Học viện Báo chí và Tuyên truyền
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó có những tôn giáo lớn
của thế giới như: Phật giáo, Kitô giáo, Hồi Giáo… Các tôn giáo đã có những
ảnh hưởng nhất định tới nền văn hóa của dân tộc. Các tôn giáo từ nước ngoài
du nhập vào Việt Nam muốn tồn tại và phát triển được đều phải có những sự
biến đổi nhất định để phù hợp với điều kiện lịch sử, hoàn cảnh đời sống,
phong tục của người Việt. Phật giáo là tôn giáo đã du nhập vào Việt Nam
ngay từ những năm đầu Công nguyên. Trải qua hàng ngàn năm tồn tại trên
đất nước Việt Nam, Phật giáo đã có những bước thăng trầm cùng lịch sử dân
tộc. Phật giáo Việt Nam đã có những ảnh hưởng to lớn đến tinh thần, tâm lý,
đời sống của người Việt Nam. Tinh thần Phật giáo dường như đã gắn liền với
truyền thống dân tộc. So với Phật giáo trước khi du nhập và thời gian đầu tồn
tại ở Việt Nam thì Phật giáo hiện nay đã có nhiều sự biến đổi. Nó đã trở thành
một thứ tôn giáo Phật giáo mang bản sắc của Việt Nam, trở thành Phật giáo
Việt Nam. Sự hòa nhịp đồng điệu của Phật giáo với truyền thống dân tộc đã
góp phần làm đặc sắc nền văn hóa dân tộc, đồng thời có những đóng góp vào
việc phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc khi đất nước bước vào thời kì
đổi mới. Đã có rất nhiều công trình khoa học về tôn giáo nói chung và vấn đề
Phật giáo Việt Nam nói riêng do những nhà nghiên cứu lịch sử, tôn giáo lâu
năm thực hiện, trở thành những tư liệu rất có giá trị với đất nước. Tiểu luận
này về đề tài “Tìm hiểu một số điểm tương đồng của Phật giáo với truyền
thống dân tộc Việt Nam” được viết với mục đích làm phong phú nguồn tài
liệu về tôn giáo, tạo thuận lợi cho sự nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.
II. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tiểu luận sẽ khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập cho
tới ngày nay, tìm hiểu những điểm tương đồng của Đạo Phật với truyền thống
của dân tộc Việt Nam để qua đó giúp chúng ta thấy được sự gần gũi của Phật
Phần kết luận:
- Tổng hợp, kết luận vấn đề đã trình bày.
Ngoài ra Tiểu luận còn có danh mục các tài liệu tham khảo.
2
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
I. SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM
Người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Cồ đàm Tất-đạt-đa, vào cuối thế
kỷ VI - TCN. Ông là con vua Souddhodana ở tiểu vương quốc Kapilavaxtu
nay thuộc Nêpan gần núi Hymalaya. Sau khi ra đời, Phật giáo đã thể hiện
được những giá trị của mình và đã được truyền bá rộng rãi sang các nước
khác, trong đó có Việt Nam.
Theo các tài liệu phát hiện được cho tới ngày nay, Phật giáo được
truyền trực tiếp vào Việt Nam từ Ấn Độ. Sử sách cổ của Trung Hoa có ghi
rằng ở thế kỷ thứ II (sau công nguyên) tồn tại một trung tâm Phật giáo là Luy
Lâu thuộc quận Giao Chỉ (lãnh thổ Việt Nam thuộc phương Bắc thời gian
đó). Cuối thế kỉ thứ II, trung tâm Phật giáo này phát triển rất rực rỡ. Điều đó
chứng tỏ Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Trong quá trình buôn
bán của các tàu buôn Ấn Độ qua vùng đất Giao Chỉ, các chủ tàu buôn đã
mang theo văn hóa của người Ấn Độ như những sinh hoạt tín ngưỡng, lễ
nghi. Đồng thời, những tăng sĩ mà các thương nhân đem theo trên thuyền
buôn nhằm làm công việc cầu khấn sự phù trợ của đức Phật, là những người
phương Bắc đang ra đẩy mạnh việc truyền bá văn hóa Hán nhưng Phật giáo
vẫn có những bước phát triển đều đặn.
