Một vài kinh nghiệm dạy kiểu bài nghị luận xã hội trong chương trình ngữ văn 9 - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
Có thể nói, xã hội ngày càng phát triển thì tính chất phức tạp và đa chiều
càng thể hiện rõ nét. Nhiều hiện tượng đời sống xã hội khá phức tạp có sự đan
xen cả mặt tốt và mặt xấu. Vì vậy, giúp học sinh nhận ra sự việc, hiện tượng hay
định hướng cho các em một tư tưởng, đạo lí thật thấu đáo quả không dễ.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ học sinh hiện nay ngại học văn.
Số em “có tố chất văn” cũng tỏ ra ngại ngùng hoặc không ngần ngại khi quyết
định chuyển sang khối khác không có văn. Sau mỗi kì thi không thiếu những bài
văn “cười ra nước mắt” được biết đến qua phương tiện thông tin đại chúng. Để
tránh thực trạng trên, mỗi giáo viên cần khơi gợi trong các em sự yêu thích, say
mê đối với môn học mang tính nhân văn này. Với kiểu bài nghị luận xã hội,
dung lượng của một bài làm không quá dài so với các kiểu bài khác sẽ không
làm học sinh ngại học, ngại viết.
Mặt khác, đổi mới dạy học là việc lấy học sinh làm trung tâm. Việc học
thực sự phát huy hiệu quả khi học sinh hứng thú học. Các em biết chủ động,
sáng tạo, biến kiến thức thành của mình. Môn Ngữ văn so với các môn học khác
có đặc trưng riêng: “ Văn ôn, võ luyện”. Vậy làm cách nào để đem lại hứng thú
khi học sinh làm bài nghị luận xã hội ?
“ Văn học là nhân học” nên dạy văn, học văn là học cách làm người. Học
tốt, làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội chính là cơ hội để các em rèn luyện kĩ năng
sống, ý thức bảo vệ môi trường và có những suy nghĩ đúng đắn trước các sự
việc, hiện tượng đang diễn ra xung quanh. Từ đó có hành động thiết thực, tốt
đẹp tô điểm cho cuộc đời.
Hơn nữa, từ năm 2009 (năm đầu tiên thi tốt nghiệp theo chương trình
SGK mới), trong các đề thi dành cho chương trình phân ban thí nghiệm đã có
câu làm văn nghị luận xã hội. Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT đã qui định có
câu làm văn nghị luận xã hội chiếm 3.0 điểm trong thang điểm 10 của toàn bài
thi. Với kì thi vào 10 của học sinh cấp THCS, những năm gần đây, dạng đề này
cũng đã được đưa vào cấu trúc đề thi.
Một mùa thi sắp đến gần, với hi vọng sẽ nâng cao một phần chất lượng

