BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
BỘ MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM I
TIỂU LUẬN
QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – HOA KÌ GIAI ĐOẠN
1945-1954
Giảng viên hướng dẫn cô
: Nguyễn Phú Tân Hương
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Sinh Hoàng
Lớp
: CT38H
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
NỘI DUNG TÌM HIỂU .................................................................................. 2
I. QUAN HỆ VIỆT NAM – MỸ 1945-1949............................................... 2
1. Bối cảnh nước mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai ................................ 2
2. Bối cảnh Việt Nam sau cách mạng tháng tám năm 1945....................... 3
II.
Quan hệ Việt Nam – trong giai đoạn 1950-1954
III.
Quan hệ Việt Nam – Mỹ về vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại
hòa bình ở Đông Dương
1
NỘI DUNG TÌM HIỂU
I. QUAN HỆ VIỆT NAM – MỸ 1945-1949
1. Bối cảnh nước mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới đã có sự thay đổi
căn bản, tác động, chi phối đến quan hệ quốc tế, cũng như đối với dòng chảy
lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia ở cả châu Âu, châu Á và khu vực Mỹ
Latinh. Có thể nhận thấy một số nhân tố quan trọng góp phần quyết định sự
chi phối tiến trình lịch sử thế giới sau năm 1945.
Chủ nghĩa xã hội từ một nước đang trong quá trình hình thành một hệ
thống thế giới và dần dần có vai trò là một nhân tố góp phần quyết định sự
phát triển của lịch sử xã hội loài người. Ngay sau khi ra đời, hệ thống xã hội
chủ nghĩa, đứng đầu là liên xô, đã thể hiện được ưu thế của mình trên nhiều
lĩnh vực1. Nó đã phát huy mạnh mẽ vai trò trụ cột, uy tín và ảnh hưởng đối
với phong trào cách mạng thế giới. Dưới ảnh hưởng trực tiếp của nhà nước xã
hội chủ nghĩa Xô Viết, chủ nghĩa xã hội không chỉ chiến thắng ở Đông Âu mà
nghĩa. Vì thế “diễn văn Fulton” được coi là lời kêu gọi phát động cuộc “chiến
tranh thập tự” mà mũi nhọn của nó chía vào Liên Xô và phong trào cách
mạng thế giới. Cùng với học thuyết Truman, “diễn văn fulton” là phát súng
lệnh mở đầu cuộc “chiến tranh lạnh” của chủ nghĩa đế quốc mà trọng tâm của
chiến lược này là bao vây, ngăn chặn Liên xô.
2. Bối cảnh Việt Nam sau cách mạng tháng tám năm 1945
Thắng lợi nhanh chóng của cuộc tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945
ở việt nam đã gây sự bất ngờ lớn đối với thế lực thù địch đang có âm mưu
chống phá nước ta. Vì thế, cuộc đấu tranh tiếp theo để bảo vệ thành quả cách
mạng của nhân dân Việt Nam gặp nhiều thử thách lớn.
Trước hết nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa ra đời phải đối
phó ngay với các thế lực thù địch bên ngoài kéo tới để thực thi quyết định của
hội nghị Potsdam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. ở miền Bắc có
khoảng 20 vạn quân của tưởng giới thạch, miền Nam lực lượng quân Anh kéo
đến. Ngoài lực lượng của quân Tưởng, quân Anh, còn có mặt khoảng 6 vạn
3
quân nhật đã đầu hàng nhưng chưa về nước và quân pháp. Như vậy, cùng một
lúc trên đất nước ta có mặt gần 30 vạn quân chính quy của các thế lực Anh,
Pháp, Nhật, tưởng. Nguy cơ đe dọa trực tiếp là âm mưu quay trở lại đánh
chiếm Đông Dương của thực dân pháp. Bên cạnh đó, các lực lượng phản động
trong nước cũng ngóc đầu dậy chống phá chính quyền cách mạng. Chua bao
giờ trên đất nước Việt Nam lại có nhiều kẻ thù đến thế.
3. Vấn đề công nhận độc lập của việt nam và thiết lập quan hệ ngoại giao
chính thức Việt Nam – Mỹ
Trong bối cảnh lịch sử sau khi cách mạng tháng tám 1945 thành công,
vấn đề quan hệ Việt – Mỹ phải xuất phát từ chủ trương đối ngoại chung của
đảng và chính phủ lúc bấy giờ.