Sang thế kỷ III, Phật giáo vẫn tiếp tục tự phát triển mạnh mẽ, với sự
xuất hiện của Tăng Hội (? - 280) và tư tưởng thiền của ông. Nhưng Phật giáo
từ phương Bắc, cho dù có hình thành những trung tâm muộn hơn, cũng đã bắt
đầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật giáo Giao Chỉ. Sử sách cũng ghi nhận rằng
trong thế kỷ này, các kinh sách về thiền đã được đem từ Lạc Dương xuống,
và Tăng Hội cũng là một người đã học tập, lĩnh hội được tư tưởng Phật giáo
Đại thừa Trung Hoa. Đại thừa (Mahayana) hoàn toàn không xa rời Phật pháp,
nhưng về chủ trương, nó khác với Tiểu thừa (Hinayana) vốn xuất phát từ Phật
giáo Nguyên thủy (Thérévada). Đại thừa không cố chấp vào kinh điển, trong
khi Tiểu thừa thì phải nhất nhất bám sát vào đó. Đại thừa chủ trương “tự
giác” và “giác tha”, tức giác ngộ cho chính mình và cho người khác, trong khi
Tiểu thừa chỉ nhắm vào việc giác ngộ cho bản thân. Tiểu thừa chỉ thờ một
Phật Thích Ca và bậc tu cao nhất là đến La Hán. Đối với Đại thừa, họ thờ
4
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
nhiều Phật, và bậc tu cao nhất lên đến Bồ Tát. Có thể nói những quan niệm,
chủ trương của Đại thừa - một trong những tông phái lớn nhất của Phật giáo
(một tông phái lớn khác là Kim Cang thừa) có xuất phát điểm từ Trung Hoa,
đã có một sự thâm nhập mạnh mẽ xuống phương Nam kể từ thế kỷ thứ ba trở
đi, để lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo, cũng như trong tín
ngưỡng dân gian. Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được
thể hiện ở việc các thiền sư lớn, những người sáng lập ra những thiền phái có
vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu
Phật giáo Trung Hoa.
Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam được cho là hoàn tất vào thế kỉ
Ngay sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã sai người
đi thỉnh đại tạng kinh từ Trung Quốc, cho xây dựng hàng loạt ngôi chùa tại
kinh đô, trong và ngoài thành như chùa Hưng Phước, Thắng Nghiêm; năm
sau (1011) lại sai dựng các chùa Vạn Tuế, Tứ đại Thiên Vương, Cẩm Y,
Long Hưng Thánh Thọ, và nhiều đài kinh các. Năm 1024 lại dựng chùa Chân
Giáo ngay tại nội thành để làm nơi tu tập, tụng kinh bái sám của nhà vua. Đặc
biệt, nhà vua cổ xúy hàng thanh niên ưu tú Thăng Long xuất gia với mục đích
không chỉ là do mộ Phật, đáp nghĩa các sư, mà động cơ chính là mục tiêu
chính trị, văn hóa. Phật giáo Việt Nam tạo nên nét văn hóa Đại Việt độc lập
với văn hóa phương Bắc (vốn nặng màu Khổng, Lão), vừa góp phần cô kết
lòng dân, nuôi dưỡng tinh thần tự chủ, độc lập, tự cường của dân tộc (giáo lý
Phật giáo đề cao tự chủ, trừ bỏ nô lệ). Thời vua Lý Thái Tông (ở ngôi 1028 1054), nhà vua đã phát tâm xây dựng hàng trăm ngôi chùa, trong đó đặc biệt
là chùa Diên Hựu (dựng năm 1049) ngay giữa kinh đô Thăng Long (tức chùa
Một Cột tại Hà Nội ngày nay) và hình ảnh của nó đã đi vào lòng mọi người
trên thế giới, trở thành một biểu tượng cho đất nước Việt Nam.
