1
Tiểu luận
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
2
Mục lục
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG CHÍNH 6
Chương 1: Nhìn lại những chính sách quan trọng. 6
1.1. Mục tiêu chung của những chính sách đối với phụ nữ 6
1.2. Những mục tiêu cụ thể của chính sách đối với phụ nữ 6
Chương 2: Những chính sách cụ thể đối với phụ nữ 9
2.1. Chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ: 9
2.1.2. Nội dung chính sách 10
2.1.3. Giải pháp thực hiện chính sách 12
2.1.4. Thực tế thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ. 14
2.1.5: Nhận xét: 14
2. 2. Chính sách đối với lao động nữ 15
2.2.1. Những văn bản quy định riêng đối với lao động nữ 15
2.2.2. Mục tiêu của chính sách. 20
2.2.3. Nhận xét: 21
2.3. Chính sách thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo: 23
2.3.1. Một số văn bản quy định. 23
2.3.2. Mục tiêu của chính sách 24
Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản
xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất,
phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội
4
Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá
nhân loại. Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham
gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ. Song song với những hoạt động
góp phần sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, phụ nữ còn tích cực tham
gia đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại. Đó
là vai trò của người phụ nữ nói chung trên toàn thế giới và ngay tại Việt Nam vai
trò của người phụ nữ cũng rất quan trọng.
Phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam tham gia tích cực vào việc giảm nghèo và
phát triển gia đình, cộng đồng và đất nước. Tuy nhiên, họ vẫn là nạn nhân của phân
biệt đối xử, bạo lực, bất bình đẳng giới và các rào cản xã hội khác trong việc tiếp
cận dịch vụ công, cơ hội việc làm và kinh tế, thu nhập, kiểm soát chính cơ thể
mình, đặc biệt là trong việc tham gia chính trị. Phần lớn thời gian, công việc của họ
tại nhà và tại nơi làm việc không được trả công, không được thừa nhận cho thỏa
đáng, và bị coi là những việc chỉ dành cho nữ.
Trong buổi tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ lần thứ
11 (WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) diễn ra
vào tháng 9 – 2006 tại Hà Nội, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết khẳng định “Ðảng,
Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về vai trò của phụ nữ trong phát
triển và hội nhập quốc tế”. Chủ tịch nêu rõ: "Ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất
quan trọng. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực
trong nhiều hoạt động. Trong thời kỳ hòa bình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ
cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật Vai trò của
phụ nữ hoàn toàn xứng đáng với tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân
dành tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Như vậy người phụ nữ có
một vị trí rất quan trọng trong xã hội.
đình trên toàn quốc . Hàng vạn phụ nữ đã phải xa gia đình, quê hương để di cư lao
động tới những vùng kinh tế phát triển trong nước hoặc ở nước ngoài. Họ lao động
chăm chỉ, tiết kiệm sinh hoạt để hy vọng có thể mang lại những cải thiện về thu
nhập, nâng cao mức sống cho gia đình.”
Trong gia đình, bên cạnh các công việc ở cơ quan giống như nam giới, phụ
nữ vẫn phải đảm nhận các vai trò khác trong gia đình như chăm sóc con cái, nội
trợ, dọn dẹp nhà cửa.
Hiện nay đã có một số chính sách được đưa ra nhằm đảm bảo sự bình đẳng
và quyền lợi của phụ nữ. Ví dụ như chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho
6
phụ nữ, chính sách đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm cho phụ nữ, chính sách thú đẩy
phụ nữ tham gia lãnh đạo,quản lý, chính sách bảo vệ phụ nữ….Mặc dù đã có
những kết quả khả quan Tuy nhiên những chính sách này còn bộc lộ nhiều hạn chế
và tồn tại nhiều bất cập.
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Nhìn lại những chính sách quan trọng.
