PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Môn ngữ văn (bao gồm ba phần: Văn học, Tiếng Việt, Làm văn) là một
môn học nền tảng về kiến thức và công cụ giao tiếp, có vị trí quan trọng trong
các môn học, góp phần tạo nên trình độ văn hóa cơ bản cho học sinh.
Cùng với việc rèn kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phần Làm
văn được chú trọng vì đây là phần thể hiện rõ nhất kĩ năng thực hành, sáng tạo
của học sinh.
Làm văn gồm hai dạng: nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Trong
chương trình giảng dạy mới, nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với
trước đây, nhằm mục đích tăng cường sự gắn bó của học sinh với đời sống xã
hội, tạo cho học sinh năng lực chủ động đề xuất, phát biểu những suy nghĩ của
chính mình trước nhiều vấn đề trong cuộc sống.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Về phía học sinh
Nghị luận xã hội đã được học ở cấp trung học cơ sở, nhưng khi phải trình
bày những suy nghĩ, ý kiến cá nhân về các vấn đề tư tưởng đạo lý, hiện tượng xã
hội…thì đa số học sinh rất lúng túng và “sợ” kiểu bài này.
Nguyên nhân vì sao? Khác với nghị luận văn học, nội dung kiến
thức đã được học trước và thiên về cảm xúc, thì nghị luận xã hội yêu cầu kiến
thức rộng hơn và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận và lý lẽ; chính vì
vậy mà kiểu bài này ít gợi được sự hứng thú ở học sinh.
Thật ra ở sách giáo khoa và sách giáo viên đều có phần hướng dẫn phương
pháp làm bài khá cụ thể. Nhưng dù có áp dụng theo cách hướng dẫn làm bài ấy,
1
nhiều học sinh cũng thấy rất khó khăn khi viết - viết mươi dòng đã hết ý! Đó là
vì các em thiếu một phần vô cùng quan trọng: kiến thức văn hóa và vốn sống.
Vậy kiến thức này lấy ở đâu? Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng tự
học, tự đọc, tự thu thập kiến thức của học sinh.
Ngày nay, với các phương tiện hiện đại thì việc truy cập thông tin là điều
đơn giản, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại học sinh rất nghèo vốn kiến thức
Ngày nay, chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối
quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc mà cốt lõi của nó là vấn đề giành
chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc
của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của
nhà nước. (Từ điển bách khoa Việt Nam).
I.1.3. Bản sắc văn hóa
Bản sắc văn hóa là cái riêng, cái độc đáo mang tính bền vững và tích cực
của một cộng đồng văn hóa.
Văn hoá Việt có bản sắc riêng trong mối quan hệ với các nền văn hóa khác.
Bản sắc này hình thành từ chính thực tế địa lý, lịch sử, đời sống cộng đồng của
người Việt và quá trình giao lưu, tiếp xúc, tiếp nhận, biến đổi các giá trị văn hóa
của một số nền văn hóa khác (Trung Hoa, Ấn Độ).
Văn hóa Việt giàu tính nhân bản, tinh tế, hướng tới sự hài hòa trên mọi
phương diện (tôn giáo, nghệ thuật, ứng xử, sinh hoạt)
4
I.1.4. Môi trường
Hiện nay thế giới đang đứng trước một loạt khó khăn, trong đó có 5 cuộc
khủng hoảng lớn là dân số. lương thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái. Năm
cuộc khủng hoảng lớn này đều liên quan rất chặt chẽ với môi trường.
Nói một cách đơn giản, môi trường là tất cả mọi thứ xung quanh chúng ta.
Môi trường tự nhiên là tổng thể các nhân tố tự nhiên như: bầu khí quyển,
nước, thực phẩm, động vật, thổ nhưỡng, nham thạch, khoáng sản, bức xạ mặt
trời…
Môi trường nhân tạo là hệ thống môi trường được tạo ra do con người lợi
dụng tự nhiên, cải tạo tự nhiên.
Vì môi trường nhân tạo được sáng tạo và phát triển trên cơ sở môi trường
tự nhiên nên môi trường nhân tạo bị môi trường tự nhiên chi phối, và ngược lại,
nó cũng ảnh hưởng nhiều tới môi trường tự nhiên.