Dưới triều Lý, bên cạnh các dòng thiền ra đời trước đó vẫn tồn tại thì cũng
đánh dấu sự ra đời của dòng thiền Thảo đường, với sự xuất hiện của các thế
hệ truyền thừa chính thức không phải là giới xuất gia như trước mà đa phần là
cư sĩ. Đây là một đặc điểm nổi bật của Phật giáo trong tình hình phát triển
mới của dân tộc.
Bởi lẽ, Phật giáo nếu thực sự đi vào đời thì không chỉ giới hạn trong
giới Tăng sĩ, mà cần phải phổ biến trong giới tại gia cư sĩ. Điểm nổi bật của
dòng thiền này là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, vai trò của
giới cư sĩ được khẳng định một cách chính thức, phù hợp với yêu cầu phát
6
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
triển mới của dân tộc, của việc đưa đạo vào đời, nhằm định hướng cho đời
7
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
của các vị vua Lê và các danh thần như Lê Sát, Trần Nguyên Hãn, Lê Ngân...,
Phật giáo vẫn tiếp tục được phát triển. Thiền sư Lê Mạnh Thát đã nhận định
tổng quát: "Thời Lê là thời đại Phật giáo Việt Nam phát triển rầm rộ, do đối
kháng lại với nền Phật giáo mà nhà Minh đưa sang". Phật giáo ở giai đoạn
này đã kế thừa các nền tảng hình thành trước, tiếp tục phát triển, nổi bật với
các gương mặt Phật tử, danh Tăng như nhà toán học Phật tử Lương Thế Vinh;
nhà chính trị - quân sự thiên tài Nguyễn Trãi (1380 - 1442), người đã lấy tư
tưởng Phật giáo để xây dựng quan niệm nhân nghĩa trong tư tưởng quân sự
của mình; ngài Viên Thái (1400 - 1460), người đầu tiên dịch kinh Phật ra chữ
Nôm hiện biết được; Pháp Tính (1470 -1550), người viết Ngọc âm chỉ nam
giải nghĩa, Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh… Về mặt lễ hội văn hóa tâm
linh và xây dựng chùa chiền, ở thời Lê vẫn diễn ra tuy không nhiều như trước
nhưng vẫn khá mạnh mẽ. Đạo Phật đã thâm nhập và hòa quyện với văn hóa
dân tộc, đã trở nên một, bất khả phân ly. Chùa chiền vẫn là nơi sinh hoạt tín
ngưỡng và văn hóa của các tầng lớp nhân dân.
Có thể nói, dưới các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê, Phật giáo không chỉ
giải quyết được cuộc khủng hoảng tư tưởng của tự thân mà hơn thế nữa, đã
thực sự hòa nhập với dân tộc, trở thành dòng tư tưởng chủ lưu trong đời sống
văn hóa, chính trị của đất nước. Phật giáo đã bổ sung làm giàu và làm mạnh
mẽ thêm cho bản lĩnh Việt Nam quật cường.
Đến thế kỉ XVI, nhà Lê mục nát, đất nước rơi vào thời kỳ rối ren, phân
chia thành Đàng Trong và Đàng ngoài. Phật giáo Việt Nam cũng bước sang
giai đoạn mới.
2. Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX
Thời gian này, các dòng thiền từ Trung Quốc được truyền bá vào nước
ta và có những ảnh hưởng nhất định. Thế kỉ XVII, dòng thiền Tào động - một
những phong trào lớn cho lịch sử Phật giáo và lịch sử dân tộc. Thời kì đất
nước bị thực dân Pháp xâm lược, Phật giáo bị chèn ép vì chính quyền thực
dân dựa vào Công giáo để xây dựng bộ máy cai trị. Chính vì vậy nhiều phong
trào Phật giáo đã nổ ra để chống sự kỳ thị và đàn áp Phật giáo, phát động
phong trào yêu nước chống đế quốc xâm lược. Những phong trào đã làm cho
có sự khác biệt nhất định giữa Phật giáo ở hai miền Nam - Bắc. Nếu như Phật
giáo miền Bắc là khá thuần nhất thì bộ mặt Phật giáo miền Nam lại rất đa
9
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
dạng, không chỉ về hệ phái kiến trúc, về cách bố cục trong chùa, về giáo lý
mà còn cả trong sự hòa quyện với các tôn giáo khác, thậm chí là yếu tố tạo
thành các tôn giáo mới. Phật giáo đã góp phần vào thắng lợi trong hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và Mỹ của cả dân tộc.
