SKKN Dạy kiểu bài nghị luận xã hội môn Ngữ văn THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"DẠY KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI MÔN NGỮ VĂN THPT"
1
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Môn ngữ văn (bao gồm ba phần: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là một môn học nền
tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị trí quan trọng trong các môn học, góp phần
tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học sinh.
Cùng với việc rèn kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phần Làm văn được chú
trọng vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng thực hành, sáng tạo của học sinh.
Làm văn gồm hai dạng: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Trong chương trình giảng
dạy mới, nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với trước đây, nhằm mục đích
tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã hội, tạo cho học sinh năng lực chủ
động đề xuất, phát biểu những suy nghĩ của chính mình trước nhiều vấn đề trong cuộc
sống.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Về phía học sinh
Nghị luận xã hội đã được học ở cấp trung học cơ sở, nhưng khi phải trình bày những suy
nghĩ, ý kiến cá nhân về các vấn đề tư tưởng đạo lý, hiện tượng xã hội…thì đa số học sinh
rất lúng túng và “sợ” kiểu bài này.
Nguyên nhân vì sao? Khác với nghị luận văn học, nội dung kiến thức đã được học trước
và thiên về cảm xúc, thì nghị luận xã hội yêu cầu kiến thức rộng hơn và thuyết phục
người đọc chủ yếu bằng lập luận và lý lẽ; chính vì vậy mà kiểu bài này ít gợi được sự
hứng thú ở học sinh.
Thật ra ở sách giáo khoa và sách giáo viên đều có phần hướng dẫn phương pháp làm bài
khá cụ thể. Nhưng dù có áp dụng theo cách hướng dẫn làm bài ấy, nhiều học sinh cũng
2
thấy rất khó khăn khi viết - viết mươi dòng đã hết ý! Đó là vì các em thiếu một phần vô
cùng quan trọng: kiến thức văn hóa và vốn sống. Vậy kiến thức này lấy ở đâu? Điều này
phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng tự học, tự đọc, tự thu thập kiến thức của học sinh.

các giai cấp, giữa các dân tộc mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử
dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức
tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước. (Từ điển bách khoa Việt Nam).
I.1.3. Bản sắc văn hóa
Bản sắc văn hóa là cái riêng, cái độc đáo mang tính bền vững và tích cực của một cộng
đồng văn hóa.
Văn hoá Việt có bản sắc riêng trong mối quan hệ với các nền văn hóa khác. Bản sắc này
hình thành từ chính thực tế địa lý, lịch sử, đời sống cộng đồng của người Việt và quá
trình giao lưu, tiếp xúc, tiếp nhận, biến đổi các giá trị văn hóa của một số nền văn hóa
khác (Trung Hoa, Ấn Độ).
Văn hóa Việt giàu tính nhân bản, tinh tế, hướng tới sự hài hòa trên mọi phương diện (tôn
giáo, nghệ thuật, ứng xử, sinh hoạt)
4
I.1.4. Môi trường
Hiện nay thế giới đang đứng trước một loạt khó khăn, trong đó có 5 cuộc khủng hoảng
lớn là dân số. lương thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng hoảng
lớn này đều liên quan rất chặt chẽ với môi trường.
Nói một cách đơn giản, môi trường là tất cả mọi thứ xung quanh chúng ta.
Môi trường tự nhiên là tổng thể các nhân tố tự nhiên như: bầu khí quyển, nước, thực
phẩm, động vật, thổ nhưỡng, nham thạch, khoáng sản, bức xạ mặt trời…
Môi trường nhân tạo là hệ thống môi trường được tạo ra do con người lợi dụng tự nhiên,
cải tạo tự nhiên.
Vì môi trường nhân tạo được sáng tạo và phát triển trên cơ sở môi trường tự nhiên nên
môi trường nhân tạo bị môi trường tự nhiên chi phối, và ngược lại, nó cũng ảnh hưởng
nhiều tới môi trường tự nhiên.
I.2. Những mối quan hệ giữa con người với cuộc sống
I.2.1. Quan hệ với thế giới tự nhiên:
Ngươi Việt Nam yêu thiên nhiên, yêu những thắng cảnh hùng vĩ, mĩ lệ của non sông đất
nước và cũng yêu cảnh vật gần gũi, thân quen trong cuộc sống hàng ngày (cây cỏ, hoa lá,
chim muông…). Đó là cội nguồn của tình yêu quê hương đất nước.