B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

2


Căn cứ vào nội dung nghị luận thì văn nghị luận được chia thành 2 loại:
nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Nếu như bài văn nghị luận văn học yêu
cầu người viết phải trình bày ý kiến, nhận xét về một vấn đề trong các tác phẩm
văn học (nhân vật, cuộc đời…) thì bài nghị luận xã hội lại bàn đến các vấn đề
của đời sống xã hội. Như vậy, giới hạn đề tài mà kiểu bài nghị luận xã hội đề cập
đến là phạm vi rất rộng, trừu tượng như phạm trù đạo đức con người, lẽ sống…
học sinh dễ có tâm lí ngại khi đề cập đến những vấn đề đó. Bằng nghiệp vụ sư
phạm của mình, giáo viên truyền niềm đam mê, sự hứng thú đến với học sinh.
Văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội nói riêng, tâm lí học sinh
thường cảm thấy ngại học, ngại viết. Nhất là trong thiên hướng học lệch của học
sinh hiện nay, các em chỉ quan tâm đến những môn học tự nhiên, ngại học văn,
chưa chịu khó khám phá “chất văn” trong mỗi bài văn. Vì vậy, khi giáo viên
giao đề văn làm thì các em đã vội vàng giở văn mẫu để chép dẫn đến tình trạng
bài văn không mang dấu ấn riêng của người viết. Đọc bài nào người chấm cũng
thấy sự na ná trong cấu tứ rất nhàm chán. Văn nghị luận xã hội đề cập đến
những vấn đề có tính “ thời sự” đang diễn ra, sẽ giúp các em thoát li khuôn mẫu,
có cách viết, cách nghĩ chủ động. Từ đó rèn cho các em sự năng động, sáng tạo
trong cuộc sống- một phẩm chất rất cần có của mỗi học sinh nhất là trong giai
đoạn phát triển của nước ta hiện nay.
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, dạng đề này được đưa vào cấu
trúc thi tốt nghiệp THPT và vào 10 cấp THCS. Vì vậy, giáo viên và học sinh đã
quan tâm nhiều hơn đến văn nghị luận xã hội. Học tốt, làm tốt kiểu bài này các
em sẽ đạt được kết quả tốt hơn trong các kì thi quan trọng. Văn nghị luận xã hội
giúp các em có cách nhìn, cách đánh giá chuẩn mực hơn, từ đó định hướng cho

còn quá ít:
+Tiết 99: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
+Tiết 100: Cách làm bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời
sống.
+Tiết 109: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
+Tiết 113, 114: Cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
- Giáo viên chưa thực sự hiểu bản chất của kiểu bài.
- Nhiều giáo viên chưa nắm bắt kịp thời các vấn đề xã hội nóng bỏng.
1.2. Đối với học sinh:
- Vốn sống ít, đặc biệt đối với học sinh Trường THCS Thành Công, các em
có suy nghĩ đơn giản trước các vấn đề trong cuộc sống, không có thói quen lật
lại vấn đề.
- Không hiểu bản chất kiểu bài: không chỉ sao chép lại sự việc, hiện tượng
một cách đơn giản mà cần phải đưa những vấn đề ra để phân tích, đánh giá.
- Đối với nghị luận văn học, học sinh thường bám vào các luận điểm quan
trọng có sẵn, trong khi kiểu bài nghị luận xã hội học sinh phải tự tìm luận điểm
trong khi khả năng tư duy, đánh giá còn hạn chế.
2. Kết quả của thực trạng

4


Thực tế cho thấy, giáo viên ngại đổi mới trong phương pháp dạy học sẽ
dẫn đến việc học chưa có hiệu quả như mong muốn. Qua khảo sát đầu học kì II
năm học 2014- 2015 kết quả thu được như sau:
Khối 9
Giỏi (%)
Khá (%)
Trung bình (%)
Yếu (%)


Mở bài viết gì ?
Thân bài chia thành mấy đoạn văn? Tương
ứng với những luận điểm nào?
Kết bài có nhiệm vụ gì?
Sự việc, hiện tượng cần nghị luận là gì ?
Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp
khắc phục của sự việc, hiện tượng đó?
5


Em có suy nghĩ gì về sự việc, hiện tượng trên?
Với tiết học này, giáo viên có thể lựa chọn vấn đề về vệ sinh an toàn thực
phẩm để đặt các câu hỏi:
Câu hỏi 1: Em hãy nêu thực trạng của vấn đề thực phẩm bẩn hiện nay?
Câu hỏi 2: Nguyên nhân và hậu quả của thực trạng nói trên là gì?
Câu hỏi 3: Từ hâu quả đó, theo em cần có những giải pháp nào?
Khi tôi đặt những câu hỏi trên, học sinh trường tôi đã có những câu trả lời
như sau:
- Thực trạng: Thực phẩm bẩn là hiện tượng phổ biến, đang diễn ra từng
ngày: thịt có chất tạo nạc, rau có thuốc trừ sâu…
- Nguyên nhân: + Thái độ độc ác, ích kỉ của những người sản xuất thực
phẩm.
+ Tâm lí dùng và tiêu thụ hàng rẻ của người dân.
- Hậu quả:
+ Gây nên những bệnh tật nguy hiểm như ung thư,…
+ Gây tâm lí hoang mang cho xã hội.
- Giải pháp:
+ Nâng cao ý thức tự giác trong việc cung cấp thực phẩm
sạch, an toàn cho mình và người khác.

