Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
___________________
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
đề tài cấp bộ năm 2007
công tác giám sát trong Đảng
giai đoạn hiện nay
Cơ quan chủ trì
: Viện Xây dựng Đảng
Chủ nhiệm đề tài
: TS. đặng đình phú
Th ký khoa học
: Th.S. Trần Duy Hng
6768
28/3/2007
Hà Nội - 2008
Ban biên soạn
1. TS. Đặng Đình Phú (Chủ biên)
2. Ths. Trần Duy Hng
Danh sách thành viên chính nghiên cứu đề tài
Văn phòng Chủ tịch nớc
5
Hà Hữu Đức
Uỷ ban Kiểm tra Trung ơng
6
Ths. Đinh Ngọc Giang
Viện Xây dựng Đảng
7
TS. Lê Tiến Hào
Thanh tra Chính phủ
8
Trần Thị Hiền
Uỷ ban Kiểm tra Trung ơng
9
GS. Đặng Xuân Kỳ
Viện Xây dựng Đảng
15
Tô Quang Thu
Uỷ ban Kiểm tra Trung ơng
16
Hà Quốc Trị
Uỷ ban Kiểm tra Trung ơng
17
Cao Văn Thống
Uỷ ban Kiểm tra Trung ơng
Ký hiÖu c¸c ch÷ viÕt t¾t
1. BCH
: Ban ChÊp hµnh
2. BTV
: Ban Th−êng vô
11
11
20
29
Chơng 2: Công tác giám sát trong Đảng hiện nay- Thực trạng,
nguyên nhân, kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra
2.1. Công tác giám sát trong Đảng trớc Đại hội X
2.2. Công tác giám sát trong Đảng từ Đại hội X đến nay
32
32
63
Chơng 3: Phơng hớng và những giải pháp chủ yếu tăng cờng
công tác giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay
3.1. Dự báo những nhân tố thuận lợi và khó khăn tác động đến giám
sát trong Đảng
3.2. Quan điểm và định hớng tăng cờng giám sát trong Đảng
3.3. Những giải pháp chủ yếu
3.3.1. Tạo chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao nhận thức, trách nhiệm
của các cấp uỷ, tổ chức đảng, UBKT các cấp, cán bộ, đảng
viên và nhân dân trớc nhất là ngời đứng đầu cấp uỷ
3.3.2. Xây dựng và hoàn thiện chế độ giám sát, cơ chế giám sát
trong Đảng
3.3.3. Mở rộng dân chủ trong Đảng là cơ sở, điều kiện tăng cờng
giám sát trong Đảng
3.3.4. Nâng cao vị thế, vai trò của UBKT các cấp là cơ quan
chuyên trách, lực lợng nòng cốt cùng toàn Đảng thực hiện
giám sát trong Đảng
giám sát hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên và các cơ quan trong hệ thống
chính trị. Ngay trong Điều lệ Đảng (sửa đổi) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ III của Đảng (năm 1960) đã yêu cầu: "Phải tăng cờng công tác kiểm tra
và giám sát của Đảng đối với cán bộ và cơ quan nhà nớc, giữ gìn kỷ luật
nghiêm minh, xử lý thích đáng đối với những phần tử quan liêu gây tác hại
nghiêm trọng cho Đảng và Nhà nớc". Trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt
Nam các khoá VIII, IX cũng ghi: "... Đảng chịu sự giám sát của nhân dân" ...
Do đó, Đảng cần cả "sự giám sát nội bộ Đảng" và cả "chịu sự giám sát của
nhân dân" sẽ giúp cho việc tăng cờng kỷ cơng, kỷ luật của Đảng, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên.
Bớc vào thời kỳ đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc, bên cạnh
những thành tựu rất quan trọng đã đạt đợc, do tác động tiêu cực của mặt trái
của cơ chế thị trờng cùng sự thiếu thờng xuyên rèn luyện tu dỡng, nên một
bộ phận cán bộ, đảng viên và cả một số tổ chức đảng đã bộc lộ những mặt yếu
kém. Tổ chức đảng ở nhiều nơi chấp hành các nguyên tắc của Đảng, trớc hết
là nguyên tắc tập trung dân chủ cha nghiêm, sinh hoạt lỏng lẻo; đấu tranh tự
phê bình và phê bình giảm sút, sức chiến đấu yếu dẫn đến vi phạm kỷ luật.