I.3.1. Nho giáo
Khái lược những tư tưởng về luân lý, đạo đức liên quan dến đời sống thực tế của con
người trong xã hội mà người đời thường gọi là lễ giáo, Nho phong…
Dù ở thời hiện đại nhưng trong quan hệ giữa người với người, những quan niệm nhân
sinh của Nho giáo như : Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, đạo cha con, tình thầy trò…vẫn còn có ý
nghiã tích cực .
*Những khái niệm cơ bản :
- Tam cương: ba giềng mối kết hợp cá nhân để tạo nên một xã hội có trật tự. Đó là:
+ Quân thần cương: Vua phải xứng đáng làm giềng mối để muôn dân nương tựa. Bề tôi
(dân chúng) phải trung thành với vua.
+ Phụ tử cương: Đạo cha con. Cha phải xứng đáng để con cái nương tựa; con cái phải
hiếu thảo với mẹ cha.
+ Phu thê cương: Đạo vợ chồng. Người chồng phải xứng đáng để vợ nương tựa, Vợ có
bổn phận phải chung thủy với chồng.
- Ngũ luân: năm cách ăn ở cho hợp với nhân luân, tức đạo làm người:
+ Vua tôi: Vua hiền, tôi trung.
+ Cha-con: Cha từ, con hiếu.
+ Vợ- chồng: Chồng xướng, vợ tùy.
+ Anh-em: Anh nhường, em kính.
+ Bằng hữu: Tin nhau, giúp nhau.
- Ngũ thường: năm đức tính thiết yếu hằng ngày mà mỗi cá nhân phải trau dồi để thực
hiện tốt trong cuộc sống. Đó là:
7
+ Nhân: Yếu tố cơ bản của tình cảm. Đó không chỉ là lòng thương người, thương mình,
khoan dung độ lượng mà còn là đạo làm người.
+ Nghĩa: Cư xử cho đúng phép với tất cả mọi người. Trong hành xử, nghĩa thường kèm
theo lợi, bởi vậy mà cần suy nghĩ chín chắn, chọn cái nghĩa làm đầu.
+ Lễ: Sự cúng tế và tôn kính trời-thần, và cũng là nghi thức phải áp dụng khi giao tiếp với
người khác.
+ Trí: Dùng sự hiểu biết và kinh nghiệm để xét người, xét sự vật trước khi hành xử.