I.2. Những mối quan hệ giữa con người với cuộc sống
I.2.1. Quan hệ với thế giới tự nhiên:
Học sinh cần nắm một số kiến thức cơ bản, để khi gặp những đề bài có liên
quan các em sẽ làm bài đúng hướng và sâu sắc hơn. (Ví dụ: Thế nào là “tiên học
6
lễ, hậu học văn”?, “Công, dung, ngôn, hạnh” có ý nghĩa như thế nào trong cuộc
sống hiện đại?, Ý kiến của anh, chị về quan niệm “đời là bể khổ”. “Cần,
kiệm, liêm, sỉ” là gì? Những đức tính ấy có còn giá trị với con người hiện đại? )
I.3.1. Nho giáo
Khái lược những tư tưởng về luân lý, đạo đức liên quan dến đời sống thực
tế của con người trong xã hội mà người đời thường gọi là lễ giáo, Nho phong…
Dù ở thời hiện đại nhưng trong quan hệ giữa người với người, những quan
niệm nhân sinh của Nho giáo như : Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, đạo cha con, tình
thầy trò…vẫn còn có ý nghiã tích cực .
*Những khái niệm cơ bản :
- Tam cương: ba giềng mối kết hợp cá nhân để tạo nên một xã hội có trật
tự. Đó là:
+ Quân thần cương: Vua phải xứng đáng làm giềng mối để muôn dân
nương tựa. Bề tôi (dân chúng) phải trung thành với vua.
+ Phụ tử cương: Đạo cha con. Cha phải xứng đáng để con cái nương tựa;
con cái phải hiếu thảo với mẹ cha.
+ Phu thê cương: Đạo vợ chồng. Người chồng phải xứng đáng để vợ nương
tựa, Vợ có bổn phận phải chung thủy với chồng.
- Ngũ luân: năm cách ăn ở cho hợp với nhân luân, tức đạo làm người:
+ Vua tôi: Vua hiền, tôi trung.
+ Cha-con: Cha từ, con hiếu.
+ Vợ- chồng: Chồng xướng, vợ tùy.
7
+ Anh-em: Anh nhường, em kính.
+ Bằng hữu: Tin nhau, giúp nhau.
- Ngũ thường: năm đức tính thiết yếu hằng ngày mà mỗi cá nhân phải trau
dồi để thực hiện tốt trong cuộc sống. Đó là:
Chử Tổ Đạo.
I.3.3. Phật giáo
Dù được du nhập vào nước ta sau Nho giáo và Đạo giáo nhưng Phật giáo
lại ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống của người dân bởi sức hòa đồng, hướng
thiện, phù hợp với tinh thần người Việt.
Giáo lý Phật giáo có sức mạnh vô hình ngăn chặn những hành động xấu xa,
có hại cho con người, cho xã hội. Đó là: quan niệm nhân quả, nghiệp báo, ác giả
ác báo; khuyến thiện, tránh ác, giữ tâm trong sạch; từ bi cứu khổ, yêu thương
đồng loại, giàu lòng vị tha…
II. NHỮNG THAO TÁC CƠ BẢN ĐỂ LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
9
II.1. Những thao tác cơ bản
II.1.1. Giải thích
- Yêu cầu đặt ra
Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để tìm hiểu và lý giải nội dung ý
nghĩa bên trong. Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách vấn đề cho
người đọc hiểu được thấu đáo cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ.
- Công việc cụ thể
Để làm sáng tỏ vấn đề, ta phải đi vào lý giải từ ngữ, điển tích, khái niệm, đi
vào nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa mở rộng, đi vào những cách nói tế
nhị bóng bẩy để hiểu được đến nơi đến chốn điều người ta muốn và cái lẽ khiến
người ta nói như vậy.
Trong thao tác giải thích, ta vừa dùng lý lẽ để phân tích, lý giải là chủ yếu;
vừa dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập một cách hiểu đúng đắn, sâu
sắc có tính biện chứng nhằm chống lại cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ, không
hết ý.
Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra điều chúng ta cần vận dụng
khi đã tìm hiểu được chân lý. Phương hướng để vận dụng những chân lý này vào
cuộc sống hàng ngày, tuỳ theo cho cá thể hay cho cộng đồng mà có hướng vận
dụng phù hợp, và mỗi chúng ta phải như thế nào?
thích hợp với từng người, hoàn cảnh, sự việc.
Từ những điều nói trên, ta rút ra một sơ đồ tổng quát theo ba bước:
- Làm rõ điều cần chứng minh trong luận đề được nêu lên.
- Lần lượt đưa ra các dẫn chứng và lý lẽ để làm sáng tỏ điều cần chứng
minh.
- Rút ra kết luận về phương hướng nỗ lực.
II.1.3. Bình luận
Đây là thao tác có tính tổng hợp vì nó bao hàm cả công việc giải thích lẫn
chứng minh. Nên những yêu cầu của giải thích và chứng minh cũng là yêu cầu
đối với văn bình luận, nhưng giải thích và chứng minh sẽ được viết cô đọng,
ngắn gọn hơn so với chỉ một thao tác chứng minh hoặc giải thích để tập trung
cho phần việc quan trọng nhất là bình luận phần mở rộng vấn đề.