Có rất nhiều chính sách xã hội của Đảng và nhà nước đã được ban hành
nhưng nhóm chúng tôi chỉ tập trung phân tích một số chính sách quan trọng sau:
Chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, chính sách thúc đẩy phụ nữ
tham gia lãnh đạo, chính sách bảo vệ phụ nữ chống bạo lực gia đình ,chính sách hỗ
trợ việc làm cho phụ nữ, chính sách đối với lao động nữ.
1.1. Mục tiêu chung của những chính sách đối với phụ nữ
Chiến lược có mục tiêu tổng quát là : "Đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm
bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh
vàbền vững của đất nước."
1.2. Những mục tiêu cụ thể của chính sách đối với phụ nữ
Chiến lược có 7 mục tiêu cụ thể, mỗi mục tiêu lại có những chỉ tiêu đo đếm
được. Các mục tiêu và các chỉ tiêu được nêu trong chiến lược là
và 95% vào năm 2020.
Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 40% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020. Tỷ
lệ nữ tiến sỹ đạt 20% vào năm 2015 và 25% vào năm 2020.
* Mục tiêu 4: Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe.
Chỉ tiêu 1: Tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100
trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020.
Chỉ tiêu 2: Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống
58,3/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015 và xuống dưới 52/100.000 vào năm 2020.
8
Chỉ tiêu 3: Tăng tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiếp cận dịch vụ chăm sóc và
dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con lên 40% vào năm 2015 và lên 50% vào
năm 2020 so với năm 2010.
Chỉ tiêu 4: Giảm tỷ lệ phá thai xuống 27/100 trẻ đẻ sống vào năm 2015 và
xuống dưới 25/100 vào năm 2020.
* Mục tiêu 5: Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thông tin.
Chỉ tiêu 1: Đến năm 2015 giảm 60% và đến năm 2020 giảm 80% sản phẩm
văn hoá, thông tin mang định kiến giới. Tăng thời lượng phát sóng các chương
trình, chuyên mục và số lượng các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng
giới.
Chỉ tiêu 2: Đến năm 2015 có 90% và đến năm 2020 có 100% đài phát thanh
và đài truyền hình ở trung ương và địa phương có chuyên mục, chuyên đề nâng cao
nhận thức về bình đẳng giới.
* Mục tiêu 6: Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước
xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới.
Chỉ tiêu 1: Rút ngắn khoảng cách về thời gian tham gia công việc gia đình
của nữ so với nam xuống 2 lần vào năm 2015 và xuống 1,5 lần vào năm 2020.
Chỉ tiêu 2: Đến năm 2015 đạt 40% và đến năm 2020 đạt 50% số nạn nhân của
bạo lực gia đình được phát hiện được tư vấn về pháp lý và sức khỏe, được hỗ trợ và
2.1.1. Các mục tiêu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản:
2.1.1.1. Mục tiêu chung:
Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khoẻ sinh sản được cải thiện rõ
rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng
tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản (CSSKSS) phù hợp
với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và
đối tượng có khó khăn.
10
2.1.1.2. Mục tiêu cụ thể:
Tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, cũng như sự ủng hộ và cam kết
thực hiện các mục tiêu và các nội dung của CSSKSS trong mọi tầng lớp nhân dân,
trước hết trong cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu trong các tổ chức, đoàn
thể.
Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh. Bảo đảm quyền sinh con và lựa chọn
các biện pháp tránh thai có chất lượng của phụ nữ và các cặp vợ chồng. Giảm có
thai ngoài ý muốn và các tai biến do nạo hút thai.
Nâng cao tình trạng sức khoẻ của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh
tật, tử vong mẹ, tử vong chu sinh và tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa
các vùng và các đối tượng, đặc biệt chú ý các vùng khó khăn và các đối tượng
chính sách.
Dự phòng có hiệu quả để làm giảm số mắc mới và điều trị tốt các bệnh
nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS
và tình trạng vô sinh.
CSSKSS tốt hơn cho người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi, phát hiện
và điều trị sớm các trường hợp ung thư vú và các ung thư khác của đường sinh sản
nam và nữ.
Cải thiện tình hình sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục của vị thành
niên, thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ CSSKSS phù hợp
với lứa tuổi.