Sau khi đất nước thống nhất, năm 1981 các tổ chức hệ phái Phật giáo
trong cả nước đã tổ chức đại hội, thống nhất làm một và lấy tên: “Giáo hội
Phật giáo Việt Nam”. Đại hội đã thông qua hiến chương, chương trình hành
động và bầu ra cơ quan lãnh đạo. Giáo hội Phật giáo Việt Nam bao gồm hai
Hội đồng ở Trung ương: Hội đồng chứng minh và Hội đồng trị sự. ở các tỉnh,
thành phố có các Ban trị sự, dưới nữa có các Ban đại diện Phật giáo Quận,
Huyện, Thị.
Theo thống kê, hiện nay cả nước có 14.303 ngôi tự viện, trong đó gồm
13.312 tự viện Bắc tông, 469 tự viện Nam tông nguyên thủy và Khmer, 142
tịnh xá khất sĩ, 95 tịnh thất và 185 niệm Phật đường. Về tăng ni thì có 26.268
vị, có 3 Học viện Phật giáo, một trường Cao đẳng chuyên khoa Phật học, 30
trường cơ bản Phật học, 1 trường đào tạo đội ngũ giảng viên hoằng pháp.
Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập Viện nghiên cứu Phật
học tại thành phố Hồ Chí Minh và Phân viện nghiên cứu tại Hà Nội, thành lập
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Và sẵn tinh thần bất khuất nên người Việt Nam không chịu ỷ lại; tự
mình phải gây dựng cho mình, dù gian nan cách mấy cũng vui:
Có vất vả mới thanh nhàn,
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.
Tinh thần của Phật giáo rất phù hợp với truyền thống đó của dân tộc
Việt Nam. Bước chân vào chùa, chúng ta đã thấy trước chính điện đề bốn chữ
ĐẠI HÙNG BỬU ĐIỆN, điện báu thờ đức Đại Hùng. Phật được gọi là đấng
Đại Hùng, Đại Lực, vì Đức Phật đã cương quyết đập tan hết mọi xiềng xích:
xiềng xích do xã hội tạo ra như chế độ giai cấp của Bà-la-môn giáo đã đặt ra
ở Ấn Độ , xiềng xích tại bản thân con người do ngũ dục trói buộc, xiềng xích
ở nội tâm do tham, sân, si sai sử. Tất cả thứ xiềng xích đó, Đức Phật đã phá
vỡ, nên Ngài là bậc hoàn toàn giải thoát. Đức Phật không bao giờ chịu khuất
phục dưới một sức mạnh nào, dù là sức mạnh vô biên của nghiệp lực truyền
kiếp lưu lại. Nghiệp lực ấy đã biểu hiện qua hình thức vô số ma vương bao
quanh cây Bồ-đề chiến đấu với Ngài, cuối cùng Ngài vẫn chiến thắng chúng
và thành bậc Đại Giác Ngộ. Chủ trương giải thoát của đạo Phật vượt ra ngoài
11
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
vòng nô lệ, bất cứ loại nô lệ nào; từ ngoài đem đến hay từ ở trong phát sinh.
Bởi quyết thoát nô lệ nên Phật giáo luôn luôn phá trừ tính ỷ lại, dạy Phật tử
phải nỗ lực tự cường, như câu: “Các người phải tự thắp đuốc lên mà đi”. Vì
thế, tinh thần hùng lực và giải thoát của đạo Phật rất thích hợp với tinh thần
bất khuất và độc lập của dân tộc Việt Nam. Sự hòa nhập sâu đậm tinh thần
Phật giáo với truyền thống của dân tộc đã góp phần viết nên những trang sử
oai hùng của dân tộc Việt Nam.