II.1. Những thao tác cơ bản
II.1.1. Giải thích
- Yêu cầu đặt ra
Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để tìm hiểu và lý giải nội dung ý nghĩa bên trong.
Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách vấn đề cho người đọc hiểu được thấu đáo
cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ.
9
- Công việc cụ thể
Để làm sáng tỏ vấn đề, ta phải đi vào lý giải từ ngữ, điển tích, khái niệm, đi vào nghĩa
đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa mở rộng, đi vào những cách nói tế nhị bóng bẩy để
hiểu được đến nơi đến chốn điều người ta muốn và cái lẽ khiến người ta nói như vậy.
Trong thao tác giải thích, ta vừa dùng lý lẽ để phân tích, lý giải là chủ yếu; vừa dùng dẫn
chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập một cách hiểu đúng đắn, sâu sắc có tính biện chứng
nhằm chống lại cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ, không hết ý.
Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra điều chúng ta cần vận dụng khi đã tìm hiểu
được chân lý. Phương hướng để vận dụng những chân lý này vào cuộc sống hàng ngày,
tuỳ theo cho cá thể hay cho cộng đồng mà có hướng vận dụng phù hợp, và mỗi chúng ta
phải như thế nào?
Từ những điều nói trên, ta rút ra một sơ đồ tổng quát theo ba bước:
- Làm sáng tỏ điều mà người ta muốn nói (giải thích).
- Trả lời vì sao người ta đã nói như vậy? (tại sao?).
- Từ chân lý được nói lên, rút ra bài học gì trong thực tiễn? (để làm gì).
II.1.2. Chứng minh
- Yêu cầu đặt ra
Làm sáng tỏ chân lý bằng các dẫn chứng và lý lẽ. Khi ta đã chấp nhận cái chân lý thể
hiện trong một phát ngôn nào đó, nhiệm vụ là ta sẽ phải thuyết phục người khác cũng
chấp nhận như mình bằng những dẫn chứng rút ra từ thực tế cuộc sống xưa và nay, từ lịc
sử, từ văn học (nếu đề yêu cầu) và kèm theo dẫn chứng là những lý lẽ dẫn dắt, phân tích
tạo ra lập luận vững chắc, mang đến niềm tin cho người đọc.
10

- Chỉ nhất trí một phần (có giới hạn, có điều kiện).
- Không chấp nhận (bác bỏ).
Sau đó, ta bình luận mở rộng lời bàn để vấn đề được nhìn nhận sâu hơn, toàn diện hơn,
triệt để hơn.
Cuối cùng, ta lại chỉ ra phương hướng vận dụng để đưa lý luận vào áp dụng thực tế cuộc
sống.
II.2. Các dạng nghị luận xã hội
II.2.1. Dạng nghị luận về một tư tưởng, đaọ lý
2.1.1. Đề tài
- Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống ).
- Về tâm hồn, tính cách ( lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính khiêm tốn ).
- Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…).
- Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).
2.1.2. Cấu trúc triển khai tổng quát
- Giới thiệu tư tưởng, đạo lý cần nghị luận.
12
- Giải thích tư tưởng, đạo lý cần bàn luận (từ ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa
bóng…).
- Bàn luận về tư tưởng đạo lý.
+ Phân tích những mặt đúng.
+ Bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận.
(dẫn chứng từ đời sống và văn học)
- Rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lý.
2.1.3. Một số đề tham khảo
Đề 1:
Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sau:
“Hỏi một câu chỉ dốt trong một lát. Không hỏi sẽ dốt suốt cuộc đời”.
(Danh ngôn phương Tây - Dẫn theo Từ điển danh ngôn của Nguyễn Nhật Hoài
và Vũ Tiến Quỳnh).
*Các ý chính:

ngon, ngủ yên, hưởng thụ, …) ; tinh thần khỏe khoắn, sáng suốt giúp con người hoàn
thành tốt công việc, góp phần làm nên sự thành công ; trái tim - tâm hồn trong sáng,
trong sạch thì thể xác và tinh thần mới yên ổn, an lạc.
+ Bàn luận về quan niệm:
- Quan niệm của Domat là đúng đắn, khó lòng mà hạnh phúc nếu cơ thể ôm đau, tinh
thần thiếu sáng suốt.
- Những quan niệm cho rằng có đầy đủ vật chất sẽ có hạnh phúc hoặc chỉ cần có thân thể
khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn là đã có hạnh phúc… là những quan niệm chưa thỏa
đáng. Tất nhiên, vẫn có thể nêu thêm một vài yếu tố có khả năng dẫn con người đến hạnh
phúc nhưng cần hiểu rằng quan niệm được dẫn trên là một quan niệm hợp lý và tích cực.
+ Bài học nhận thức và hành động
Phải biết giữ gìn sự lành mạnh cho cả thể xác, tinh thần, tâm hồn thì mới có được hạnh
phúc.
Đề 3:
Nhà văn Nam Cao, có lần trong truyện ngắn, đã gửi gắm suy nghĩ của mình về hạnh
phúc như sau:
“Hạnh phúc là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia bị hở”
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan điểm trên của nhà văn Nam Cao.
*Các ý chính:
+ Giải thích quan niệm:
15
- Hạnh phúc có thể xem như là một cái chăn có khả năng mang lại sự ấm áp, sự yên ấm
cho con người (cách nói ví von).
- Hạnh phúc ở đời thường có giới hạn (quá hẹp).
- Khó có hạnh phúc cùng một lúc cho tất cả mọi người, vì nếu người này giành thật
nhiều hạnh phúc về phần mình (người này co) thì sẽ có người thiếu hụt hạnh phúc (người
kia bị hở)
+ Bàn luận về quan niệm:
- Quan niệm trên của Nam Cao là một quan niệm tuy chua chát nhưng không phải
là không sát với thực tế đời sống.

