ văn hóa trong thời gian tới. 75 cơ quan trung ương và địa phương
gửi báo cáo về Ban Chỉ đạo. Căn cứ báo cáo của các đơn vị, Ban Chỉ đạo đã xây dựng dự thảo Báo cáo tổng kết, tổ
chức hơn 30 cuộc tọa đàm với các cơ quan, các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học để lấy ý kiến đóng góp, gửi
lấy ý kiến của các ban, ngành, địa phương (có 15 cơ quan Trung ương, 37 địa phương góp ý) để tiếp tục hoàn chỉnh
phục vụ Hội nghị toàn quốc việc tổng kết 15 năm thực hiện trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII do Ban Bí thư tổ
chức (tháng 1-2014). Sau Hội nghị toàn quốc, Ban Chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện Báo cáo, gửi lấy ý kiến các ban,
ngành, đoàn thể, địa phương lần thứ hai. Đến ngày 26-3-2014, có 19 cơ quan ở Trung ương và 41 tỉnh ủy, thành ủy
đã gửi văn bản góp ý để hoàn chỉnh Báo cáo. Ngày 27-3-2014, Bộ Chính trị đã họp, nghe Ban Chỉ đạo báo cáo và
cho ý kiến hoàn chỉnh Báo cáo trình Ban chấp hành Trung ương.
Các ý kiến đóng góp của các cơ quan Trung ương, địa phương, của Hội nghị toàn quốc và ý kiến của Bộ Chính trị
nhất trí với nội dung Báo cáo và thống nhất cao kiến nghị của Ban Chấp hành Trung ương ban hành nghị quyết mới
về văn hóa.
Tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (tháng 5-2014), qua thảo luận tại tổ và hội trường, các đồng chí Trung ương có
147 lượt ý kiến góp ý Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa. Đa số
ý kiến cho rằng, báo cáo được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, đầy đủ, hệ thống, toàn diện, khách quan, cung cấp
nhiều thông tin, số liệu có sức thuyết phục. Trung ương đã nhất trí cao việc ban hành nghị quyết mới về văn hóa.
Ngày 9-6-2014, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp
Tên gọi của Nghị quyết mới là “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững đất nước”. Tên gọi như vậy vừa kế thừa được nội hàm của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, vừa nêu được
vấn đề mới mà Trung ương đặc biệt quan tâm – nhân tố con người và sự phát triển bền vững đất nước. Như đã biết,
nói về văn hóa cũng nói về con người, vì văn hóa là của con người, do con người, vì con người. Tuy nhiên, trong
thực tế, không ít trường hợp đã hiểu sai lệch, coi văn hóa là những công việc, những hoạt động trên lĩnh vực văn
hóa (như múa hát, biểu diễn, lễ hội…), không tập trung cho mục tiêu trọng tâm, cốt lõi là xây dựng con người. Chính
vì vậy, trong Nghị quyết Trung ương lần này có thêm một quan điểm khẳng định vấn đề trọng tâm, cốt lõi của xây
dựng văn hóa là xây dựng con người. Thêm từ “Con người” vào tên Nghị quyết để nhấn mạnh, khẳng định. Để tổ
chức thực hiện đưa nội dung nghị quyết vào cuộc sống, Trung ương yêu cầu:
- Các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức việc học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết.
- Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hệ thống pháp luật về văn hóa, tạo cơ sở pháp
lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện.
- Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản dưới luật; thường xuyên
theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với yêu cầu
thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.
- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc
Trung tổ chức quán triệt, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết
quả thực hiện Nghị quyết.
II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH 15 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 5 KHÓA VIII VỀ VĂN HÓA
1. Ưu điểm, kết quả
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có
chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng.
Tư duy về văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng
lên. Nhiều vấn đề văn hóa được nhìn nhận sâu hơn. Nhiệm vụ xây dựng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
được đặt trong mối tương quan với các nhiệm vụ xây dựng kinh tế, xây dựng Đảng.
Vai trò của văn hóa ngày càng được thể hiện rõ hơn trong cuộc sống xã hội, trong việc xây dựng con người, sức
sống, nhiều giá trị bền vững của văn hóa dân tộc được phát huy trong thời kỳ đổi mới. Văn hóa là một nội dung quan
trọng trong hoạt động của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, được quan tâm hơn về
gia đình, dòng họ, cộng đồng… Chính phủ tổ chức Ban chỉ đạo Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa” ở các cấp, kịp thời chỉ đạo, ban hành cơ chế, chính sách thúc đảy phong trào phát triển rộng khắp, đã cổ
vũ, huy động được sức dân chăm lo xây dựng đời sống văn hóa tại cơ sở. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa” và cuộc vận động xây dựng “Gia đình văn hóa” đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ, xuất hiện
những điểm sáng văn hóa ở cơ sở (huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu…). Có sự
chuyển biến trong việc đề cao giá trị gia đình trong giáo dục nhân cách. Nhà nước lấy ngày 28-6 hằng năm là Ngày
Gia đình Việt Nam. Các phong trào xây dựng con người mới với các chuẩn mực cụ thể của từng ngành, từng địa
phương được triển khai, cụ thể hóa năm đức tính cơ bản của con người Việt Nam nêu trong Nghị quyết Trung ương
5 khóa VIII thành những chuẩn mực, đặc trưng phù hợp với từng ngành, từng địa phương. Biểu dương nhiều gương
người tốt, việc tốt. Đến tháng 12-2012, cả nước có 70,8% gia đình được công nhận gia đình văn hóa; trên 1,3 triệu
“người tốt, việc tốt” được suy tôn ở các cấp, 67,1% làng, bản, ấp văn hóa, tổ dân phố văn hóa được công nhận;
57,9% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; 61% khu dân cư đạt chuẩn danh hiệu khu dân cư văn hóa.
Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, nhân đạo, từ thiện… được đẩy mạnh, tạo sự gắn kết cộng
đồng, tăng cường nội lực tinh thần của xã hội. 12 năm (từ năm 1996 đến ngày 31-12-2012), cả nước vận động được
8.568,3 tỷ đồng vào Quỹ vì người nghèo ở bốn cấp.
Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế văn
hóa. Hoạt động văn hóa đã khai thác tốt hơn nguồn lực xã hội, từng bước đáp ứng yêu cầu sáng tạo và hưởng thụ
văn hóa ngày càng cao của người dân. Vai trò chủ thể văn hóa của cộng đồng các dân tộc và công đồng dân cư
từng bước được khơi dậy. Các thiết chế văn hóa được xây dựng, bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau, đa dạng loại
hình, sở hữu. Đến ngày 1-1-2013, 100% đơn vị cấp tỉnh, 78,2% đơn vị cấp huyện, 44,8% đơn vị cấp xã, 46% làng,
bản, tổ dân phố trong cả nước xây dựng được thiết chế nhà văn hóa.
Văn học, nghệ thuật tiếp tục phát triển, với dòng mạch chính là yêu nước và nhân văn, gắn bó với dân tộc, phản ánh
chân thực cuộc sống; có nhiều tìm tòi về đề tài, phương pháp sáng tác, hình thức diễn đạt. Quyền tự do sáng tạo
của văn nghệ sĩ được tôn trọng. Sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng, tăng đáng
kể về số lượng và bước đầu có chuyển biến về chât lượng; có một số tác phẩm, công trình có giá trị phản ánh lịch
sử dân tộc và các cuộc kháng chiến chống xâm lược. Nhiều tư liệu quý trong văn hóa truyền thống được sưu tầm, tư
liệu hóa. Ý thức chính trị, trách nhiệm công dân của phần đông văn nghệ sĩ được phát huy. Tiếng nói phản biện xã
hội của văn học, nghệ thuật có một số mặt mạnh mẽ hơn trước, phát hiện, cảnh báo, phê phán cái xấu, cái ác, góp
phần xây dựng nhân cách, đề caophẩm giá con người. Từ năm 1996 đến năm 2012, qua bốn đợt xét có 102 tác
phẩm, công trình văn học nghệ thuật đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh; qua ba đợt xét có 458 tác phẩm, công trình văn
kỹ thuật, công nghệ không ngừng được hiện đại hóa, tận dụng được công nghệ mới. Tính đến tháng 12-2013, cả
nước có 199 cơ quan báo, 639 tạp chí, 4 đài phát thanh truyền hình trung ương, 67 đài phát thanh truyền hình địa
phương, với tổng 198 kênh truyền hình, 64 nhà xuất bản. Đội ngũ nhà báo tăng đáng kể về số lượng với gần 17.000
người hoạt động báo chí được cấp Thẻ Nhà báo. Phần lớn các cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích,
định hướng chính trị, phản ánh nhanh nhạy, sinh động công cuộc đổi mới đất nước, góp phần mở rộng dân chủ,
nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân. Từ một nước thiếu sách, Việt Nam đã xây dựng được nền
xuất bản độc lập và tự chủ, đáp ứng cơ bản nhu cầu đọc trong nước và bước đầu xuất khẩu ra nước ngoài. Coi
trọng thông tin đối ngoại, hướng tới kiều bào ta ở nước ngoài và nhân dân thế giới, góp phần quảng bá hình ảnh đất
nước và con người Việt Nam ta thế giới. Người dân có nhiều cơ hội lựa chọn, tiếp nhận thông tin, tri thức (năm
2012, tỷ lệ hộ gia đình được nghe đài phát thanh là 99,5%, được xem đài truyền hình là 99,5%, số người sử dụng
mạng internet đạt 35% dân số, đạt 3,4 đầu sách/người/năm), qua đó góp phần rút ngắn khoảng cách hưởng thụ văn
hóa giữa các vùng miền…Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo. Nhiều giá trị văn hóa
truyền thống được giữ gìn, phát huy, kết hợp với văn hóa đương đại. Có chuyển biến tích cực trong công tác bảo tồn
di tích. Đến tháng 12-2013, số di tích được xếp hạng gồm: 48 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 3.202 di tích cấp quốc
gia, 7.484 di tích cấp tỉnh, 8 di sản văn hóa và thiên nhiên được UNESCO vinh danh là di sản thế giới, trong đó Vịnh
Hạ Long được bầu chọn là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Thực hiện Chương trình mục tiêu
quốc gia về văn hóa, trong đó có chống xuống cấp di tích: giai đoạn 2001-2005 chống xuống cấp 533 lượt di tích;
giai đoạn 2006-2010 chống xuống cấp 1.218 lượt di tích; giai đoạn 2011-2013 chống xuống cấp 904 lượt di tích;
tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế hỗ trợ kinh phí, kinh nghiệm tu bổ di tích tại Huế, Hội An, Mỹ Sơn. Hiện
có 135 bảo tàng (120 bảo tàng công lập), với hơn 3 triệu tài liệu, hiện vật. Chú ý nhiều hơn đến công tác bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa phi vật thể: thống kê lập hồ sơ 13.440 di sản; 10 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO
vinh danh; 49 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục Quốc gia. Lấy ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10
tháng 3 (âm lịch) hằng năm là Ngày Quốc lễ của dân tộc. Phục hồi và phát huy lễ hội truyền thống, làng cổ, làng
nghề của các dân tộc. Ý thức của người dân hướng về cội nguồn và khả năng huy động được các nguồn lực trong
nhân dân giữ gìn, phát huy di sản văn hóa dân tộc tăng lên. Có chuyển biến trong xúc tiến quảng bá, giới thiệu các di
sản văn hóa dân tộc ra nước ngoài, góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch gắn với di sản văn hóa. Năm 2013, Việt
Nam đón trên 7 triệu lượt khách quốc tế.
Nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng. Văn hóa, văn
nghệ dân gian các dân tộc được quan tâm sưu tầm, phổ biến. Đội ngũ tri thức, văn nghệ sĩ người dân tộc thiểu số
tăng về số lượng và nâng dần về chất lượng. Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số được cải thiện cả về vật chất
lớn. Chính sách, pháp luật văn hóa bước đầu đã bắt nhịp những vấn đề mới đặt ra trong kinh tế thị trường về văn
hóa, thoát dần tư duy bao cấp, hành chính hóa. Xuất hiện ngày một nhiều các thiết chế văn hóa (bảo tàng, thư viện,
khu văn hóa giải trí, khu thể dục, thể thao…) ngoài công lập.
Tỷ lệ chi cho văn hóa ở trung ương cơ bản bảo đảm được tỷ lệ 1,8% tổng chi ngân sách ở trung ương theo Kết luận
Hội nghị Trung ương 10 khoa IX đặt ra. Tổng mức đầu tư của Nhà nước cho Chương trình mục tiêu giai đoạn sau
cao hơn giai đoạn trước.
Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành. Công tác đào tạo cán bộ và chuẩn bị nhân lực cho
hoạt động văn hóa được quan tâm hơn. Cả nước có 33 trường đại học, 47 trường cao đẳng; 27 trường trung cấp có
đào tạo nhân lực hoạt động văn hóa. Số trường đào tạo nguồn cán bộ văn hóa tăng và được đầu tư cơ sở vật chất.
Ngành đào tạo đa dạng, chú ý tới nhiều ngành học mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Số lượng cán bộ được
đào tạo lại và đào tạo sau đại học mỗi năm một tăng. Xã hội hóa đào tạo nguồn nhân lực văn hóa ngày một mở rộng.
Các chức danh cán bộ được chuẩn hóa. Cán bộ nguồn được đưa vào quy hoạch. Quan tâm hơn công tác bồi dưỡng
nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ hoạt động văn hóa và đào tạo tài năng văn hóa, văn nghệ. Nhiều học sinh giỏi được
gửi đi đào tạo ở ngoài nước. Chương trình văn hóa, văn nghệ được đưa vào giảng dạy cho các cán bộ trong hệ
thống trường chính trị. Nhiều cán bộ văn hóa được đi tham quan, học hỏi ở ngoài nước. Cấp xã đã bố trí một công
chức theo dõi lĩnh vực văn hóa.
Coi trọng xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị. Ban hành một số nghị quyết, chỉ thị về xây dựng Đảng (Nghị
quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về công tác xây dựng Đảng; Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27-3-2003 của Ban Bí
thư khóa IX về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7-112006 của Bộ Chính trị khóa X và Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị khóa XI về học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “một số văn đề cấp bách về xây dựng Đảng
hiện nay”…) và việc thực hiện đã dần vào nền nếp, đạt một số kết quả bước đầu và tạo chuyển biến trong Đảng và
trong xã hội.
Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc, góp phần giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt Nam, đồng
thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cùng với quá trình da phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế
của Đảng và Nhà nước. Các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài đã đóng góp tích cực vào việc quảng bá văn hóa Việt
Nam. Việc thành lập Trung tâm văn hóa ở nước ngoài là một nỗ lực đúng hướng của Nhà nước ta. Nhiều sự kiện
văn hóa quốc tế có quy mô lớn đã được tổ chức ở Việt Nam và sự kiện văn hóa Việt Nam tổ chức ở nước ngoài gây
được tiếng vang, tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè về truyền thống văn hóa, nghệ thuật văn hóa, nghệ thuật
Việt Nam.
2. Khuyết điểm, hạn chế
động văn hóa. Khả năng tự bảo vệ của văn hóa dân tộc trước sự xâm nhập của văn hóa nước ngoài còn hạn chế.
Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi,
vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa ở không ít nơi
bị xâm hại, thiếu lành mạnh. Việc giao lưu, tiếp thu văn hóa, lối sống từ bên ngoài thiếu chọn lọc. Sinh hoạt tín
ngưỡng, tôn giáo có biểu hiện sai lệch những giá trị nhân văn, hiện tượng lợi dụng ngoại cảm để trục lợi, các tệ nạn
xã hội, tội phạm…có chiều hướng gia tăng. Theo báo cáo của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, từ năm
1998 đến năm 2013, cả nước xảy ra 17.141 vụ giết người; 199.371 đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật; 30.862 gái
mại dâm; 171.700 người nghiện ma túy. Lực lượng chức năng đã phát hiện bắt giữ 197.878 vụ với 321.087 đối
tượng liên quan đến ma túy.
Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngược lại, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, tội
phạm có chiều hướng gia tăng. Các tệ nạn xã hội, sản phẩm văn hóa độc hại, sự biến tướng của nhiều lễ hội, phim
ảnh, biểu diễn nghệ thuật thiên về giải trí, kích động bạo lực, thông tin sai trên các mạng xã hội, gây tâm trạng lo
lắng, hoài nghi trong xã hội. Trong mối quan hệ đồng chí, đồng nghiệp, đồng đội…sự chân thành, quan tâm chia sẻ,
giúp đỡ nhau không còn được như trước đây. Thay vào đó là tình trạng kèn cựa, bon chen, chạy chức, chạy
quyền…đang lan rộng. Môi trường học đường ở nhiều nơi thiếu lành mạnh. Tình trạng nghèo nàn, thiếu thốn về đời
sống văn hóa tinh thần ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và
vùng căn cứ cách mạng, khu công nghiệp vẫn chưa được khắc phục. Vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái
bị coi nhẹ, với tâm lý trông chờ, ỷ lại vào nhà trường và xã hội. Nhiều gia đình, bố mẹ không còn là tấm gương sáng
cho con cái noi theo; tỷ lệ ly hôn, bạo lực gia đình, trẻ em vi phạm pháp luật gia tăng; việc phụ nữ lấy chống nước
ngoài vì mục đích kinh tế còn diễn ra phức tạp ở một số tỉnh…Đời sống văn hóa của công nhân lao động ở các khu
công nghiệp còn thiếu thốn, đặc biệt là các khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài còn rất nghèo nàn.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nhiều nơi còn mang tính hình thức. Công tác xây dựng
văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội chưa được quan tâm đúng mức, còn
hình thức và nhiều hạn chế. Nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tham gia vào hoạt động văn hóa với mục đích kiếm
lời là chủ yếu, đã hạ thấp chức năng giáo dục, chưa chú ý đến trách nhiệm định hướng thẩm mỹ, hướng thiện, nhân
văn. Nhiều dịch vụ, sản phẩm văn hóa trong nước thiếu sức cạnh tranh. Ý thức chấp hành pháp luật, giữ gìn, bảo vệ
môi trường chưa cao.