Nhiều tổ chức cơ sở và chi bộ không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp
nảy sinh từ cơ sở, cá biệt còn tê liệt, mất sức chiến đấu. Công tác kiểm tra,
quản lý cán bộ, đảng viên thực hiện một cách chiếu lệ. Nhiều cấp uỷ, tổ chức
đảng cha coi trọng công tác kiểm tra, coi công tác này là của uỷ ban kiểm tra
chứ không phải của chính bản thân cấp uỷ. Báo cáo tổng kết 20 năm đổi mới
đã chỉ rõ: "Còn tình trạng nói mà không làm, ra nghị quyết mà không thực
hiện hoặc thực hiện nửa vời. Việc theo dõi kiểm tra, đôn đốc triển khai nghị
quyết làm cha tốt; việc xử lý sai phạm trong thực hiện nghị quyết cha
nghiêm" [tr.125]. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý
1
tiêu nói trên, nhất thiết phải tăng cờng công tác xây dựng Đảng, công tác
2
kiểm tra, giám sát là một nội dung quan trọng cần đợc đẩy mạnh.
Từ trớc Đại hội X của Đảng, các cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra
các cấp chủ yếu thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra còn chức năng,
nhiệm vụ giám sát trong Điều lệ Đảng chỉ quy định "Đảng chịu sự giám sát
của nhân dân", cha quy định cụ thể việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám
sát của các cấp uỷ, tổ chức đảng và đảng viên. Nhng trong thực tế các cấp uỷ
(kể cả Ban Chấp hành Trung ơng, Bộ Chính trị, Ban Bí th), tổ chức đảng, uỷ
ban kiểm tra các cấp và đảng viên đã và đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ
giám sát. Riêng uỷ ban kiểm tra các cấp thì việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ giám sát với phạm vi, đối tợng, nội dung còn hẹp. Tuy nhiên, nhiệm vụ
này cha đợc xác định một cách rõ ràng và cha đợc thực hiện theo một
chơng trình, kế hoạch cũng nh quy trình, phơng pháp cụ thể và đặc biệt
cha bố trí lực lợng tiến hành thờng xuyên. Nh vậy, việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ giám sát là của toàn Đảng, trong đó có uỷ ban kiểm tra các
cấp là cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong
Đảng. Bởi vì, trong điều kiện Đảng là cơ quan duy nhất cầm quyền, Đảng lãnh
đạo cả hệ thống chính trị mà không đợc giám sát chặt chẽ, rất dễ lộng quyền,
lạm quyền và làm giảm lòng tin của nhân dân, tất yếu sẽ dẫn đến tiêu cực,
quan liêu, tham nhũng. Đó là những nguy cơ bên trong làm suy yếu, thậm chí
làm tan rã Đảng. Đây là điều cần đợc cảnh báo để chúng ta thấy rõ và kiên
quyết tìm mọi biện pháp khắc phục cho bằng đợc. Đối với tổ chức càng cao
càng cần phải đợc giám sát chặt chẽ. Ngời giữ quyền hành càng lớn càng
phải đợc giám sát nghiêm ngặt, tiến hành giám sát đối với quyền lực, phòng
ngừa lạm dụng quyền lực, thực hiện lấy quyền lực chế ớc quyền lực. Vì vậy,
giám sát hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên là vấn đề cấp bách hiện
nay. Nó xuất phát từ đòi hỏi khách quan của công tác xây dựng Đảng và yêu
làm công tác kiểm tra Đảng. Đồng thời các tổ chức đảng, cấp uỷ đảng và đảng
viên phải có sự đổi mới nhận thức về công tác giám sát, kiểm tra, xoá bỏ t
tởng của một số cán bộ, đảng viên là không ai muốn giám sát và kiểm tra
mình. Giám sát và kiểm tra là nhằm hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng,
để phát hiện "ngời tốt, việc tốt", ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của
Đảng, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh.