thần gây ra gần đây.
- Cảm phục, xúc động trước những cử chỉ, hành động, việc làm cao đẹp của
cậu bé.
- Rút ra bài học về thái độ bình tĩnh, nhẫn nại, về tinh thần nhường cơm xẻ áo,
chấp nhận hi sinh cho người khác.
- Trong mọi hoàn cảnh, nhất là hoàn cảnh khó khăn, vẻ đẹp của tình người vẫn
toả sáng lấp lánh. Đó chính là “cái hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con
người.”
Vậy việc hướng dẫn học sinh tìm ra câu trả lời chính là giáo viên đang hướng
dẫn học sinh tìm ra các luận điểm chính của bài viết.
1.2. Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong đó tôi sử dụng có hiệu
quả phương pháp chia nhóm.
Nếu như phương pháp dạy học “ thuyết trình hiệu quả” thiên về lí lẽ nhiều
thì việc vận dụng chia nhóm lại mang tính thực hành. Kiểu bài nghị luận xã hội
có phạm vi rộng là các vấn đề trong thực tế đời sống. Chia nhóm giúp các em có
cơ hội chia sẻ thông tin cho nhau. Thâm nhập thực tế bằng những trải nghiệm
của bản thân sẽ giúp các em có sự hiểu biết sâu rộng hơn về các vấn đề của xã
hội.
Chia nhóm học tập, giáo viên phân công công việc cụ thể cho mỗi nhóm
bằng cách dành thời gian thích đáng (5 đến 7 phút) trong phần hướng dẫn học
sinh học bài cũ và chuẩn bị bài mới. Ví dụ: Để học tốt, làm bài tốt phần nghị
luận xã hội, giáo viên chia nhóm như sau: (Tuỳ vào số học sinh trong một lớp để
chia nhóm cho phù hợp)
+ Nhóm 1: Sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ, danh ngôn liên quan đến bài
học làm người. Mỗi em trình bày suy nghĩ về câu em tâm đắc nhất ?
+ Nhóm 2: Hiện tượng nổi bật nhất trong giới học sinh tuần qua trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Em có suy nghĩ gì về vấn đề đó ?

7


tưởng, đạo


Giải thích
Thân bài:
-Giải thích, chứng
minh nội dung vấn
đề tư tưởng, đạo lí.
-Nhận định, đánh
giá vấn đề tư tưởng,
đạo lí đó trong bối
cảnh của cuộc sống
riêng, chung.

Phân tích

Mở rộng

Kếtsơbài:
Hiện nay, việc sử dụng
đồ tư duy vào dạy học thực sự đem lại hiệu quả.
Kết
luận,
tổng
kết,lànêu
thức
tỏ ýsự
Học sinh dễ nắm bắt kiến thức. Sơ đồ
tư duy
mộtnhận