Mục tiêu chung của các thế lực đế quốc và phản động là chống phá
1. Mỹ trong những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ XX
Vào cuối những năm 40, tình hình quốc tế có nhiều biến chuyển tác
động mạnh đến vị trí của Mỹ.
Ở châu Á, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã lần lượt làm chủ
hoàn toàn lục địa Trung Quốc buộc chính quyền Trung Hoa Dân Quốc của
Tưởng Giới Thạch và bộ tư lệnh Mỹ ở Trung Quốc phải rút chạy ra Đài Loan.
Còn ở châu Âu, nước cộng hòa dân chủ Đức được thành lập(10/1949),
và việc Liên Xô thử thành công bom nguyên tử (10/7/1949), làm cho Mỹ mất
độc quyền vũ khí nguyên tử.
Trước những biến động mới của tình hình quốc tế và trong nội tình nước
Mỹ, chiến lược của Mỹ buộc phải có những điều chỉnh quan trọng. ở tây Âu,
từ cuối 1949, Mỹ tăng số đơn vị lục quân Mỹ ở đó lên gấp 3 lần, ở khu vực
châu Á, chiến lược ngăn chặn cũng có sự điều chỉnh.
Trong quá trình điều chỉnh chiến lược ngăn chặn ở Châu Á, Mỹ đã
chọn Đông Bắc Á làm chiến trường trọng điểm, vì thế mọi cố gắng, nỗ lực
quân sự của Mỹ đều được tập trung vào đây nhằm hình thành thế bố trí chiến
lược Nhật Bản - nam Triều Tiên – Đài Loan. Nhưng sự phát triển sôi động
của tình hình chính trị ở khu vực châu Á đã diễn ra theo chiều hướng bất lợi
cho việc thực hiện chiến lược của Mỹ. Việc ra đời nước cộng hòa nhân dân
5
Trung Hoa, sự thành lập nước cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, phong
trào đấu tranh vì độc lập dân tộc ngày càng dâng cao ở khu vực Đông Nam Á,
đã đẩy Mỹ vào thế bị động, lúng túng, cần thế giới tự do. Cùng với Triều Tiên,
Đông Dương trở thành một trong hai gọng kìm chiến lược “ngăn chặn cộng
sản” của Mỹ ở phía đông Châu Á. Do vậy nền an ninh của thế giới tự do tùy
thuộc vào sự sống còn của Đông Dương thuộc pháp. Trong Đông Dương Mỹ
chú trọng đặc biệt đến Việt Nam mà việc bảo vệ bắc kỳ là quan trọng nhất.
Bởi vì, giữ được Bắc Kỳ là điều quan trọng đối với việc giữ cho lục địa Đông
thiệp Mỹ, thực hiện kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Cũng từ sự
lớn mạnh về mọi mặt trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến, uy tín của
Việt Nam đã được nâng cao trên trường quốc tế, phá vỡ thế bị bao vây, cô lập
với thế giới bên ngoài.
Đầu năm 1950, nhận lời mời của đảng và chính phủ các nước Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa và Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết,
chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm hai nước bạn. Nhân dịp này người đã trao
đổi nhiều ý kiến về tình hình thế giới và các vấn đề liên quan đến cuộc kháng
chiến của Việt Nam. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử ngoại
giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, vì nó góp phần phá vỡ vòng vây
của chủ nghĩa đế quốc đối với nước ta. Từ đó mở rộng hậu phương quốc tế,
tạo hậu thuẫn vững mạnh cho cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và can
thiệp Mỹ.
Từ đây Việt Nam trở thành một tiền tiêu trong mặt trận dân chủ chống
đế quốc ở Đông Nam Á. Điều này càng làm tăng sự lo ngại của Mỹ đối với
Việt Nam và Đông Dương nói chung. Do đó vấn đề Việt Nam và Đông
Dương càng được Mỹ đặc biệt chú ý hơn trong các văn kiện ngoại giao cũng
như trong các hoạt động thực tiễn của mình ở khu vực này.