Thành tựu sáng tạo văn hóa, nghệ thuật chưa nổi bật. Chất lượng tác phẩm văn học nghệ thuật chưa tương xứng
với số lượng. Còn ít những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác
phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Lý tưởng và khát vọng sáng tạo còn hạn chế
phát triển tài năng nhất là nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước. Giáo dục và đào
tạo chủ yếu còn nặng về phương pháp truyền thụ, cung cấp kiến thức, chưa có nhiều biện pháp khuyến khích học
tập sáng tạo, chưa chú trọng đúng mức giáo dục và hình thành nhân cách của con người. Việc giáo dục tư tưởng,
đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc…chưa được chú ý về nội dung và phương pháp; giáo dục
phổ thông mới quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, chưa quan tâm đúng mức đến “dạy người”, nhất là về kỹ năng sống
và “định hướng nghề nghiệp”. Chưa coi trọng giáo dục thẩm mỹ cho giới trẻ. Chất lượng giáo dục chưa đạt yêu cầu
và không đồng đều giữa các vùng miền.
Khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên chưa có nhiều công trình, sản phẩm thực sự mang tính đột phá, đem lại hiệu
quả cao. Khoa học xã hội, nhân văn chưa giải đáp kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đời sống đang đặt ra. Chưa
quan đến tính văn hóa trong khoa học – công nghệ. Chưa nghiên cứu sâu những vấn đề đặt ra trong cuộc sống văn
hóa hiện nay, như: Công nghiệp văn hóa, kinh tế trong văn hóa, khai thác dịch vụ văn hóa kết hợp với bảo tôn di
sản…Triển khai nhiều để tài nghiên cứu nhưng việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn còn hạn chế.
Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp
sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục
vụ; thiếu sự nhạy bén chính trị, chỉ tập trung khai thác, phản ánh mặt tiêu cực của đời sống xã hội; đăng tải thông tin
không chính xác, khách quan, thậm chí sai sự thật, chạy theo khuynh hướng giật gân câu khách, tạo ra những sản
phẩm yếu kém. Số lượng cơ quan báo chí, xuất bản không ngừng tăng nhưng hiệu quả xã hội chưa tương xứng,
chưa quan tâm đúng mức yêu cầu giáo dục, xây dựng con người phát triển văn hóa. Hoạt động xuất bản đang gặp
nhiều khó khăn, có nguy cơ thu hẹp. Tình trạng liên kết dễ dãi, thẩm định nội dung cẩu thả tạo ra những ấn phẩm
yếu kém về nhiều mặt. Vai trò trách nhiệm của các cơ quan chủ quản báo chí, xuất bản chưa được phát huy. Một bộ
phận cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí, xuất bản và phóng viên, biên tập viên yếu về năng lực chuyên môn, trách
nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, đạo đức nghề nghiệp, thậm chí vi phạm pháp luật. Tình trạng “thương mại hóa”
báo chí xuất bản chưa bị đẩy lùi, thậm chí còn lan rộng, có hiện tượng tư nhân núp bóng nhà nước để kinh doanh
báo chí, xuất bản. Còn để lọt một số xuất bản phẩm có nội dung không phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước.
Các chính sách, đề án phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số vẫn thường đứng biệt lập, ít gắn kết với các chương
trình, đề án phát triển về kinh tế - xã hội nên hiệu quả không cao, nguồn lực bảo đảm thực hiện còn hạn chế. Khoảng
cách về mức hưởng thụ và sáng tạo văn hóa giữa các dân tộc, vùng sâu, vùng xa với khu vực đồng bằng và đô thị
còn chênh lệch khá cao.
Chính sách văn hóa đối với tôn giáo chưa theo kịp tình hình phát triển tôn giáo. Sự định hướng xã hội về tín ngưỡng
của mô hình nhà văn hóa cấp xã, điểm bưu điện-văn hóa xã. Nguồn nhân lực cho hoạt động của hệ thống thiết chế
văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là ở tuyến cơ sở. Nội dung hoạt động đơn điệu, chậm đổi mới, chưa thu hút
được đông đảo các tầng lớp xã hội tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Năng lực chưa đủ mạnh để hội nhập
quốc tế sâu hơn trên các hoạt động thuộc lĩnh vực thiết chế văn hóa. Nhiều sự kiện văn hóa chưa đem lại giá trị
nhân văn tương ứng với đầu tư của Nhà nước và xã hội.
Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao còn nhiều hạn chế, bất cập. Một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, tham mưu, quản lý văn hóa các cấp chưa
được đào tạo, bồi dưỡng đúng cách, bất cập cả về năng lực và kinh nghiệm. Đội ngũ cán bộ các cơ quan đảng theo
dõi, chỉ đạo công tác văn hóa còn mỏng, một số hạn chế về trình độ, năng lực, kinh nghiệm. Đội ngũ cán bộ người
dân tộc thiểu số chưa nhiều, trình độ còn hạn chế. Chưa coi trọng công tác quy hoạch nguồn đội ngũ cán bộ ở cấp
chiến lược bị hụt hẫng. Một số nơi còn coi nhẹ chuyên môn văn hóa, văn nghệ trong bố trí cán bộ chỉ đạo, quản lý
văn hóa, văn nghệ trong bố trí cán bộ chỉ đạo, quản lý văn hóa, văn nghệ. Chậm ban hành chính sách đãi ngộ đối
với trí thức văn hóa và văn nghệ sĩ có tài năng cống hiến cho sự phát triển văn hóa của quốc gia. Chính sách thu hút
học sinh năng khiếu vào các trường văn hóa, nghệ thuật chưa hấp dẫn. Thiếu quan tâm đến việc đầu tư để phát
hiện, tuyển chọn và đào tạo tài năng về văn hóa, văn nghệ. Chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa ở cơ sở còn nhiều
bất cập. Trình độ năng lực đội ngũ cán bộ văn hóa, nhất là cán bộ ở cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Hoạt động giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài còn hạn chế cả về đầu tư nguồn lực, về tầm nhìn, tính
hiệu quả. Hình ảnh Việt Nam, văn hóa Việt Nam còn hạn chế ở khu vực và thế giới. Tình trạng nhập khẩu, quảng
bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một
bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ.Tỷ lệ chiếu phim nước ngoài trên các kênh truyền hình Việt Nam, ở trung ương và
các địa phương không thực hiện đúng quy định. Việc chủ động giới thiệu các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật có chất
lượng ra nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức khiến vị thế văn hóa, nghệ thuật Việt Nam trong các cuộc thi
quốc tế chuyên nghiệp chưa được khẳng định xứng đáng.
3. Nguyên nhân của khuyết điểm, hạn chế
Những khuyết điểm, hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân.
3.1. Nguyên nhân khách quan:
Sự biến đổi nhanh chóng, nhiều yếu tố mới, phức tạp của đời sống xã hội đã tác động nhiều, dẫn tới sự thụ động,
lúng túng trong lãnh đạo, quản lý, tổ chức hoạt động văn hóa.
- Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Công tác nghiên cứu
lý luận, tổng kết thực tiễn về văn hóa lúng túng, bất cập nên tính dự báo và định hướng bị hạn chế; chưa làm rõ
nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong việc xác định những
giá trị truyền thống cũng như những giá trị mới cần được xây dựng, trong xử lý các mối quan hệ giữa truyền thống
và đương đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển, văn hóa và kinh tế…
- Chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nhất là
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động văn hóa còn
nhiều bất cập về cơ sở vật chất, kỹ thuật; về giáo trình, tài liệu; đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy và học. Đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ các cấp còn yếu về trình độ, năng lực,
kinh nghiệm nên chưa làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp và chỉ đạo, quản lý các hoạt động
văn hóa.
4. Một số kinh nghiệm
Một là, Cần đặt lên hàng đầu việc bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, lối sống, lấy việc xây dựng nhân cách con người
làm trọng tâm cốt lõi của phát triển văn hóa; chăm lo xây dựng con người một cách toàn diện, thiết thực; kiên quyết
đấu tranh chống mọi tiêu cực xã hội làm tha hóa con người.
Hai là, tôn trọng, phát huy dân chủ, tính tích cực, sáng tạo, gắn với trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân của mỗi
cá nhân, tập thể, cộng đồng dân cư; tôn trọng pháp luật và thuần phong mỹ tục của dân tộc; khắc phục tình trạng
buông lỏng, hữu khuynh hoặc can thiệp thô bạo, mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo trong văn hóa.
Ba là, kịp thời thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa thành các chính sách, pháp luật của
Nhà nước, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị với phát triển văn
hóa; khắc phục tình trạng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt, không quan tâm các giá trị văn hóa.
Bốn là, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp, các ngành là nhân tố quyết định tạo
niềm tin trong nhân dân, làm tấm gương văn hóa, đạo đức cho xã hội noi theo.
Năm là, coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chỉ đạo, quản lý văn hóa, văn học, nghệ thuật, báo chí có
phẩm chất, năng lực, tâm huyết và trách nhiệm.
III. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN TỚI
1. Dự báo những yếu tố tác động đến sự phát triển văn hóa nước ta
2030 của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa và con người. Mục tiêu chung ngắn gọn, có tính khái quát cao thể hiện tư
tưởng nêu trong Cương lĩnh của Đảng về xây dựng, phát triển “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” gắn
với mục tiêu phát triển con người, phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
- Mục tiêu chung
Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh
thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là
sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
- Mục tiêu cụ thể
+ Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về
nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân
thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình,
với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.
+ Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ
quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi
trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố húc đẩy con người Việt Nam hoàn thiện nhân cách.
+ Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người thời
kỳ dẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
+ Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa
Việt Nam.
+ Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các
giai tầng xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.
- Một số chỉ tiêu văn hóa đến năm 2020 được ghi trong các chiến lược phát triển ở các lĩnh vực của ngành văn hóa,
thông tin do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: 100% số tỉnh, thành phố có đủ các thiết chế văn hóa; 90-100% số
quận, huyện, thị xã có nhà văn hóa và thư viện; 80-90% số xã, thị trấn có nhà văn hóa; 60-70% số làng, bản, ấp có
nhà văn hóa; phủ sóng truyền hình số mặt đất đạt 80% địa bàn dân cư; đạt 01 bản sách/ mỗi người trong thư việc
công cộng; đạt 05 bản sách/ mỗi người/ năm; đạt 01 lượt người/ năm đến rạp xem phim điện ảnh; 100% di tích quốc
gia đặc biệt, 70% di tích quốc gia được Nhà nước đầu tư bảo tồn; 70-80% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn
hóa; 65-70% số làng, bản, khu phố đạt tiêu chuẩn làng, bản, khu phố văn hóa; 80% “Doanh nghiệp đạt chuẩn văn
- Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa
kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ
thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
IV. NHIỆM VỤ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
Từ 10 nhiệm vụ ở Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, Nghị quyết lần này đề xuất sáu nhiệm vụ. Do
Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ và Nghị quyết
Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nên Nghị quyết lần này không đề cập đến
hai lĩnh vực trên như trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII. Xuyên suốt các nhiệm vụ của Nghị quyết là xây dựng
và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhân cách, lối sống tốt đẹp của con người Việt
Nam. Với cách tiếp cận đặt văn hóa trong mối quan hệ với kinh tế, chính trị và vấn đề mới xuất hiện trong xã hội.