Trước khi bình luận, ta thường phải bày tỏ thái độ, để khách quan và tránh phiến
diện, ta phải xem xét kĩ luận đề để từ đó có thái độ đúng đắn, có ba khả năng:
- Hoàn toàn nhất trí.
- Chỉ nhất trí một phần (có giới hạn, có điều kiện).
- Không chấp nhận (bác bỏ).
Sau đó, ta bình luận mở rộng lời bàn để vấn đề được nhìn nhận sâu hơn,
toàn diện hơn, triệt để hơn.
Cuối cùng, ta lại chỉ ra phương hướng vận dụng để đưa lý luận vào áp dụng
thực tế cuộc sống.
12
II.2. Các dạng nghị luận xã hội
II.2.1. Dạng nghị luận về một tư tưởng, đaọ lý
2.1.1. Đề tài
- Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống ).
- Về tâm hồn, tính cách ( lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính khiêm tốn ).
- Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…).
- Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).
2.1.2. Cấu trúc triển khai tổng quát
thiết vì những điều ta biết là rất có giới hạn.
14
- Quan niệm cho rằng khi mình hỏi ai đó một vấn đề gì sẽ bị người khác
cho là trình độ của mình còn thấp kém là một quan niệm không đúng cả về mặt
khoa học lẫn nhận thức.
+ Bài học nhận thức và hành động
- Câu danh ngôn giúp mỗi người nhận thức thêm về vấn đề cần trao đổi để
nâng cao kiến thức.
- Việc học trong và ngoài nhà trường cần được bổ sung liên tục bằng việc
mọi người trao đổi với nhau những điều mình chưa rõ để tất cả cùng rõ.
Đề 2:
Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh, chị về quan niệm
của Domat:
“Có ba điều để tạo nên hạnh phúc: đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh
thần minh mẫn và một trái tim trong sạch.”
*Các ý chính:
+ Giải thích:
- Ba yếu tố cần có để tạo nên cuộc sống hạnh phúc cho một con người: sức
khỏe (ăn ngon, ngủ yên, hưởng thụ, …) ; tinh thần khỏe khoắn, sáng suốt giúp
con người hoàn thành tốt công việc, góp phần làm nên sự thành công ; trái tim -
tâm hồn trong sáng, trong sạch thì thể xác và tinh thần mới yên ổn, an lạc.
+ Bàn luận về quan niệm:
- Quan niệm của Domat là đúng đắn, khó lòng mà hạnh phúc nếu
cơ thể ôm đau, tinh thần thiếu sáng suốt.
15
- Những quan niệm cho rằng có đầy đủ vật chất sẽ có hạnh phúc hoặc chỉ
cần có thân thể khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn là đã có hạnh phúc… là những
quan niệm chưa thỏa đáng. Tất nhiên, vẫn có thể nêu thêm một vài yếu tố có khả
năng dẫn con người đến hạnh phúc nhưng cần hiểu rằng quan niệm được dẫn
trên là một quan niệm hợp lý và tích cực.
- Nên sống theo cách biết quan tâm đến hạnh phúc của người khác và biết
san sẻ với người khác những hạnh phúc của mình.
Đề 4:
Nêu suy nghĩ cùa anh (chị) về câu ngạn ngữ Hi Lạp:
“Học vấn có những chùm rễ đắng cay, nhưng hoa quả lại ngọt ngào”.
*Các ý chính:
+ Giải thích câu ngạn ngữ:
Học vấn là sự hiểu biết do học tập mà có; là quá trình con người thu nhận
kiến thức từ nhà trường, thầy cô, sách vở, bạn bè …
17
- Chùm rễ đắng cay: hiểu theo nghĩa rộng: trên con đường học tập, chúng ta
phải đầu tư công sức, thời gian, tiền bạc, phải vượt qua rất nhiều khó khăn, gian
nan, mà không phải lúc nào kết quả cũng tốt đẹp.
- Hoa quả ngọt ngào: những thành quả tốt đẹp sẽ đạt được sau một quá
trình dài nỗ lực học tập. Có học vấn con người mới có điều kiện làm chủ thiên
nhiên, xã hội và bản thân mình.
+ Luận bàn về kinh nghiệm học tập và giá trị của học vấn:
- Học vấn là con đường tiếp thu kiến thức của nhân loại, để học tập có hiệu
quả chúng ta phải đầu tư công sức, tiền bạc, thời gian…
- Trong đó, sự nỗ lực của bản thân là điều quan trọng. Sự nỗ lực đó thể
hiện nghị lực và quyết tâm cao của người học trong việc vượt lên hoàn cảnh, thử
thách.