- Chúng ta sẽ gặt hái những thành công tốt đẹp không chỉ cho bản thân ta mà còn góp
phần làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn
- Tuy nhiên, hoa quả của học vấn không chỉ là sự giàu sang, địa vị xã hội mà là sự hiểu
biết cái Chân, Thiện, Mĩ để hoàn thiện nhân cách, đạo đức con người
(Làm sáng tỏ tư tưởng trên bằng việc phân tích một số ví dụ lấy từ các tấm gương học
tập, phấn đấu và rèn luyện gian khổ để có được những vinh quang cao quý…)
17
+ Bài học nhận thức và hành động:
Nhận thức và hành động của bản thân trong học tập và cuộc sống.
Đề 5:
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sau của Shakespeare:
“Ước mong mà không kèm theo hành động thì dù hy vọng có cánh cũng không bao giờ
bay tới mục đích”.
*Các ý chính:
+ Giải thích quan niệm:
- Ước mong là những mong muốn, ước mơ về những điều tốt đẹp trong tương lai. Người
ta sống ai cũng mong muốn về những điều tốt đẹp cho mình (trong thực tế vẫn có những
ước mong không chính đáng, ta quan niệm rằng đó chỉ là những dục vọng thấp hèn).
Nhưng từ hiện thực của đời sống đến hiện thực cần vươn tới để đạt được trong tương lai
là một khoảng cách. Nó là cả một đường bay dài – hiểu theo cách nói Shakespeare.
- Ước mong phải đi đôi với hành động, Nếu ước mong mà không thực hiện bằng những
việc làm cụ thể thì cuối cùng ước mong đó cũng chỉ là mong ước. Shakespeare rất
có ý thức nhấn mạnh vai trò của hành động trong việc hiện thực hóa ước mơ của con
người. Chỉ bằng hành động ta mới đạt được những gì mình cần đạt tới.
+ Suy nghĩ về quan niệm:
- Quan niệm trên là một quan niệm đúng đắn. Thực tế cho thấy chẳng mấy ai hoàn thành
sở nguyện của mình khi cứ ngồi mong ước suông. Những người thành đạt trong đời luôn
làm việc, luôn hành động.
18
- Hành động luôn cần thiết đối với tất cả mọi người – nhất là những hành động mang tính