- Nguyễn Thị Doan, "Tăng cờng công tác giám sát trong Đảng", Tạp
chí Cộng sản điện tử, số 71, năm 2004. Tác giả phân tích khá rõ về khái niệm
4
giám sát và kiểm tra, khẳng định "giám sát cũng là một chức năng lãnh đạo
của Đảng". Từ việc phân tích yêu cầu cấp bách phải tăng cờng giám sát trong
Đảng, tác giả đề xuất: "Trong điều kiện hiện nay, giao chức năng giám sát và
thực hiện nhiệm vụ giám sát cho uỷ ban kiểm tra các cấp là phù hợp với thực tiễn
lý luận"; và "việc thành lập uỷ ban kiểm tra do đại hội đảng cùng cấp bầu".
Theo tác giả, giám sát là công việc của Đảng, việc tăng cờng công tác
giám sát của uỷ ban kiểm tra đối với tổ chức đảng và đảng viên vẫn cha đủ
mà cần phải xây dựng và ban hành cơ chế để nhân dân thật sự giám sát hiệu
quả cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Cuối cùng, tác giả kết luận, trong giai
đoạn cách mạng mới, phải tăng cờng công tác giám sát trong Đảng, cần ban
hành cơ chế nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng mang tính
pháp lý, tiến tới xác định cơ quan đảng có chức năng giám sát và thực hiện
nhiệm vụ giám sát trong Đảng.
- Chiến Thắng, "Một số ý kiến về công tác kiểm tra, giám sát của uỷ
ban kiểm tra các cấp", Tạp chí Kiểm tra, số 12/2005. Tác giả góp ý kiến vào
Dự thảo Báo cáo một số vấn đề về bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng trình Đại hội
X của Đảng, khẳng định việc Dự thảo này có vấn đề giám sát trong Đảng và
nêu rõ kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, đồng thời
nghiêm túc.
- Vũ Công Tiến, "Để thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của
Đảng", Tạp chí Kiểm tra, số 2-2006. Tác giả cho rằng kiểm tra, giám sát là
cụm từ gắn liền với nhau, nêu rõ chức năng và bản chất của kiểm tra, giám sát
của Đảng. Kiểm tra là điều kiện "cần" để xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng:
không kiểm tra coi nh không lãnh đạo và giám sát là điều kiện "đủ" để hoàn
thiện chức năng lãnh đạo của Đảng. Kiểm tra, giám sát là những điều kiện cần
và đủ để cho việc đề ra chủ trơng, nghị quyết và tổ chức thực hiện, đa chủ
trơng, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống một cách nhất quán, toàn diện và
hiệu quả, thông qua nhận thức và hành động của mỗi tổ chức và mỗi đảng viên
của Đảng".
- Hà Quốc Trị, "Về thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong
Đảng", Tạp chí Kiểm tra, số 3-2006. Trên cơ sở phân tích về khái niệm kiểm
tra và giám sát, tác giả cho rằng việc giám sát trong nội bộ Đảng và chịu sự
giám sát của nhân dân là tất yếu. Đa ra một số ý kiến về vấn đề giám sát
Đảng nh nội dung tập trung giám sát; đối tợng và nội dung giám sát đối với
6
tổ chức đảng; đối tợng và nội dung giám sát đối với đảng viên, tác giả khẳng
định: "Trong quá trình giám sát nếu phát hiện tổ chức đảng và đảng viên thuộc
phạm vi giám sát có dấu hiệu vi phạm thì uỷ ban kiểm tra tiến hành kiểm tra
dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên đó.
Qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát, tạo điều kiện thuận lợi
cho uỷ ban kiểm tra trong việc tăng khả năng, điều kiện chủ động nắm tình
hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm để kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đúng
trọng tâm, trọng điểm, đạt chất lợng, hiệu quả cao hơn; khắc phục đợc
những khó khăn, vớng mắc trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra".