Nghị quyết có hai nhiệm vụ mới là Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế và Phát triển công nghiệp văn hóa đi
đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa, tạo điểm nhấn trong tổ chức thực hiện. Trong từng nhiệm vụ cụ thể
cũng nêu nhiều vấn đề mới đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa, con người hiện nay, như xây dựng
nhân cách, lối sống con người, con người với môi trường, văn hóa với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quản lý thông
tin truyền thông, quyền tác giả và các quyền liên quan, quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ, xây dựng lý luận văn
hóa, văn nghệ, chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa…
Cụ thể sáu nhiệm vụ trong Nghị quyết như sau:
1. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào
dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi
người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc.
Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng
tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị
trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập. Đúc kết và xây dựng
hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Xây dựng và phát huy lối sống “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức
quảng bá tác phẩm, công trình về đề tài cách mạng, kháng chiến, lịch sử dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước. Từng
bước xây dựng hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam.
Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật nhằm tập hợp, tạo điều kiện để văn nghệ sĩ hoạt
động tích cực, hiệu quả. Khuyến khích nhân dân sáng tạo, trao truyền và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
Có cơ chế khuyên khích văn nghệ sĩ, nghệ nhân phát huy tài năng, năng lực sáng tác, quảng bá văn học, nghệ thuật
với ý thức đầy đủ về trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mình.
Trọng dụng, tôn vinh trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân trên cơ sở cống hiến cho đất nước. Chú trọng phát triển năng
khiếu và tài năng trẻ.
Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí đáp ứng yêu cầu phát triển, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Chú trọng công
tác quản lý các loại hình thông tin trên mạng internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho
thanh niên, thiêu niên. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và cơ chế đầu tư theo hướng ưu tiên các cơ quan
báo chí, truyền thông chủ lực. Các cơ quan truyền thông phải thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ
chủ yếu; nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam.
5.
Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa
Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt.
Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng
sản phẩm văn hóa. Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn lực
xã hội để phát triển.
Đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển thị trường văn hóa và công
nghiệp văn hóa.
Nâng cao ý thức thực thi các quy định pháp luật về quyền tác giả và các quyền liên quan trong toàn xã hội. Củng cố
và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý và cơ quan thực thi quyền tác giả từ Trung ương đến
địa phương.
6.
Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xác định xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam là một nhiệm vụ quan
trọng trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận
thức trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò gương mẫu, động viên, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi
Nghị quyết.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học - nghệ thuật, báo chí phát
triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên
cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân
chủ, hạn chế tự do sáng tạo.
Phải coi trọng xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước, mà nội dung quan trọng là học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Văn hóa, đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước
hết trong mọi tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, trong từng đảng
viên, hội viên. Sự gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên là yêu cầu quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng.
2.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa
Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông. Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ
thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế,
chính sách về văn hóa, về quyền tác giả và các quyền liên quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt
Nam.
Điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với tính đặc thù cùa văn hóa, nghệ thuật. Bổ sung chính sách
kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa;
có chính sách văn hóa đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các hội
nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Thúc đẩy
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực văn hóa.
Xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm. Các địa phương, các cơ quan, công sở, trường học, khu công
nghiệp, doanh nghiệp, khu dân cư... có thiết chế văn hóa phù hớp (thư viện, nhà văn hóa, công trình thể thao...)
Tăng cường đầu tư để đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để nâng cao khả năng dự báo và định hướng
phát triển văn hóa, xây dựng con người.
____________________
Chuyên đề 2:
MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHUẨN BỊ TIẾN TỚI ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG
Cùng với việc thông qua và ban hành Nghị quyết “về xây dựng và phát triển vàn hóa,
con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Hội nghị lần thứ
chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cũng đã cho chủ trương và định hướng
về một số vấn đề quan trọng liên quan đến công tác xây dựng đảng, chính quyền và
chuẩn bị tiến tới Đại hội XII của Đảng, trong đó có Quy chế bầu cử trong Đảng; việc lấy
phiếu tín nhiệm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng; chỉ
đạo tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiên tới Đại hội XII của Đảng.
I. VỀ QUY CHẾ BẦU CỬ TRONG ĐẢNG
Thực hiện Điều lệ Đảng và chương trình công tác của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Bộ Chính trị đã chỉ đạo
các ban tham mưu ở trung ương phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng Quy chế bầu cử trong
Đảng cho phù hợp với thực tiễn công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới để trình Ban Chấp hành Trung ương
xem xét, quyết định.
Quy chế bầu cử được xây dưng trên cơ sở các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương tổng kết việc thực
hiện Quy chế bầu cử số 220-QD/TW ngày 17-4-2009 của Bộ Chính trị khóa X và đề xuất nội dung xây dựng dự thảo
Quy chế bầu cử mới. Trong quá trình xây dựng Quy chế đã tổ chức hội thảo, thảo luận kỹ cả về bố cục cũng như nội
dung, nhất là các vấn để mới và ý kiến còn khác nhau.
Toàn văn dự thảo đã được lấy ý kiến các bí thư tỉnh ủy, thành ủy, bí thư ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực
thuộc Trung ương tại hai Hội nghị do đồng chí Thường trực Ban Bí thư được Bộ Chính trị phân công chủ trì; đồng
thời cũng được thảo luận, góp ý tại ba Hội nghị giao ban về công tác tổ chức xây dựng Đảng và hội nghị trưởng ban
hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
- Phù hợp với tình hình thực tiễn công tác xâv dựng Đảng và yêu cầu bầu cử trong Đảng hiện nay; phù hợp với thẩm
quyền ban hành Quy chế bầu cử trong Đảng của Ban Chấp hành Trung ương.