Tiếp tục các hoạt động đã bắt đầu trong giai đoạn 1.
Tập trung xây dựng các chỉ số tác động toàn diện hơn cùng với các chỉ số
giám sát nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc.
Phát triển việc cung cấp đầy đủ các dịch vụ CSSKSS theo quan niệm
rộng ở mọi cấp.
Thể chế hoá việc lập kế hoạch, kiểm tra và đánh giá của các nhà quản lý
trên cơ sở sử dụng tốt các số liệu có độ tin cậy cao hơn.
Tiếp tục thực hiện các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá
và thông tin - giáo dục - truyền thông có chất lượng để không ngừng cập nhật kỹ
năng và trình độ cho cán bộ.
Trong quá trình thực hiện Chiến lược, cần luôn luôn chú trọng đến việc
phát triển năng lực đi đôi với việc xác định phương hướng đầu tư các nguồn lực
một cách có hiệu quả nhất để bảo đảm sự phát triển bền vững của Chiến lược.
Điều 2. Bộ Y tế là cơ quan chủ quản thực hiện Chiến lược, phối hợp với các
Bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng kế hoạch, hướng dẫn kiểm tra, giám sát
và tổng hợp tình hình thực hiện Chiến lược hàng năm để báo cáo Thủ tướng Chính
12
phủ; tổ chức sơ kết thực hiện Chiến lược vào giữa năm 2005 và tổng kết việc thực
hiện Chiến lược vào năm 2010.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan
thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
2.1.3. Giải pháp thực hiện chính sách
Tăng cường thông tin - giáo dục - truyền thông:
Sử dụng đa dạng và có hiệu quả các kênh truyền thông và các hình thức
thông tin, giáo dục truyền thông khác, tiếp cận đến mọi đối tượng để nâng cao
nhận thức, tri thức, hiểu biết và cam kết thực hiện các mục tiêu và nội dung của
y tế tuyến cơ sở. Chú trọng đào tạo thực hành, rèn luyện tay nghề vững chắc, bồi
dưỡng kỹ năng truyền đạt, giao tiếp với các loại đối tượng và với cộng đồng. Tập
trung nghiên cứu vấn đề vô sinh, nuôi con bằng sữa mẹ, các bệnh của hệ thống
sinh dục đặc biệt là ung thư ở các cơ quan sinh sản, sức khoẻ tình dục và hành vi
tình dục, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, sức khoẻ sinh sản nam giới và kiến thức,
thái độ và thực hành liên quan đến SKSS và một số vấn đề khác có liên quan để
nâng cao chất lượng CSSKSS.
Nguồn kinh phí phục vụ cho CSSKSS:
Nguồn kinh phí phục vụ cho CSSKSS bao gồm ngân sách nhà nước, bảo
hiểm y tế, viện phí và dịch vụ phí, các nguồn hợp tác song phương và đa phương
của các tổ chức phi chính phủ và sự đóng góp của cộng đồng; trong đó nguồn ngân
sách nhà nước là chủ yếu và được bố trí thành một khoản riêng trong mục lục ngân
sách của các cấp để sử dụng chủ yếu cho việc tăng cường nhân lực, đào tạo bổ túc
cán bộ, thông tin giáo dục truyền thông, nghiên cứu và ứng dụng khoa học - kỹ
thuật, bổ sung một phần cơ sở vật chất - kỹ thuật, tăng cường công tác quản lý,
điều phối và hỗ trợ các ban, ngành trong các hoạt động về SKSS. Nguồn ngân sách
nhà nước bố trí theo kế hoạch. Bộ Tài chính cân đối các khoản này, bố trí một
khoản riêng và ghi trong kế hoạch nhà nước hàng năm.
Về lãnh đạo và quản lý:
Tăng cường công tác quản lý và điều phối các hoạt động CSSKSS, trong
đó có việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý y tế, thông tin về
CSSKSS.