Tóm lại, nhìn chung vấn đề giám sát trong Đảng đã đợc đa vào trong
tiến hành đề tài đợc thuận lợi.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giám sát
trong Đảng, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chủ yếu có tính khả thi
nhằm tăng cờng công tác giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay.
4. Nhim v nghiờn cu
Nghiờn cu nhng quan im c bn ca ch ngha Mỏc-Lờnin, t
tng H Chớ Minh v ca ng Cng sn Vit Nam v cụng tỏc giỏm sỏt
ca ng; vn dng lm rừ v trớ, vai trũ, tm quan trng ca cụng tỏc giỏm
sỏt trong ng c v mt lý lun v thc tin cụng tỏc xõy dng ng.
Kho sỏt, ỏnh giỏ thc trng cụng tỏc giỏm sỏt trong ng thi gian
qua; ch ra u, khuyt im, nguyờn nhõn khỏch quan v ch quan ca nhng
u, khuyt im ú; đồng thời rút ra một số kinh nghim v nhng vn t
ra cn gii quyt i vi cụng tỏc giỏm sỏt trong ng.
D bỏo nhng nhõn t tỏc ng v yờu cu i vi cụng tỏc giỏm sỏt
trong ng t nay n nm 2020.
Xỏc nh mc tiờu, phng hng v xut nhng gii phỏp c bn
nhm nõng cao cht lng cụng tỏc giỏm sỏt trong ng t nay n nm 2020.
5. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác giám sát
trong Đảng giai đoạn hiện nay (2007- 2020) (có thể hiểu công tác giám sát
trong Đảng là việc của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp và đảng
8
viên theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động chấp hành Cơng lĩnh, Điều lệ
Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng bảo đảm tính nghiêm minh, thống nhất và
có hiệu quả cao trong toàn Đảng), cụ thể là xác định các vấn đề sau:
+ Về chủ thể: Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Đảng
là của toàn Đảng trong đó có uỷ ban kiểm tra các cấp là cơ quan chuyên trách
8. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu
giảng dạy, học tập bộ môn Xây dựng Đảng, giảng dạy các lớp bồi dưỡng, tập
huấn nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát ..v.v..Đồng thời những kết quả
nghiên cứu của đề tài có thể sẽ được dùng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan
UBKT Trung ương.
9. Kết cấu đề tài
Gồm phần mở đầu, 3 chương với 9 tiết, kết luận, danh mục sản phẩm
nghiên cứu đề tài, danh mục tài liệu tham khảo.
10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT TRONG ĐẢNG
1.1. Quan niệm về công tác giám sát trong Đảng
Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo xã hội bằng chủ trương,
đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng; bằng công tác tư tưởng, tổ chức
và bằng kiểm tra, giám sát...; Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước, các đoàn
thể chính trị-xã hội, hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.
Tổ chức của Đảng ở các cấp, các ngành không những có trách nhiệm trong
việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện mà còn có trách nhiệm phải kiểm
tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm cho Cương lĩnh chính trị, đường lối,
nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng được chấp hành
nghiêm chỉnh, thắng lợi trong thực tiễn. Nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy
chế, kết luận của Đảng dù có được xác định đúng, có tính khả thi nhưng nếu
tổ chức đảng các cấp tổ chức thực hiện thiếu chặt chẽ, nhất là không kiểm tra,
giám sát hoặc kiểm tra, giám sát không đến nơi đến chốn thì kết quả thực hiện
sẽ bị hạn chế, thậm chí phạm sai lầm. Để hạn chế, khắc phục những thiếu sót
ngừa việc làm sai trái với thoả thuận, với quy định(6).
- Quan niệm về giám sát :
Theo “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý (chủ biên), giám
sát(đgt): là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ(7).
Còn theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” do Hội đồng quốc gia chỉ đạo
biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, giám sát: là một hình thức hoạt động
của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự
chấp hành những qui tắc chung nào đó(8).
Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính”(9) của Mai Hữu Khuê
và Bùi Văn Nhơn và “Từ điển Luật học”(10) của Nhà xuất bản Từ điển Bách
khoa-Hà Nội, giám sát còn được hiểu: là sự theo dõi, quan sát hoạt động
mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các
biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám
sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác
định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh.
Dù cho cách diễn đạt có sự khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều
có nội hàm chung: là sự theo dõi, quan sát, xem xét hoạt động. Có thể đưa ra
(4) Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ
điển Bách khoa, H., 2002, tr.565.
(5) (6) Nxb Từ điển Bách khoa, Từ điển Luật học, H., 1999, tr.264.
(7) Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, H., 1999, tr.728.
(8) Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ
điển Bách khoa, H., 2002, tr.112.
(9) Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn, Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao động, H., 2002,
tr.261.
(10) Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, H., 1999, tr.174.
13
14
Tất cả các hoạt động giám sát đều thể hiện những đặc điểm chung:
+ Giám sát là biểu hiện của mối quan hệ giữa một chủ thể giám sát nhất
định với các đối tượng cụ thể chịu sự giám sát về những nội dung xác định.
+ Giám sát là sự theo dõi, xem xét đối tượng làm đúng hay làm sai
những điều đã quy định. Và do đó, hoạt động giám sát là hoạt động có chủ
đích của chủ thể giám sát, nhằm hướng đối tượng chịu sự giám sát phải làm
đúng những điều đã quy định thông qua những giải pháp nào đó của chủ thể
giám sát.
+ Để thực hiện sự giám sát, các chủ thể giám sát bao giờ cũng phải có
những quyền hạn nhất định (được “luật hoá” thành điều lệ, quy định hay được
luật pháp quy định) đối với đối tượng chịu sự giám sát.
Nói cách khác, giám sát có ba đặc trưng sau:
Thứ nhất, giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ
động thường xuyên, liên tục. Như vậy, chủ thể giám sát phải luôn có mặt tại
chỗ, bên cạnh và tiếp xúc trực tiếp, chủ động theo dõi và quan sát đối với đối
tượng giám sát.
Thứ hai, giám sát phải thực hiện các biện pháp, hành động để tác động
bằng các biện pháp tích cực của chủ thể giám sát đối với đối tượng giám sát để
buộc và hướng hoạt động của đối tượng giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế.
Vì vậy, chủ thể giám sát phải có phương pháp, hình thức, biện pháp và
thẩm quyền giám sát thích hợp với từng loại đối tượng được giám sát. Đối
tượng bị giám sát luôn phải chịu sự theo dõi, quan sát, kể cả việc kiểm tra,
kiểm soát của chủ thể giám sát. Nếu phát hiện đối tượng bị giám sát có những
hoạt động chưa đúng với các quy định của Đảng và Nhà nước… có thiếu sót,
khuyết điểm thì chủ thể giám sát kịp thời nhắc nhở, cảnh báo, đề nghị thực
hiện đúng quy định, nếu thấy có những việc làm sai trái thì kiến nghị với cấp
Giám sát là công việc không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo và quản
lý, diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình lãnh đạo và quản lý. Đảng ta đã
rất quan tâm đến công việc giám sát hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên
và các cơ quan trong hệ thống chính trị. Ngay trong Điều lệ Đảng (sửa đổi) tại
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng từ năm 1960 đã yêu cầu:
“Phải tăng cường công tác kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ và cơ
16
quan nhà nước, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, xử lý thích đáng đối với những
phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng cho Đảng và Nhà nước”.
Trong Điều lệ Đảng khoá VIII, khoá IX cũng ghi: “ … Đảng chịu sự
giám sát của nhân dân…” do đó, Đảng cần cả “Sự giám sát trong nội bộ
Đảng”. Và cả “Chịu sự giám sát của nhân dân” sẽ giúp cho việc tăng cường
kỷ cương, kỷ luật của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức đảng và đảng viên.
Theo quy định của Điều lệ Đảng khoá VI, khoá VII, khoá VIII, khoá
IX, các cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp chủ yếu mới thực hiện
chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, còn chức năng, nhiệm vụ giám sát trong Điều
lệ Đảng chỉ quy định: “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân”, lại chưa được
quy định cụ thể để thực hiện. Nhưng thực chất các cấp uỷ (kể cả Ban Chấp
hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư), tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra
các cấp và đảng viên đã và đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát.
Riêng UBKT các cấp thì việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát với
phạm vi, đối tượng, nội dung còn hạn hẹp và chưa có nền nếp. Nhiệm vụ
giám sát của các tổ chức đảng trong các nhiệm kỳ trước đây tuy có làm nhưng
không được quy định cụ thể, không có chương trình, kế hoạch, khi tiến hành
không theo một quy trình nào và chưa có sơ kết, tổng kết, rút kinh
nghiệm...Trong thực tế, giám sát chưa thành một nhiệm vụ trực tiếp, thường
xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành
Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và đạo đức,
lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
Tổ chức đảng cấp trên được giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng
viên; đảng viên được tham gia giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng
có thẩm quyền.
Như vậy, về nguyên tắc giám sát, cần chú ý là chỉ có tổ chức đảng cấp
trên được quyền giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; đảng viên
không được tự ý giám sát, chỉ được tham gia giám sát theo sự phân công của
tổ chức đảng có thẩm quyền. Tổ chức đảng cấp dưới không được giám sát tổ
chức đảng cấp trên.
Chủ thể giám sát: các tổ chức đảng là chủ thể giám sát gồm có: chi bộ
(chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận), đảng
ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, UBKT, các ban
đảng, văn phòng cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các cấp.
18
Đối tượng giám sát:
Các tổ chức đảng là đối tượng giám sát gồm có: chi bộ (chi bộ cơ sở,
chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận), đảng ủy bộ phận,
đảng ủy cơ sở, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy các cấp;
UBKT, các ban đảng, văn phòng cấp ủy; ban cán sự đảng, đảng đoàn; các tiểu
ban, hội đồng, tổ công tác do cấp ủy các cấp lập ra.
Đối tượng giám sát là đảng viên gồm có: Cấp ủy viên cùng cấp (kể cả
bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ).
Tất cả mọi đảng viên (kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng
cấp quản lý).
+ Mối quan hệ giữa giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà
định, giám sát của nhân dân là thông qua phản biện xã hội, giám sát trực tiếp
thông qua cơ quan đại diện, thông qua tổ chức của mình mà giám sát đảng
viên.
Công tác giám sát trong Đảng có quan hệ mật thiết với giám sát của các
đoàn thể chính trị - xã hội khác, trong đó chủ yếu với Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể quần chúng… Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn
trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây
dựng Đảng.
1.2. Vị trí, vai trò công tác giám sát trong Đảng
Trong lịch sử thế giới, chế độ giám sát đã có từ đời Tần Thủy Hoàng
(năm 221 tr.Cn). Từ đó đến nay, nó vẫn tồn tại, phát triển cùng với các nhà
nước và các tổ chức chính trị-xã hội.
Vào thời kỳ C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lê-nin, các Ông chưa sử dụng
khái niệm giám sát mà thường sử dụng khái niệm kiểm kê, kiểm tra, kiểm
soát. Tuy nhiên khi nói kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát các Ông đã bao hàm cả
nội dung giám sát.
Trong các tác phẩm của mình, do điều kiện hoàn cảnh lịch sử lúc bấy
giờ, C.Mác chưa đề cập sâu đến công tác kiểm tra, giám sát của một đảng cầm
quyền, nhưng đã thể hiện rõ quan điểm về kiểm tra, giám sát trong quản lý
kinh tế-xã hội. Theo C.Mác, để đạt được kế hoạch, mục tiêu đã đề ra phải tiến
hành kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát là phương thức hành động quan
trọng để thực hiện mục tiêu.
20
Vấn đề kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một trong những vấn đề được
V.I.Lê-nin đặc biệt quan tâm. Ngay từ trước khi Cách mạng Tháng Mười năm
1917 nổ ra và trong những năm đầu của Nhà nước Xô-viết (khi V.I.Lê-nin
còn sống), Người đã có rất nhiều bài viết, bài phát biểu trong các hội nghị và