- Chúng ta sẽ gặt hái những thành công tốt đẹp không chỉ cho bản thân ta
mà còn góp phần làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn
- Tuy nhiên, hoa quả của học vấn không chỉ là sự giàu sang, địa vị xã hội
mà là sự hiểu biết cái Chân, Thiện, Mĩ để hoàn thiện nhân cách, đạo đức con
người
(Làm sáng tỏ tư tưởng trên bằng việc phân tích một số ví dụ lấy từ các tấm
gương học tập, phấn đấu và rèn luyện gian khổ để có được những vinh quang
cao quý…)
là phải biết rút ra những bài học kinh nghiệm từ những thành công hay thất bại
đó.
- Ước mong phải phù hợp với khả năng và hoàn cảnh của mỗi người. Ước
mong xa vời, thiếu thực tế thì dù có cố gắng đến mấy cũng khó mà đạt được.
-Nếu ai đó trong đời thường bất chấp tất cả nhằm thỏa mãn ước mong của
mình thì đó là một sai lầm lớn.
+ Bài học nhận thức và hành động:
- Quan niệm của Shakespeare góp phần nhắc nhở những ai chỉ biết ước
mong mà không chịu hành động.
- Ở một góc độ khác, có thể xem quan niệm trên là lời tán thành, biểu
dương những con ngươì luôn làm việc không ngừng để đạt được ước mong của
mình.
II.2.2. Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống
2.2.1. Đề tài
- Môi trường (hiện tượng Trái đất nóng lên, thiên tai, ô nhiễm…)
- Ứng xử văn hóa (lời cám ơn, lời xin lỗi, cách nói năng nơi công cộng…)
- Hiện tượng tiêu cực (nghiện thuốc lá, bạo lực gia đình, học sinh đánh nhau
trong trường học…)
- Hiện tượng tích cực (hiến máu nhân đạo, chương trình mùa hè xanh, xây
nhà tình nghiã, người tốt việc tốt…)
2.2.2. Cấu trúc triển khai tổng quát
20
- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận.
- Nêu rõ hiện tượng.
- Bàn luận về hiện tượng.
+ Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng.
+ Phân tích mặt đúng, sai, lợi, hại
(Dùng dẫn chứng từ cuộc sống để chứng minh)
- Bày tỏ thái độ, ý kiến của bản thân về hiện tượng trên
2.2.3. Một số đề tham khảo
mòn cả một xã hội.
Từ ý kiến trên, anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của
mình về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con người trong cuộc
sống hiện nay.
*Các ý chính:
+ Giải thích ý kiến:
22
- Về nội dung, ý kiến này đề cập đến mối nguy hại ngấm ngầm rất cần cảnh
giác của thói vô trách nhiệm; nó xuất phát từ mỗi cá nhân nhưng lại gây hậu quả
to lớn đối với toàn xã hội.
- Về thực chất, ý kiến này là sự cảnh báo về một vấn nạn đạo đức mang
tính thời sự: thói vô trách nhiệm và hậu quả khôn lường của nó.
+ Luận bàn về tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm của con
người:
- Tình thần trách nhiệm:
Tinh thần trách nhiệm là ý thức và nỗ lực nhằm hoàn thành tốt những phận
sự của mình. Nó được biểu hiện cụ thể, sống động trong ba mối quan hệ cơ bản :
giữa cá nhân với gia đình, cá nhân với toàn xã hội và các nhân với bản thân
mình.
Tinh thần trách nhiệm là một phẩm chất cao đẹp, một thước đo giá trị con
người; là cơ sở để xây dựng hạnh phúc của mỗi gia đình; đồng thời tinh thần
trách nhiệm cũng góp phần quan trọng tạo nên quan hệ xã hội tốt đẹp, thúc đẩy
sự phát triển của xã hội.
- Thói vô trách nhiệm
Thói vô trách nhiệm là một sự biểu hiện của lối sống phi đạo đức,
thể hiện ý thức và hành động không làm tròn phận sự của mình đối với xã hội,
gia đình và bản thân, gây nên những hậu quả tiêu cực. Hiện nay, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, lối sống ấy đang khá phổ biến, trở thành một vấn nạn
trong xã hội.
23
- Thấy rõ sự cần thiết phải tích cực trao dồi nhân cách, bồi đắp những
giá trị đạo đức, sống chân thành, trung thực.
- Kiên quyết lên án, vạch trần và ngăn chặn thói đạo đức giả.
Đề 4:
Trong “ Thông điệp nhân Ngày Thế giới chống AIDS, 1-12-2003”, Cô-phi-
A-nan viết : “ Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt
đầu từ chính các bạn”.
(Trích Ngữ văn 12, tập 1, trang 82, Chương trình chuẩn, NXB Giáo dục
2008)
Từ lời kêu gọi đó, anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn, trình bày suy nghĩ
của mình.
*Các ý chính:
+ Nêu những biểu hiện về căn bệnh HIV/AIDS
25