II. TINH THẦN ĐOÀN KẾT
việc gì, cần phải góp tay chung sức mới làm nên việc lớn:
Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Nước Việt Nam ta đã trải qua cả ngàn năm Bắc thuộc, cả trăm năm
Pháp thuộc, vận mệnh dân tộc lúc nào cũng đối mặt với họa xâm lăng nên
tinh thần đoàn kết của người Việt Nam luôn được thể hiện. Tình đoàn kết đã
thấm sâu trong trái tim, trong dòng máu của người Việt Nam, nó luôn được
phát huy trong mọi hoàn cảnh để cùng nhau vươn lên.
III. LÒNG BAO DUNG
Trên dải đất Việt Nam nhỏ bé, nhưng rất nhiều dân tộc chung sống, nếu
thiếu tâm lượng bao dung thì nội loạn sẽ dâng khởi liên miên. Vì thế tâm
lượng bao dung của người Việt được biểu lộ cụ thể qua câu ca dao:
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Cùng chung sống trong một đất nước thì khổ vui cùng đồng chịu,
chúng ta phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Với tinh thần chị ngã em nâng,
sự cứu giúp này sẽ làm lành mạnh hóa tổ chức xã hội. Đây, tự đáy lòng người
nông dân phát xuất ra những lời tha thiết:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Gặp cơn nguy biến hoạn nạn, tình đồng bào chúng ta đâu nỡ làm ngơ,
mà phải ra tay cứu giúp nhau. Người biết chia sớt khổ đau cho nhau thật là
một tình thương đáng kính đáng quý. Tình thương ấy đã phát ra ngôn ngữ, mà
người Việt Nam chúng ta không có quyền quên:
Đường xa xin chớ ngại ngùng,
Trèo non, xuống biển ta cùng đỡ nhau.
Đạo Phật cũng thể hiện tinh thần bao dung của mình. Đạo Phật thừa
nhận tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Đã có Phật tính thì dù các chúng sinh
do hành nghiệp bất đồng bị quả báo sai biệt, nhưng Phật tính vẫn đầy đủ như
vô nam nữ, hà tu trước tướng. Vị minh nhơn vọng phân tam giáo, liễu đắc đế
đồng ngộ nhất tâm”. (Hỏi chi tăng tục, chỉ cốt tỏ tâm; nguyện không gái trai,
sao nên nệ tướng. Người chưa hiểu càng chia tam giáo, hiểu đến nơi cùng
thấu nhất tâm).
Vua Trần Thái Tông đã có lần đi trốn lên núi xuất gia và đã viết nhiều
tác phẩm về Phật giáo, mà vẫn tôn trọng Khổng Tử, Lão Tử, xem hai ngài
cũng là bậc Thánh, đồng hàng với Phật. Đó đủ chứng tỏ tinh thần bao dung
rộng rãi của Phật giáo. Không phải như các tôn giáo khác, chỉ chú trọng ông
14
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Giáo chủ của mình là Thánh, còn Giáo chủ của tôn giáo khác là yêu quái, đạo
mình là chính, đạo khác là tà, rồi sinh tâm khinh miệt kỳ thị. Đến thời Nho
học độc tôn, triều Lê Thái Tổ về sau, Phật giáo bị chống báng kịch liệt và bị
đẩy lui về thôn dã. Bởi Phật giáo sẵn bản chất bao dung như vậy nên thích
ứng với tinh thần dân tộc Việt Nam.
IV. HIẾU KÍNH
Xã hội Việt Nam xây dựng trên nền tảng gia đình. Gia đình có an vui
hạnh phúc thì quốc gia mới vững mạnh. Vì thế, trong gia đình người cha phải
từ, người con phải hiếu. Muốn những đứa con khởi lòng hiếu kính, trước phải
dạy chúng nhớ công ơn sinh thành khổ cực của cha mẹ. Công ơn cha mẹ được
người bình dân hình dung rộng như biển, cao như núi.
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Những ai còn được cha mẹ chăm lo, dưỡng dục là có cả một kho tàng
Công cha cũng trọng, nghĩa thầy cũng sâu.
Lớn lên được dịp đi chùa lễ Phật, hoặc nghe các sư giảng dạy, người
con hiếu phát tâm hâm mộ đạo đức, muốn dứt khoát cuộc đời thế tục, vào
nương mình dưới bóng từ bi. Hoặc những lúc chiều về nghe tiếng trống công
phu dồn dập, giọng chuông cảnh tỉnh ngân dài, khiến lòng khoan khoái nhẹ
nhàng muốn gởi thân vào cửa Phật. Nhưng còn cha mẹ già yếu chưa đền đáp
được chút ơn sinh thành, nên khó lòng cất bước đi. Thế là, người con hiếu bị
giằng co giữa hai tâm niệm: vừa muốn tìm đường thoát tục, vừa lo đền đáp
công ơn sinh thành:
Đến chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy mẹ đi tu không đành.
Nhưng rồi, quan niệm chữ hiếu nặng hơn. Người ta cho rằng đạo hiếu
là đạo chân chính của con người. Người biết thờ cha kính mẹ là người đã tu
đúng chính đạo:
Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.
Hoặc giả người ta đã thần thánh hóa cha mẹ, coi cha mẹ như Phật, biết
thờ kính cha mẹ là thờ kính Phật. Cho nên người bình dân đã nói: “Phật trong
nhà không thờ, thờ Thích Ca ngoài đường”. Hiếu thảo là chất liệu thiết yếu
trong xã hội Việt Nam. Vì thế, trong tinh thần dân tộc Việt Nam, ai cũng đặt
16
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
chữ hiếu trên tất cả. Những đứa con bất hiếu luôn luôn bị dân chúng Việt
Nam chê ghét, nguyền rủa.
Đạo Phật cũng chú ý đặc biệt đến lòng hiếu thảo của kẻ làm con.
Những kinh điển chuyên dạy người con phải hiếu kính cha mẹ như Kinh Báo
Phụ Mẫu Ân, Kinh Thai Cốt, Kinh Hiếu Tử, Kinh Đại Tập, Kinh Nhẫn Nhục,
trong hàng ngàn năm lịch sử và tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam, đồng thời Phật
giáo cũng đã có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn hiện nay, Phật giáo vẫn có nhiều giá trị đối với dân tộc. Đảng ta
luôn quan tâm tới sự phát triển của tôn giáo nói riêng và Phật giáo nói chung,
khẳng định vị trí của Phật giáo trong lòng dân tộc. Tinh thần Phật giáo và tinh
thần dân tộc từ lâu đã có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, việc gìn giữ và
phát huy những điểm tích cực trong giáo lý nhà Phật sẽ tạo ra những ảnh hưởng
tích cực đến nền văn hóa và tinh thần dân tộc. Như vậy sẽ góp phần vào việc xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đưa đất nước vững
bước trên con đường đổi mới. Trong khuôn khổ một tiểu luận, nội dung còn nhiều
thiếu sót, để thực hiện được mục đích nêu trên, cần phải có sự nghiên cứu, tìm
hiểu sâu sắc và nghiêm túc hơn nữa trong thời gian tới. Tiểu luận cần được sự
đóng góp ý, bổ sung để có thể hoàn thiện hơn.
18
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Tôn giáo học - Khoa Triết học - Học viện Báo chí và Tuyên
truyền.
2. Việt Nam Phật giáo sử luận - Nguyễn Lang - NXB Văn học - 1994
3. Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý-Trần - NXB KHXH
4. Lịch sử Phật giáo Việt Nam - Lê Mạnh Thát - NXB Thuận Hóa
5. Tạp chí nghiên cứu tôn giáo
6. Tư tưởng phật giáo - Thích Trí Quảng - NXB Tôn giáo 2004
7. Vài nét chính luân lý Phật Giáo - Thích Thanh Từ - NXB Tôn giáo 2007
8. Phật giáo với văn hóa Việt Nam - Nguyễn Đăng Duy - NXB Hà Nội 1999
PHẦN NỘI DUNG
3
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
3
I. SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM
3
II. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ X CHO ĐẾN NGÀY NAY
5
1. Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI
5
2. Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX
8
3. Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XX đến nay
9
CHƯƠNG II:
MỘT SỐ ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG CỦA PHẬT GIÁO VỚI