3. Đối sách của đảng và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong việc
Mỹ can thiệp vào Đông Dương
Đảng ta vẫn luôn phân biệt rất rõ bản chất và âm mưu của Mỹ đối với
thế giới nói chung, Việt Nam và Đông Dương nói riêng. Không phải ngẫu
nhiên mà từ năm 1947, đồng chí Trường Chinh đã nhấn mạnh “ kế hoạch
7
marshall” đã thò ra cái ngón tay tham lam của Mỹ muốn bắt pháp phải dành
quyền lợi ở thuộc địa Pháp cho Mỹ. Tiếp đó hội nghị toàn quốc lần thứ III của
đảng(tháng 1,2 – 1950) đã nhận định rằng, Đông Dương hiện là nơi hai thế
lực dân chủ chống đế quốc và đế quốc phản dân chủ tranh chấp nhau. Và bọn
TRANH, LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG
Khi xác định tầm quan trọng chiến lược của Đông Dương nói chung
và Việt Nam nói riêng, các nhà chiến lược quân sự Mỹ đã mô tả bằng một
hình ảnh đầy sinh động: “nếu Đông Nam Á là ổ khóa để mở cửa vào lục địa
châu Á thì Đông Dương là chìa khóa” . đối với Mỹ, từ những năm 1950 trở đi,
Đông Dương là một khu vực then chốt và đang bị trực tiếp đe dọa. Từ năm
1950 tình hình đã khác rất nhiều, với sự hình thành và phát triển của hệ thống
xã hội chủ nghĩa trên thế giới, việc Việt Nam chính thức gia nhập hệ thống
này đã khiến Mỹ coi Việt Nam như “cái nút của chiếc bình” nếu cái nút được
mở ra thì chủ nghĩa xã hội sẽ tràn ngập vào làm chìm ngập “ thế giới tự do”
của Mỹ ở Đông Nam Á.
Từ những năm 1950, trong thực tế đã tồn tại hai khối nước có chế độ
chính trị và xu hướng phát triển kinh tế, xã hội khác nhau, đã tác động đến
cuộc chiến tranh Việt Nam và Đông Dương. Việc thế giới hình thành hai hệ
thống đối địch nhau, càng làm cho cuộc chiến ở Việt Nam và Đông Dương
mang tính chất cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống. Diễn biến tình hình trên
chiến trường Việt Nam và Đông Dương từ những năm 1950 trở đi đã cho thấy,
đây là nơi tập trung hành động của các nước lớn (Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc).
Chính sách của các nước lớn đều có tác động đến các tiến trình, kết cục của
cuộc chiến cũng như “quyết định sự ổn định của khu vực châu Á.
Cho đến cuối những năm 1949 đầu năm 1950 do những biến động mới
của tình hình quốc tế và sự phát triển ngày càng lớn mạnh của sự nghiệp
kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã khiến Mỹ nhận thức rõ hơn tầm quan
trọng chiến lược đặc biệt của Việt Nam đối với quyền lợi của Mỹ ở Đông
Nam Á nói riêng và châu Á nói chung. Từ đây Việt Nam trở thành một điểm
tiền tiêu trong mặt trận dân chủ chống đế quốc ở Đông Nam Á. Diều này càng
đẩy Mỹ tăng cường những hoạt động can thiệp trực tiếp, mạnh mẽ vào Việt
Nam và Đông Dương, cũng vì thế mà thái độ của Mỹ đối với Việt Nam ngày
càng tiến triển theo chiều xấu đi.
9
trương này thực sự được nhân dân Mỹ hoan nghênh, ủng hộ, có sức thuyết
phục lớn. Với đường lối đối ngoại của Đảng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự
phát triển vững chắc, nhanh chóng con đường đổi mới, nhân dân ta sẽ góp
phần gìn giữ, phát triển quan hệ Việt Nam – Mỹ ngày một tốt đẹp hơn.
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Âm mưu của đế quốc Pháp – Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Nxb sử học, Hà Nội 1963.
2.
Âm mưu xâm lược Đông Dương của đế quốc Mỹ. Tổng cục chính
trị Bộ Tổng tư lệnh xuất bản 1995.
3.
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: văn kiện Đảng 1945-
1954, tập 2, Hà Nội 1979.
4.
Ngọc An: bộ đội Việt – Mỹ. Tạp chí nghiên cứu Lịch sử quân sự,
tháng 10, 1986.