- Kế thừa những nội dung còn phù hợp của Quy chế bầu cử hiện hành, sửa đổi, bố sung các nội dung không còn
phù hợp, những vướng mắc phát sinh cần phải giải quyết để công tác bầu cử trong Đảng được thực hiện chặt chẽ,
đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
2. Về bố cục của Quy chế bầu cử trong Đảng
2.1. Quy chế bầu cử số 220-QĐ/TW ngày 17-4-2009 của Bộ Chính trị khóa X có 8 chương 33 điều; Quy chế bầu cử
mới có 7 chương 38 điều, phù hợp với việc điều chỉnh toàn bộ hoạt động bầu cử trong Đảng. Kết cấu của Quy chế
bầu cử mới như sau:
Chương I. Những quy định chung (có 3 điều).
Chương II. Nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử (có 5 điều).
Chương III. Ứng cử, đề cử, bầu cử, danh sách bầu cử, phiếu bầu cừ (có 10 điều).
Chương IV. Bầu các cơ quan, các chức vụ lãnh đạo của Đảng, bầu đại biểu dự đại hội cấp trên (có 13 điều).
Chương V. Tính kết quả và chuẩn y kết quả bầu cử (có 3 điều).
Chương VI. Xử lý vi phạm (có 3 điều).
Chương VII. Điều khoản thi hành (có 1 điều).
So với Quy chế bầu cử hiện hành, Quy chế bầu cử mới bỏ Chương quy định về đại biểu Đại hội (từ Điều 13 đến
Điều 19); bỏ Điều 11 quy định về Ban thẩm tra tư cách đại biểu, vì các nội dung này đã được thể hiện trong Quy định
thi hành Điều lệ Đảng số 45-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương.
2.2. Sắp xếp lại thứ tự các chương
Quy chế bầu cử mới đưa Chương III - Các tổ chức phụ trách việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử, lên Chương II và lấy
tên là: Nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử cho phù hợp với nội hàm các quy định đã được sửa đổi, bổ sung
của Chương này.
Tương tự như vậy, chuyển Chương II - Quyền ứng cử, đề cử, bầu cử, danh sách bầu cử, phiếu bầu cử, xuống thành
Chương III và lấy tên là: ứng cử, đề cử, bầu cử, danh sách bầu cử, phiếu bầu cử cho phù hợp với nội dung sửa đổi,
bổ sung của các quy định trong Chương này.
2.3. Bổ sung 12 điều mới
- Điều 6. Nhiệm vụ của Đoàn thư ký đại hội.
- Điều 8. Áp dụng đối với việc bầu cử không phải tại đại hội.
tiến hành bầu cử, nội dung của Chương này bỏ quy định về Ban Kiểm tra tư cách đại biểu, tách quy định về Nhiệm
vụ của Đoàn Thư ký thành một Điều mới (Điều 6) và bổ sung nhiệm vụ của Đoàn Thư ký cho phù hợp.
Các quy định còn lại về: Nhiệm vụ của cấp uỷ triệu tập Đại hội (Điều 4); Nhiệm vụ của Đoàn Chủ tịch (Điều 5); Quy
định về Ban Kiểm phiếu (Điều 7) cơ bản giữ như quy chế hiện hành.
3.3. Chương III. Ứng cử, đề cử, bầu cử, danh sách bầu cử, phiếu bầu cử (Điều 9 đến Điều 18)
Tại Chương này, ngoài việc đổi tên và chuyển thứ tự Chương II xuống Chương III cho phù hợp với logic về bố cục,
có các điểm mới sau:
3.1. Bổ sung Điều 9 quy định về ứng cử.
3.2. Bổ sung Điều 10 quy định về các thủ tục ứng cử.
3.3. Bổ sung Điều 11 quy định về đề cử.
3.4. Bổ sung Điều 12 quy định về thủ tục đề cử.
3.5. Quy định cụ thể tại Điều 13 những trường hợp hạn chế quyền ứng cử, đề cử.
3.6. Điều 16 quy định về số dư và danh sách bầu cử.
3.7. Bổ sung Điều 18 quy định về danh sách trích ngang của các ứng cử viên.
3.4. Chương IV. Trình tự bầu các cơ quan và các chức vụ lãnh đạo của đảng ở các cấp (từ Điều 19 đến Điều
31), có các nội dung chính là:
- Đề xuất danh sách nhân sự cấp uỷ khoá mới do cấp uỷ triệu tập đại hội chuẩn bị là danh sách đề cử chính thức
của đoàn chủ tịch (Quy chế bầu cử hiện hành quy định danh sách nhân sự do cấp uỷ triệu tập đại hội chuẩn bị là
danh sách để đại hội tham khảo).
- Quy định số dư tối đa trong danh sách bầu cử (Quy chế bầu cử hiện hành không quy định số dư tối đa, do vậy ở
một số đại hội (hội nghị) danh sách bầu cử có số dư gấp nhiều lần số lượng cần bầu dẫn đến phân tán kết quả).
- Điều 19 quy định trình tự, thủ tục bầu cấp uỷ.
- Điều 22 quy định trình tự, thủ tục bầu ban thường vụ.
- Bổ sung điều mới, Điều 24, quy định về trình tự, thủ tục bầu Bộ Chính trị.
- Bổ sung điều mới, Điều 25, quy định quy trình bầu Tổng Bí thư.
- Bổ sung điều mới, Điều 26, quy định quy trình bầu Ban Bí thư.
- Bổ sung điều mới, Điều 28, quy định bầu Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.
- Bổ sung điều mới, Điều 29, quy định bầu Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.
việc bầu cử được tập trung, tránh được trường hợp phải bầu cử nhiều lần do số dư quá lớn dẫn đến tình trạng phân
tán phiếu bầu. Mặt khác, để nêu cao vai trò và trách nhiệm của cơ quan triệu tập đại hội (hội nghị), cấp uỷ có thẩm
quyền trong chuẩn bị phương án nhân sự và lãnh đạo thực hiện phương án nhân sự theo nghị quyết.
Quy chế bầu cử trong Đảng quy định: Số lượng danh sách bầu cử cấp uỷ và ban thường vụ cấp uỷ phải nhiều hơn
số lượng cần bầu; số dư tối đa do đại hội (hội nghị) quyết định nhưng không quá 30% số lượng cần bầu, trong đó
cấp uỷ triệu tập đại hội (hội nghị) chuẩn bị nhân sự cấp uỷ và ban thường vụ có số dư từ 10 - 15%.