14
2.1.4. Thực tế thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.
Phần lớn các địa phương trong cả nước đều tổ chức thực hiện các hoạt động
nhằm chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ. Có thể kể đến các hoạt đông như:
Tổ chức khám thai định kỳ hàng tháng cho phụ nữ có thai.
Tổ chức các buổi tuyên truyền, phổ biến các kiến thức về chăm sóc sức khỏe
sinh sản, kế hoạch hóa gia đình.
Cơ sở vật chất, kỹ thuât và đội ngũ cán bộ của các cơ sở y tế ở nhiều địa
phương vẫn còn nhiều hạn chế.
2. 2. Chính sách đối với lao động nữ
2.2.1. Những văn bản quy định riêng đối với lao động nữ
Điều 109
1. Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của người phụ nữ bình đẳng về mọi
mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều
kiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm
việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao
việc làm tại nhà.
2. Nhà nước có chính sách và biện pháp từng bước mở mang việc làm, cải
thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng
cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ
phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và
cuộc sống gia đình.
Điều 110
1. Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm mở rộng nhiều loại hình đào tạo
thuận lợi cho lao động nữ để ngoài nghề đang làm người lao động nữ còn có thêm
nghề dự phòng và để việc sử dụng lao động nữ được dễ dàng, phù hợp với đặc
điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ.
2. Nhà nước có chính sách ưu đãi, xét giảm thuế đối với những doanh
nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ.
Điều 111
1. Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ
nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ.
16
Người sử dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về
tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động.
lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản được quy định tại Điều 141 và Điều 144
của Bộ luật này.
2. Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu,
người lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thỏa
thuận với người sử dụng lao động. Người lao động nữ có thể đi làm việc trước khi
hết thời gian nghỉ thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất được hai tháng sau khi sinh và có
giấy của thầy thuốc chứng nhận việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức
khỏe và phải báo cho người sử dụng lao động biết trước. Trong trường hợp này,
người lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản, ngoài tiền lương của
những ngày làm việc.
Điều 115
1. Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có thai từ
tháng thứ bảy hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và
đi công tác xa.
2. Người lao động nữ làm công việc nặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ
bảy được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc giảm bớt một giờ làm việc hàng
ngày mà vẫn hưởng đủ lương.
3. Người phụ nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút;
trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời
gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương.
Điều 116
1. Nơi có sử dụng lao động nữ, phải có chỗ thay quần áo, buồng tắm và
buồng vệ sinh nữ.
2. Ở những nơi sử dụng nhiều lao động nữ, người sử dụng lao động có trách
nhiệm giúp đỡ tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc hỗ trợ một phần chi phí cho lao
động nữ có con ở lứa tuổi gửi trẻ, mẫu giáo.
Điều 117
18
1. Trong thời gian nghỉ việc để đi khám thai, để thực hiện biện pháp kế
2. Quyền lợi được hưởng:
2.1. Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản: Người lao động được nghỉ
việc hưởng trợ cấp thai sản do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả cho thời gian nghỉ (kể
cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần) như sau:
Sinh con được nghỉ 4 tháng nếu làm việc ở điều kiện bình thường; 5 tháng
nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm kể cả lao động làm
nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm việc theo chế độ
3 ca, làm việc từ đủ 6 tháng trở lên ở nơi có phụ cấp khu vực 0,7 trở lên trong thời
gian 12 hai tháng trước khi sinh con; 6 tháng đối với lao động nữ là người tàn tật.
Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ nêu trên thì tính từ con thứ hai
trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm 30 ngày;
Sau khi sinh, nếu con dưới 60 ngày tuổi chết thì mẹ được nghỉ việc 90 ngày
kể từ ngày sinh con; nếu con từ 60 ngày tuổi trở lên chết thì mẹ được nghỉ 30 ngày
kể từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt
quá thời gian được nghỉ khi sinh con theo quy định;
với trường hợp sau khi sinh con mà mẹ chết:
Nếu cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội hoặc chỉ có cha tham gia
bảo hiểm xã hội, thì cha nghỉ việc chăm sóc con được hưởng chế độ thai sản cho
đến khi con đủ 4 tháng tuổi;
Nếu chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội, thì cha hoặc người trực tiếp nuôi
dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi;
Nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi được nghỉ hưởng chế độ thai sản cho
đến khi con đủ 4 tháng tuổi;
Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ
hưởng chế độ thai sản 10 ngày nếu thai dưới 1 tháng; 20 ngày nếu thai từ 1 tháng
đến dưới 3 tháng; 40 ngày nếu thai từ 3 tháng đến dưới 6 tháng; 50 ngày nếu thai
từ 6 tháng trở lên;
20
Khi đặt vòng tránh thai được nghỉ 7 ngày và khi thực hiện biện pháp triệt
Việc tăng thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con lên
06 tháng, lao động nữ có thể nghỉ trước khi sinh không quá 2 tháng là sự cần thiết
nhằm bảo đảm sức khỏe của lao động nữ và trẻ sơ sinh. Hiện tại, Việt Nam đang
nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cao nhất
nhì thế giới, đặc biệt là suy dinh dưỡng thể thấp còi (hiện tại toàn quốc còn trên
31,8%). Một trong số các nguyên nhân là do trẻ em không được bú sữa mẹ hoàn
toàn trong 6 tháng đầu. Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2010, chỉ có hơn 18% trẻ
em Việt Nam được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời. Do vậy, Bộ luật
Lao động quy định về thời gian nghỉ thai sản 6 tháng nhằm đáp ứng khuyến nghị
của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Nhi đồng của Liên Hiệp Quốc
(UNICEF) về việc “nuôi con từ 0- 6 tháng tuổi hoàn toàn bằng sữa mẹ”. Ngoài ra,
Bộ luật Lao động còn quy định quyền đi làm việc sớm sau khi đã nghỉ thai sản ít
nhất là 04 tháng. Có thể nói đây là những chính sách mới đã được cân nhắc một
cách kỹ lưỡng trên nhiều khía cạnh khác nhau, không chỉ nhằm bảo đảm mục tiêu
bình đẳng thực chất mà còn nhằm thúc đẩy, phát huy vai trò của phụ nữ trong công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
2.2.3. Nhận xét:
Chính sách đưa ra thể hiện sự quan tâm của Đangr và nhà nước đối với lao
động nữ, chính sách được áp dụng rộng rã trong tất cả các lĩnh vực của lao động,
có sự ưu tiên về các chế độ cho phụ nữ như: chế độ nghỉ ngơi, chế độ thai sản,
Hạn chế của chính sách:
Hoạt động công tác nữ công ở một số ngành, địa phương, cơ sở còn mang
tính hình thức, chưa nắm chắc và phản ánh kịp thời tư tưởng, tâm trạng, nguyện
vọng của lao động nữ. Chưa cụ thể hóa rõ nội dung, hình thức hoạt động cho phù
hợp với từng loại hình cơ sở, từng đối tượng lao động nữ. Việc phát hiện, bồi
dưỡng, phát triển nhân tố mới là lao động trực tiếp còn chưa nhiều. Trong công tác
tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác nữ công, nhiều nơi còn khoán trắng cho Ban nữ
công đại diện. Đội ngũ cán bộ nữ làm công tác nữ công mặc dù có sự phát triển,
song nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của tình hình mới.
. Các chế độ chính sách, mục tiêu quốc gia của Nhà nước đã ban hành vì sự tiến bộ
của phụ nữ có lúc, có nơi chưa triển khai đồng bộ; một số cấp uỷ đảng, chính
quyền, đoàn thể chưa thực sự quan tâm đến cán bộ nữ.
Công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ chưa thực sự được quan tâm đúng mức,
việc đề bạt cán bộ nữ ở các cấp còn nhiều bất cập, tỷ lệ nữ tham gia vào cấp uỷ,
23
chính quyền, cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành còn thấp so với tỷ lệ
lao động nữ và so với nam giới ở các cương vị lãnh đạo.
Trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, trình độ quản lý, trình
độ chính trị của phụ nữ nhìn chung còn thấp so với nam giới, vẫn còn bộ phận
chị em thiếu ý thức vươn lên, còn biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, định kiến, níu kéo
nhau. Tư tưởng trọng nam hơn nữ còn khá phổ biến, tình trạng bạo lực gia đình
ngày một gia tăng, gánh nặng gia đình cũng làm cản trở sự tiến bộ của phụ nữ.
2.3. Chính sách thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo:
2.3.1. Một số văn bản quy định.
Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị về “Công tác Phụ nữ trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã đề cập tới một số giải pháp như:
Nhà nước cần có chính sách ưu tiên trong đào tạo đối với cán bộ Nữ; từng cơ quan,
đơn vị, tổ chức cần ưu tiên cho phụ nữ đi đào tạo khi chị em có nguyện vọng trên
cơ sở phù hợp với nhu cầu sử dụng của cơ quan, đơn vị.
Trong công tác quy hoạch, đào tạo, tuyển dụng cán bộ cần quy định tỷ lệ nữ
hợp lý và có những giải pháp thật cụ thể, khả thi
Các cấp Ủy Đảng cần quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để các cấp Hội hoạt
động có hiệu quả; Cần quy định trách nhiệm, quyền hạn cụ thể của Ban Vì sự tiến
bộ của Phụ nữ, Đảng đoàn, Ban Thường vụ, tổ chức Nữ công các cấp được tham
gia ở khâu nào trong quy trình công tác cán bộ để phát huy vai trò thực chất của
các tổ chức này
Có chế độ chính sách phù hợp cho cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ ở cơ sở, để
thu hút được nguồn cán bộ đã qua đào tạo về công tác tại địa phương, bảo vệ hợp
nữ (trong đó có cơ quan thường trực ban vì sự tiến bộ của phụ nữ). Đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ nữ cán bộ quản lý, lãnh đạo và đội ngũ cán bộ nữ trong diện
quy hoạch, tạo nguồn cho giai đoạn 2016-2020.
2.2.2.2. Mục tiêu cụ thể
Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm
từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị trong xu thế phát
triển của thời đại ngày nay.
25
Cần trao dồi kiến thức tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia học tập và nâng
cao trình độ hiểu biết, có vị thế trong xã hội nhằm góp phần tham gia vào công tác
quản lý lãnh đạo ở địa phương.
Nhà nước cần có chính sách thu hút cán bộ là nữ tham gia vào các cơ quan
hành chính, các tổ chức lãnh đạo của nhà nước.
Đẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong các hoạt động chính trị- xã hội, xóa bỏ
tình trạng bất bình đẳng giới trong quản lý lãnh đạo.
Tăng cường sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong việc ưu tiên cán bộ nữ
khi tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội, các vị trí lãnh đạo trong các cơ
quan đoàn thể của nhà nước.
Cần phải có sự quan tâm của các cơ quan chính quyền tại địa phương để phụ
nữ vừa tham gia hoạt động xã hội và vẫn đảm đương tốt vai trò của người phụ nữ
trong gia đình.
Tạo điều kiện cho phụ nữ được học tập và làm việc bình đẳng như nam giới.
Xây dựng cơ chế đảm bảo thực hiện có hiệu quả công tác cán bộ nữ, thường
xuyên kiểm tra giám sát việc thực hiện các chủ trương về công tác cán bộ nữ, xem
đây là một trong những chỉ tiêu đánh giá tổ chức chi bộ Đảng trong sạch vững
mạnh hàng năm. Xây dựng đề án thu hút nữ sinh tốt nghiệp đại học ra trường về
công tác tại địa phương để tạo nguồn cán bộ nữ cho Đảng.
Thường xuyên quan tâm đến việc phát triển, giới thiệu những cán bộ nữ xuất
sắc vào đảng, vào những vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị để tỷ lệ cán bộ