- Bày tỏ thái độ, ý kiến của bản thân về hiện tượng trên
2.2.3. Một số đề tham khảo
Đề 1:
Anh (chị) nghĩ gì về hiện tượng một số người chọn cách sống chỉ luôn ngồi trông chờ
may mắn đến với mình?
*Các ý chính:
+ Nêu hiện tượng:
Trong xã hội ngày nay, có hiện tượng là một số người đã chọn cho mình cách sống chỉ
luôn ngồi trông chờ may mắn đến với mình. Họ lấy điều đó làm chính cho cuộc đời mình,
thay cho việc ra sức học tập và làm việc.
+ Bàn luận về hiện tượng:
20
- Sở dĩ có hiện tượng đó là vì đã là con người, ai cũng mong may mắn, thuận lợi đến với
mình, Chờ đợi may mắn đến với mình là một tâm lí chung của mọi người bởi cuộc đời
luôn ẩn chứa những bất trắc không lường hết được.
- Tâm lý trông chờ may mắn cũng có mặt tích cực của nó. Nó có thể duy trì trong mỗi
người niềm vui, niềm hi vọng để sống.
- Nhưng nếu chỉ thụ động trông chờ may mắn thì dễ thất bại (vì may mắn là một yếu tố ở
bên ngoài ta, không phụ thuộc vào ý chí và mong đợi của ta; may mắn cũng không thể
luôn đến với ta; và cũng bởi một mình sự may mắn không thể dẫn đến thành công.)
+ Bày tỏ thái độ , ý kiến về hiện tượng xã hội đó:
- Tôn trọng ước muốn đợi chờ sự may mắn của một số người quanh ta nhưng phải cần
thấy hiện tượng chỉ trông chờ vào may mắn là một hiện tượng mang tính phiêu lưu, xác
suất rủi ro rất cao.
- Nên chăng vẫn chờ đợi sự may mắn đến với cuộc đời mỗi người, nhưng phải hết sức
phấn đấu, nỗ lực trong học tập và trong công việc. Bởi chính những nỗ lực đó sẽ giúp
mỗi người thành công.
- Xét về mức độ may mắn thì càng làm việc càng tạo ra những cơ hội để may mắn có
điền kiện đến với ta nhiều hơn.
Đế 2: (đề thi tuyển sinh đại học năm 2010 - khối C)

không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm của mình trong mọi lĩnh vực đời sống.
- Cần ý thức rõ tác hại và có thái độ kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của thói vô
trách nhiệm trong xã hội.
Đề 3: (đề thi tuyển sinh đại học năm 2010 - khối D)
Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng.
*Các ý chính:
+ Giải thích ý kiến:
- Đạo đức giả là cách ứng xử giả tạo, dùng vỏ đạo đức bên ngoài nhằm che đậy bản chất
vô đạo đức bên trong.
- Về thực chất, đạo đức giả là lối sống giả dối, vì thế nó nguy hại như một căn bệnh chết
người nhưng khó nhận biết.
+ Luận bàn về sự nguy hại của căn bệnh đạo đức giả:
- Những biểu hiện của bệnh đạo đức giả
Dùng những lời nói hay ho, đẹp đẽ bên ngoài để che đậy ý nghĩ đen tối và tình cảm thấp
hèn bên trong.
Dùng những hành động có v ẻ tích cực để ngụy trang cho những động cơ xấu xa, đê tiện.
- Tác hại của bệnh đạo đức giả:
Đối với mỗi người: Vì sống giả dối nên tự đánh mất dần nhân cách, đánh mất niềm tin, sự
quý trọng của mỗi người dành cho mình.
Đối với xã hội: Làm lẫn lộn những giá trị đạo đức, khiến cho thật giả bất phân; làm suy
đồi phong hóa xã hội và gây nhiều hậu quả khôn lường.
23
+ Bài học nhận thức và hành động
- Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trao dồi nhân cách, bồi đắp những giá trị đạo đức,
sống chân thành, trung thực.
- Kiên quyết lên án, vạch trần và ngăn chặn thói đạo đức giả.
Đề 4:
Trong “ Thông điệp nhân Ngày Thế giới chống AIDS, 1-12-2003”, Cô-phi-A-nan viết : “
Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn”.
(Trích Ngữ văn 12, tập 1, trang 82, Chương trình chuẩn, NXB Giáo dục 2008)

Sự tự nỗ lực của bản thân là điều quan trọng nhất. Sự tự nỗ lực đó thể hiện nghị lực
và quyết tâm cao của người học sinh trong việc vượt qua sự khó khăn của hoàn cảnh.
Sự tự nỗ lực của những học sinh có hoàn cảnh khó khăn đã được sự tiếp sức của nhà
trường và xã hội cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng…
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status