4.3. Về lập danh sách bầu cử
Danh sách đề cử của cấp uỷ đã qua quy trình quy hoạch, đào tạo, giới thiệu tín nhiệm từ cấp dưới đến cấp trên, đã
qua thẩm định rà soát chặt chẽ, toàn diện,...; đã được cấp uỷ xem xét, quyết định trên cơ sở tiêu chuẩn, bảo đảm cơ
cấu lãnh đạo cho ngành, lĩnh vực, vì vậy phải được coi là kênh đề cử chính thức của cấp uỷ. Do đó, chỉ nên lập danh
sách và lấy phiếu tín nhiệm đối với những đồng chí được đại biểu đề cử và tự ứng cử đại hội (hội nghị) để lựa chọn
đưa vào danh sách bầu cử theo số phiếu tín nhiệm từ cao đến thấp bảo đảm số dư theo quy định. Quy chế bầu cử
trong Đảng quy định:
- Danh sách do cấp uỷ triệu tập đại hội (hội nghị) đề cử là danh sách đề cử chính thức với đại hội (hội nghị).
- Đại hội (hội nghị) thảo luận và biểu quyết lập danh sách như sau:
+ Trường hợp danh sách gồm nhân sự do cấp uỷ triệu tập đề cử, do đại biểu đại hội (hội nghị) đề cử và người ứng
cử chưa đủ số dư 30% so với số lượng cần bầu thì đại hội (hội nghị) quyết định (có thể lấy danh sách đó làm danh
sách bầu cử).
+ Trường hợp danh sách gồm nhân sự do cấp uỷ triệu tập đề cử, do đại biểu đại hội (hội nghị) đề cử và người ứng
cử nhiều hơn 30% so với số lượng cần bầu thì xin ý kiến đại hội (hội nghị) về những người được đại hội (hôị nghị) đề
cử và người ứng cử; căn cứ kết qủa xin ý kiến lựa chọn theo số phiếu đồng ý từ cao đến thấp để lập danh sách bầu
cử có số dư tối đa không quá 30% so với lượng cần bầu.
+ Trường hợp danh sách bầu cử đã đủ số dư 30% mà ở cuối danh sách có nhiều người có số phiếu bằng nhau thì
đại hội (hội nghị) xem xét, quyết định lựa chọn theo cơ cấu, tuổi đảng, hoặc có thể để số dư cao hơn 30% so với số
lượng cần bầu.
- Danh sách bầu cử xếp thứ tự tên người theo vần A, B, C...; nếu có nhiều người trùng tên thì xếp theo họ; nếu trùng
cả họ thì xếp theo tên đệm; nếu cả ba dữ kiện này đều trùng thì người có tuổi đảng cao hơn được xếp tên trên.
- Trường hợp cần bầu lấy số lượng 1 người thì danh sách bầu cử là 2 người; bầu lấy số lượng 2 người thì danmh
cứu, xây dựng dự thảo quy định và trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành Quy định số 165-QĐ/TW ngày 18-2-2013.
- Giao Đảng đoàn Quốc hội phối hợp với Ban Cán sự đảng Chính phủ và Ban Tổ chức Trung ương xây dựng quy
trình, thủ tục, cách thức thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân
bầu hoặc phê chuẩn.
- Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Đảng đoàn Quốc hội đã tập trung chỉ đạo sát sao, phân công nhiệm vụ
cụ thể đối với lãnh đạo Quốc hội và các cơ quan giúp việc. Đảng đoàn và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã dành ba
phiên họp để thảo luận, xem xét và ban hành Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21-11-2012 của Quốc hội và Nghị
quyết số 561/2013/QH13 ngày 16-1-2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn thi hành một số điều của
Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21-11-2012 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với
người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Tại phiên họp thứ 17, 18 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nghe Ban Công tác đại biểu báo cáo về tình hình chuẩn bị lấy
phiếu tín nhiệm tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIII; theo đó tiếp tục chỉ đạo, cụ thể hóa quy trình, thủ tục, chuẩn bị
văn bản, tài liệu và các điều kiện để Quốc hội tiến hành việc lấy phiếu tín nhiệm một cách chu đáo, thận trọng, bảo
đảm đạt được mục đích, yêu cầu đề ra.
- Để việc triển khai lấy phiếu tín nhiệm ở hội đồng nhân dân cấp tỉnh được chặt chẽ, bảo đảm đúng mục đích, yêu
cầu, Ban Bí thư đã có văn bản chỉ đạo đến ban thường vụ các tỉnh uỷ, thành ủy (Công văn số 166-CV/TW ngày 156-2013); Chủ tịch Quốc hội có công thư gửi các đồng chí chủ tịch hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố, quán triệt
mục đích, yêu cầu về công tác lãnh đạo lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm ở hội đồng nhân dân các cấp theo
đúng quy định của pháp luật, bảo đảm nguyên tắc thống nhất Đảng lãnh đạo và quản lý đội ngũ cán bộ. Đảng đoàn
và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã mời đại diện thường trực hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương dự tham khảo việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội, rút kinh nghiệm để tổ chức thực hiện ở địa
phương.
- Thường trực hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố đều tiến hành báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của ban thường vụ
tỉnh ủy, thành ủy về quy trình, thủ tục lấy phiếu tín nhiệm. Trên cơ sở quy định của pháp luật, nghị quyết, chỉ thị, quy
định của Trung ương; ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy đã ban hành các văn bản chỉ đạo việc lấy phiếu tín
nhiệm đối với ba cấp tỉnh, huyện, xã; có nơi tổ chức làm điểm để tham khảo, rút kinh nghiệm.
2. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm
Triển khai thực hiện Quy định số 165-QĐ/TW ngày 18-2-2013 của Bộ Chính trị về lấy phiếu tín nhiệm đối với thành
viên lãnh đạo cấp uỷ và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể