SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"DẠY KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI MÔN NGỮ VĂN THPT"
1
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Môn ngữ văn (bao gồm ba phần: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là một môn học nền
tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị trí quan trọng trong các môn học, góp phần
tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học sinh.
Cùng với việc rèn kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phần Làm văn được chú
trọng vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng thực hành, sáng tạo của học sinh.
Làm văn gồm hai dạng: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Trong chương trình giảng
dạy mới, nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với trước đây, nhằm mục đích
tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã hội, tạo cho học sinh năng lực chủ
động đề xuất, phát biểu những suy nghĩ của chính mình trước nhiều vấn đề trong cuộc
sống.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Về phía học sinh
Nghị luận xã hội đã được học ở cấp trung học cơ sở, nhưng khi phải trình bày những suy
nghĩ, ý kiến cá nhân về các vấn đề tư tưởng đạo lý, hiện tượng xã hội…thì đa số học sinh
rất lúng túng và “sợ” kiểu bài này.
Nguyên nhân vì sao? Khác với nghị luận văn học, nội dung kiến thức đã được học trước
và thiên về cảm xúc, thì nghị luận xã hội yêu cầu kiến thức rộng hơn và thuyết phục
người đọc chủ yếu bằng lập luận và lý lẽ; chính vì vậy mà kiểu bài này ít gợi được sự
hứng thú ở học sinh.
Thật ra ở sách giáo khoa và sách giáo viên đều có phần hướng dẫn phương pháp làm bài
khá cụ thể. Nhưng dù có áp dụng theo cách hướng dẫn làm bài ấy, nhiều học sinh cũng
động lẫn nhau giữa cộng đồng này sinh ra sự phát triển xã hội. Trong lịch sử , cộng đồng
người đã phát triển từ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc đến dân tộc.
Hiểu theo nghĩa hẹp, cộng đồng xã hội chính là những cộng đồng nghề nghiệp chính trị,
tôn giáo, văn hóa…trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia.
I.1.2. Chính trị
Ngày nay, chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa
các giai cấp, giữa các dân tộc mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử
dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức
tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước. (Từ điển bách khoa Việt Nam).
I.1.3. Bản sắc văn hóa
Bản sắc văn hóa là cái riêng, cái độc đáo mang tính bền vững và tích cực của một cộng
đồng văn hóa.
3
Văn hoá Việt có bản sắc riêng trong mối quan hệ với các nền văn hóa khác. Bản sắc này
hình thành từ chính thực tế địa lý, lịch sử, đời sống cộng đồng của người Việt và quá
trình giao lưu, tiếp xúc, tiếp nhận, biến đổi các giá trị văn hóa của một số nền văn hóa
khác (Trung Hoa, Ấn Độ).
Văn hóa Việt giàu tính nhân bản, tinh tế, hướng tới sự hài hòa trên mọi phương diện (tôn
giáo, nghệ thuật, ứng xử, sinh hoạt)
I.1.4. Môi trường
Hiện nay thế giới đang đứng trước một loạt khó khăn, trong đó có 5 cuộc khủng hoảng
lớn là dân số. lương thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng hoảng
lớn này đều liên quan rất chặt chẽ với môi trường.
Nói một cách đơn giản, môi trường là tất cả mọi thứ xung quanh chúng ta.
Môi trường tự nhiên là tổng thể các nhân tố tự nhiên như: bầu khí quyển, nước, thực
phẩm, động vật, thổ nhưỡng, nham thạch, khoáng sản, bức xạ mặt trời…
Môi trường nhân tạo là hệ thống môi trường được tạo ra do con người lợi dụng tự nhiên,
quan.
I.3. Các nguồn tư tưởng khác
Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo là những tôn giáo có ảnh hường mạnh nhất đến văn hóa
truyền thống và đời sống của người Việt Nam từ xưa đến nay.
Phần này chúng ta chỉ đề cập đến những vấn đề mang tính ảnh hưởng chứ không đi sâu
tìm hiểu về cội nguồn hoặc lịch sử phát triển của các tôn giáo này.
Học sinh cần nắm một số kiến thức cơ bản, để khi gặp những đề bài có liên quan các em
sẽ làm bài đúng hướng và sâu sắc hơn. (Ví dụ: Thế nào là “tiên học lễ, hậu học văn”?,
“Công, dung, ngôn, hạnh” có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống hiện đại?, Ý kiến
của anh, chị về quan niệm “đời là bể khổ”. “Cần, kiệm, liêm, sỉ” là gì? Những đức tính
ấy có còn giá trị với con người hiện đại?...)
I.3.1. Nho giáo
Khái lược những tư tưởng về luân lý, đạo đức liên quan dến đời sống thực tế của con
người trong xã hội mà người đời thường gọi là lễ giáo, Nho phong…
Dù ở thời hiện đại nhưng trong quan hệ giữa người với người, những quan niệm nhân
sinh của Nho giáo như : Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, đạo cha con, tình thầy trò…vẫn còn có ý
nghiã tích cực .
*Những khái niệm cơ bản :
- Tam cương: ba giềng mối kết hợp cá nhân để tạo nên một xã hội có trật tự. Đó là:
+ Quân thần cương: Vua phải xứng đáng làm giềng mối để muôn dân nương tựa. Bề tôi
(dân chúng) phải trung thành với vua.
+ Phụ tử cương: Đạo cha con. Cha phải xứng đáng để con cái nương tựa; con cái phải
hiếu thảo với mẹ cha.
5
+ Phu thê cương: Đạo vợ chồng. Người chồng phải xứng đáng để vợ nương tựa, Vợ có
bổn phận phải chung thủy với chồng.
- Ngũ luân: năm cách ăn ở cho hợp với nhân luân, tức đạo làm người:
I.3.2. Đạo giáo
Cũng như Nho giáo, Đạo giáo là nguồn tư tưởng lớn ảnh hưởng đến đời sống người Việt
xưa, đặc biệt là tầng lớp trí thức trung đại.
Đạo giáo cao siêu, thâm viễn. Giáo viên chỉ cần nói khái lược về thuyết vô vi, lối hành xử
đúng theo bản tính tự nhiên, sống theo chân tính tự nhiên của con người; thú tiêu dao, an
nhiên tự tại, biết đủ, không tranh giành, xong việc thì rút lui, lấy đức báo oán, yêu tất cả
mọi người, không nô lệ dục vọng…
Chử Đồng Tử được coi là ông tổ của Đạo giáo Việt Nam nên còn gọi là Chử Tổ Đạo.
I.3.3. Phật giáo
Dù được du nhập vào nước ta sau Nho giáo và Đạo giáo nhưng Phật giáo lại ảnh hưởng
sâu rộng đến đời sống của người dân bởi sức hòa đồng, hướng thiện, phù hợp với tinh
thần người Việt.
Giáo lý Phật giáo có sức mạnh vô hình ngăn chặn những hành động xấu xa, có hại cho
con người, cho xã hội. Đó là: quan niệm nhân quả, nghiệp báo, ác giả ác báo; khuyến
thiện, tránh ác, giữ tâm trong sạch; từ bi cứu khổ, yêu thương đồng loại, giàu lòng vị
tha…
II. NHỮNG THAO TÁC CƠ BẢN ĐỂ LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
II.1. Những thao tác cơ bản
II.1.1. Giải thích
- Yêu cầu đặt ra
Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để tìm hiểu và lý giải nội dung ý nghĩa bên trong.
Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách vấn đề cho người đọc hiểu được thấu đáo
cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ.
- Công việc cụ thể
Để làm sáng tỏ vấn đề, ta phải đi vào lý giải từ ngữ, điển tích, khái niệm, đi vào nghĩa
đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa mở rộng, đi vào những cách nói tế nhị bóng bẩy để
hiểu được đến nơi đến chốn điều người ta muốn và cái lẽ khiến người ta nói như vậy.
Trong thao tác giải thích, ta vừa dùng lý lẽ để phân tích, lý giải là chủ yếu; vừa dùng dẫn
chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập một cách hiểu đúng đắn, sâu sắc có tính biện chứng
nhằm chống lại cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ, không hết ý.
Bước kết thúc vẫn là bước vận dụng, đặt vấn đề vào thực tiễn cuộc sống hôm nay để đề
xuất phương hướng nỗ lực. Chân lý chỉ giá trị khi soi rọi cho ta sống, làm việc tốt hơn.
Ta cần tránh công thức và rút ra kết luận cho thoả đáng, thích hợp với từng người, hoàn
cảnh, sự việc.
Từ những điều nói trên, ta rút ra một sơ đồ tổng quát theo ba bước:
- Làm rõ điều cần chứng minh trong luận đề được nêu lên.
- Lần lượt đưa ra các dẫn chứng và lý lẽ để làm sáng tỏ điều cần chứng minh.
8
- Rút ra kết luận về phương hướng nỗ lực.
II.1.3. Bình luận
Đây là thao tác có tính tổng hợp vì nó bao hàm cả công việc giải thích lẫn chứng minh.
Nên những yêu cầu của giải thích và chứng minh cũng là yêu cầu đối với văn bình luận,
nhưng giải thích và chứng minh sẽ được viết cô đọng, ngắn gọn hơn so với chỉ một thao
tác chứng minh hoặc giải thích để tập trung cho phần việc quan trọng nhất là bình luận
phần
mở
rộng
vấn
đề.
Trước khi bình luận, ta thường phải bày tỏ thái độ, để khách quan và tránh phiến diện, ta
phải xem xét kĩ luận đề để từ đó có thái độ đúng đắn, có ba khả năng:
- Hoàn toàn nhất trí.
- Chỉ nhất trí một phần (có giới hạn, có điều kiện).
- Không chấp nhận (bác bỏ).
Sau đó, ta bình luận mở rộng lời bàn để vấn đề được nhìn nhận sâu hơn, toàn diện hơn,
triệt để hơn.
Cuối cùng, ta lại chỉ ra phương hướng vận dụng để đưa lý luận vào áp dụng thực tế cuộc
sống.
- Nội dung câu danh ngôn đề cập đến vấn đề nhận thức, hỏi hay không hỏi khi bản thân
mỗi người gặp phải những vấn đề nan giải.
- Có thể khi ta hỏi, ta có khả năng bị cho là chưa đủ trình độ để giải đáp sự việc, thậm
chí bị xem là dốt, nhưng đó chỉ là cái dốt trong thoáng chốc vì ngay sau đó ta đã có được
câu giải đáp đầy đủ về vấn đề.
- Nếu sĩ diện không hỏi, sự thiếu thông suốt về vấn đề sẽ đeo đẳng ta, có khi là suốt cả
một đời.
+ Bàn luận về quan niệm
- Hỏi là một nhu cầu tất yếu của mỗi người khi gặp phải vấn đề chưa thật rõ hoặc vượt
qúa nhận thức của mình.
- Mục đích của việc hỏi là để được biết, được giỏi hơn. Việc hỏi để được hiểu biết và
nâng cao nhận thức cần được xem là một việc bình thường và cần thiết vì những điều ta
biết là rất có giới hạn.
- Quan niệm cho rằng khi mình hỏi ai đó một vấn đề gì sẽ bị người khác cho là trình độ
của mình còn thấp kém là một quan niệm không đúng cả về mặt khoa học lẫn nhận thức.
+ Bài học nhận thức và hành động
- Câu danh ngôn giúp mỗi người nhận thức thêm về vấn đề cần trao đổi để nâng cao kiến
thức.
- Việc học trong và ngoài nhà trường cần được bổ sung liên tục bằng việc mọi người trao
đổi với nhau những điều mình chưa rõ để tất cả cùng rõ.
10
Đề 2:
Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh, chị về quan niệm của Domat:
“Có ba điều để tạo nên hạnh phúc: đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh
mẫn và một trái tim trong sạch.”
*Các ý chính:
+ Giải thích:
kia bị hở)
+ Bàn luận về quan niệm:
- Quan niệm trên của Nam Cao là một quan niệm tuy chua chát nhưng không phải
là không sát với thực tế đời sống.
- Có hai loại người giành hạnh phúc về phần mình (kéo tấm chăn hạnh phúc): loại người
do vô tình, vô tâm và loại người ích kỉ, tham lam.
- Trong thực tế học tập và trong thực tế đời sống, không nên giành tất cả những thuận lợi
về phía mình, đẩy bạn bè và người xung quanh vào cảnh thiếu hụt, bất hạnh.
- Vẫn có những người sẵn sàng nhường tấm chăn hạnh phúc cho những người khốn khó
và lạnh lẽo hơn mình. Đó là những người vị tha, nhân hậu.
+ Bài học nhận thức và hành động:
- Quan niệm của Nam Cao góp phần nhắc nhở những ai chỉ nghĩ đến hạnh phúc của
mình mà không quan tâm đến hạnh phúc của người khác.
- Nên sống theo cách biết quan tâm đến hạnh phúc của người khác và biết san sẻ với
người khác những hạnh phúc của mình.
Đề 4:
Nêu suy nghĩ cùa anh (chị) về câu ngạn ngữ Hi Lạp:
“Học vấn có những chùm rễ đắng cay, nhưng hoa quả lại ngọt ngào”.
*Các ý chính:
+ Giải thích câu ngạn ngữ:
Học vấn là sự hiểu biết do học tập mà có; là quá trình con người thu nhận kiến thức
từ nhà trường, thầy cô, sách vở, bạn bè …
- Chùm rễ đắng cay: hiểu theo nghĩa rộng: trên con đường học tập, chúng ta phải đầu tư
công sức, thời gian, tiền bạc, phải vượt qua rất nhiều khó khăn, gian nan, mà không phải
lúc nào kết quả cũng tốt đẹp.
- Hoa quả ngọt ngào: những thành quả tốt đẹp sẽ đạt được sau một quá trình dài nỗ lực
học tập. Có học vấn con người mới có điều kiện làm chủ thiên nhiên, xã hội và bản thân
mình.
+ Luận bàn về kinh nghiệm học tập và giá trị của học vấn:
12
- Quan niệm trên là một quan niệm đúng đắn. Thực tế cho thấy chẳng mấy ai hoàn thành
sở nguyện của mình khi cứ ngồi mong ước suông. Những người thành đạt trong đời luôn
làm việc, luôn hành động.
13
- Hành động luôn cần thiết đối với tất cả mọi người – nhất là những hành động mang tính
định hướng. Không phải có hành động là sẽ có thành công nhưng muốn thành công
thì phải hành động. Hành động hợp lý sẽ rút ngắn con đường đến đích. Nếu ngược lại,
con đường ấy sẽ kéo dài thêm ra.
- Hành động có thể dẫn đến thành công hay thất bại song điều quan trọng là phải biết rút
ra những bài học kinh nghiệm từ những thành công hay thất bại đó.
- Ước mong phải phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của mỗi người. Ước mong xa vời,
thiếu thực tế thì dù có cố gắng đến mấy cũng khó mà đạt được.
-Nếu ai đó trong đời thường bất chấp tất cả nhằm thỏa mãn ước mong của mình thì đó
là một sai lầm lớn.
+ Bài học nhận thức và hành động:
- Quan niệm của Shakespeare góp phần nhắc nhở những ai chỉ biết ước mong mà không
chịu hành động.
- Ở một góc độ khác, có thể xem quan niệm trên là lời tán thành, biểu dương những con
ngươì luôn làm việc không ngừng để đạt được ước mong của mình.
II.2.2. Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống
2.2.1. Đề tài
- Môi trường (hiện tượng Trái đất nóng lên, thiên tai, ô nhiễm…)
- Ứng xử văn hóa (lời cám ơn, lời xin lỗi, cách nói năng nơi công cộng…)
- Hiện tượng tiêu cực (nghiện thuốc lá, bạo lực gia đình, học sinh đánh nhau trong trường
học…)
- Hiện tượng tích cực (hiến máu nhân đạo, chương trình mùa hè xanh, xây nhà tình
nghiã, người tốt việc tốt…)
- Tôn trọng ước muốn đợi chờ sự may mắn của một số người quanh ta nhưng phải cần
thấy hiện tượng chỉ trông chờ vào may mắn là một hiện tượng mang tính phiêu lưu, xác
suất rủi ro rất cao.
- Nên chăng vẫn chờ đợi sự may mắn đến với cuộc đời mỗi người, nhưng phải hết sức
phấn đấu, nỗ lực trong học tập và trong công việc. Bởi chính những nỗ lực đó sẽ giúp
mỗi người thành công.
- Xét về mức độ may mắn thì càng làm việc càng tạo ra những cơ hội để may mắn có
điền kiện đến với ta nhiều hơn.
Đế 2: (đề thi tuyển sinh đại học năm 2010 - khối C)
Như một thứ a-xit vô hình, thói vô trách nhiệm ở mỗi cá nhân có thể ăn mòn cả một
xã hội.
15
Từ ý kiến trên, anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của mình về tinh
thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc sống hiện nay.
*Các ý chính:
+ Giải thích ý kiến:
- Về nội dung, ý kiến này đề cập đến mối nguy hại ngấm ngầm rất cần cảnh giác của thói
vô trách nhiệm; nó xuất phát từ mỗi cá nhân nhưng lại gây hậu quả to lớn đối với toàn xã
hội.
- Về thực chất, ý kiến này là sự cảnh báo về một vấn nạn đạo đức mang tính thời sự:
thói vô trách nhiệm và hậu quả khôn lường của nó.
+ Luận bàn về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người:
- Tình thần trách nhiệm:
Tinh thần trách nhiệm là ý thức và nỗ lực nhằm hoàn thành tốt những phận sự của mình.
Nó được biểu hiện cụ thể, sống động trong ba mối quan hệ cơ bản : giữa cá nhân với gia
đình, cá nhân với toàn xã hội và các nhân với bản thân mình.
Tinh thần trách nhiệm là một phẩm chất cao đẹp, một thước đo giá trị con người; là cơ sở
Dùng những hành động có v ẻ tích cực để ngụy trang cho những động cơ xấu xa, đê tiện.
- Tác hại của bệnh đạo đức giả:
Đối với mỗi người: Vì sống giả dối nên tự đánh mất dần nhân cách, đánh mất niềm tin, sự
quý trọng của mỗi người dành cho mình.
Đối với xã hội: Làm lẫn lộn những giá trị đạo đức, khiến cho thật giả bất phân; làm suy
đồi phong hóa xã hội và gây nhiều hậu quả khôn lường.
+ Bài học nhận thức và hành động
- Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trao dồi nhân cách, bồi đắp những giá trị đạo đức,
sống chân thành, trung thực.
- Kiên quyết lên án, vạch trần và ngăn chặn thói đạo đức giả.
Đề 4:
Trong “ Thông điệp nhân Ngày Thế giới chống AIDS, 1-12-2003”, Cô-phi-A-nan viết : “
Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn”.
(Trích Ngữ văn 12, tập 1, trang 82, Chương trình chuẩn, NXB Giáo dục 2008)
Từ lời kêu gọi đó, anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn, trình bày suy nghĩ của mình.
*Các ý chính:
+ Nêu những biểu hiện về căn bệnh HIV/AIDS
+ Luận bàn về sự nguy hại của căn bệnh trên
- Sự nguy hiểm của đại dịnh mang tính toàn cầu
17
- Không có thuốc đặc trị
- Nguy cơ lây lan nhanh trên toàn thế giới.
- Tác hại: cướp đi tuổi thọ, sinh mạng con người; làm suy kiệt nguồn nhân lực, dẫn đến
tình trạng nghèo đói.
(Dẫn chứng từ thực tế đời sống)
- Ý nghĩa cấp bách của việc phòng chống HIV/AIDS: không chỉ cùa ngành y tế mà được
nâng lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự và hành động thực tế của mỗi quốc
xã hội nhìn nhận, đón nhận và trân trọng.
- Phải dám ước mơ, dám có khát vọng vượt qua trở lực để vươn đến tương lai; phải
có niềm tin vào nhà trường và cộng đồng.
II.2.3. Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
2.3.1. Đề tài
Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học. Vấn đề xã
hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc
một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học.
2.3.2. Cấu trúc triển khai tổng quát:
- Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa
của vấn đề (hoặc câu chuyện)
- Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ tác
phẩm văn học (câu chuyện).
2.3.3. Một số đề tham khảo:
Đề 1:
Từ tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), anh (chị) hãy bàn về vai
trò của gia đình trong đời sống mỗi con người .
*Các ý chính:
- Những ấn tượng về cuộc sống gia đình trong tác phẩm.
- Mỗi người đều cần có một gia đình, một mái ấm yêu thương để sống và trường thành.
Thật bất hạnh cho những ai không có một gia đình theo đúng nghĩa của gia đình. (phân
tích và lí giải vì sao cần có một gia đình).
- Gia đình với một truyền thống tốt đẹp, một nếp sống lành mạnh sẽ là cơ sở để bồi
dưỡng và hình thành nhân cách cao đẹp và ngược lại, gia đình nếu không có nề nếp, gia
phong sẽ tạo nên những hậu quả rất xấu trong việc giáo dục con người.
Đề 2:
19
20
- Khoá học 2009-2012: Đội tuyển học sinh giỏi môn văn tham dự kì thi học sinh giỏi cấp
tinh đạt 8 giải/ 10 học sinh tham dự trong đó có 1 giải nhì, ba giải 3 và 4 giải khuyến
khích. Một học sinh được tham dự vào kì thi chọn đội tuyển học sinh giỏi quốc gia.
PHẦN BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Trên đây là những nguồn tư tưởng có ảnh hưởng mạnh nhất đến truyền thống văn hóa
người Việt. Tuy nhiên người Việt tiếp nhận các tư tưởng này theo tinh thần “thiết thực,
linh hoạt, dung hòa” (Trần Đình Hượu).
Các giá trị văn hóa thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau không loại trừ nhau trong đời sống
văn hóa Việt, người Việt chọn lọc và kế thừa những giá trị này để tạo nên sự hài hòa bình
ổn trong đời sống văn hóa. Chính vì thế, văn hoá Việt truyền thống giàu giá trị nhân bản.
Cùng với rèn luyện kĩ năng, việc cung cấp kiến thức cho học sinh như đã nêu trên là rất
cần thiết để học sinh có thể làm tốt văn nghị luận xã hội.
Rèn luyện kỹ năng làm bài nghị luận xã hội là rèn luyện cho học sinh nắm vững các dạng
đề, nắm vững các thao tác lập luận và các bước triển khai những luận điểm, luận chứng,
luận cứ, áp dụng vào những đề bài cụ thể để có được những bài viết tốt nhất.
II. KIẾN NGHỊ
Hiện nay những tư liệu liên quan đến nội dung thuộc phạm trù khoa học xã hội nhân văn
thì thư viện nhà trường còn rất thiếu .
Đề nghị thư viện bổ sung thêm sách mới để học sinh và giáo viên có điều kiện tham
khảo, học tập.
Nhà trường cần hỗ trợ kinh phí cho học sinh để các em photo những văn bản cần thiết
trong quá trình tự học.
21