chủ quan để vấn đề bàn luận được xem xét thấu đáo hơn) và sử dụng lời văn.
Lời văn trong văn nghị luận xã hội phải chặt chẽ, chính xác, có sức lay động tới
người đọc. Vì vậy cần kết hợp linh hoạt kiểu câu và một số phương pháp lập
luận trong bài.
Tóm lại, dù đối tượng học sinh nào các em cũng cần thiết nắm được bố
cục của một bài nghị luận xã hội. Khi viết một bài văn nghị luận xã hội ngắn hay
một đoạn văn cũng phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu của một bài làm. Việc dạy
học phù hợp với mức độ nhận thức của học sinh có thể bổ sung kịp thời chỗ kiến
thức còn thiếu hụt của các em, cũng là một cách khơi gợi sự hứng thú khi làm
bài văn nghị luận xã hội của học sinh.
3. Tạo môi trường học tập thân thiện tích cực
3.1. Tổ chức cho các em:“học mà chơi, chơi mà học”.
Việc học căng thẳng, những bài học triết lí, khô khan, xa rời thực tế sẽ khiến
các em nhàm chán. Giáo viên là người biến một giờ học căng thẳng thành những
phút giây thư giãn đáng mong đợi ở các em.Tổ chức cho các em được nhập vai
tình huống, kể lại tình huống hay câu chuyện sẽ giúp các em thích thú hơn.
Chẳng hạn để giải quyết đề:
“ Có một người cha trước khi chết gọi ba người con trai đến bên giường, đưa
cho họ một bó tên và bảo: “ Các con thử bẻ bó tên này xem ai có thể bẻ gãy
được. Cả ba người con đều lấy hết sức bình sinh để bẻ nhưng bó tên vẫn không
10


gãy một chiếc nào. Người cha cầm lấy bó tên tháo ra và lần lượt bẻ từng chiếc
một. Trong phút chốc bó tên đã bị bẻ gãy…”
(Truyện ngụ ngôn Người cha và bó tên)
Từ câu chuyện trên, em hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 30 dòng) bàn về tình
đoàn kết trong gia đình và cộng đồng.
Học sinh được đóng vai hay kể lại, nghĩa là các em đang được trải nghiệm. Điều
đó sẽ giúp các em có những suy nghĩ sâu sắc hơn, toàn diện hơn.


bằng chứng sống sẽ sinh động và hiệu quả hơn rất nhiều khi các em viết văn
nghị luận.
3.3. Rèn luyện, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh:
Từ suy nghĩ đẹp dẫn đến hành động đẹp quả không sai. Những đề văn nghị
luận xã hội giúp các em nhìn nhận lại mình. Chẳng hạn đề bài sau:
Những dấu hiệu vô cảm
Thầy giáo kể chuyện về một nhóm học sinh lớp 7 trường Nguyễn Trãi
( Nghi Xuân-Hà Tĩnh) nhặt được số tiền rất lớn (2.400 USD) vội báo với công
an tìm cách trả lại người đánh mất và các em đã được nhà trường tuyên dương
khen thưởng…( Theo Vietbao.vn, tháng 3-2007). Cả lớp lắng nghe. Rồi ồ lên, xì
xào bàn tán…Một số bạn nói là “Điên!”…
Suy nghĩ của em về những phản ứng của lớp học.
Trong đề bài nghị luận xã hội dù vấn đề nêu ra là tốt hay chưa tốt thì đều có ý
nghĩa giáo dục với học sinh. Đưa ra chính kiến của mình chính là phát huy sự
chủ động, sáng tạo của học sinh. Mỗi đề văn là một thông điệp cuộc sống giúp
các em hoàn thiện mình, trở thành những công dân tốt cho xã hội. Điều đó thật ý
nghĩa biết bao.
4. Vận dụng linh hoạt đổi mới kiểm tra đánh giá
4.1. Ra đề văn theo hướng mở.
Văn nghị luận nói chung và văn nghị luận xã hội nói riêng đòi hỏi phải xác lập
suy nghĩ, đánh giá của người viết. Muốn đạt được điều này phải tạo cơ hội cho
học sinh được nêu lên suy nghĩ riêng của mình một cách xác đáng. Bởi có những
vấn đề các em tâm đắc nhưng cũng có những vấn đề các em chưa thật sự nhập
tâm. Vậy đề văn theo hướng mở sẽ giúp các em được lựa chọn vấn đề theo sở
trường riêng của mình. Chắc chắn bài văn sẽ có hiệu quả. Ví dụ: Đề bài: Một
câu danh ngôn mà em tâm đắc. Đề bài trên, học sinh có thể lựa chọn những câu
mà mình thích và hiểu sâu sắc, sẽ là một lợi thế cho các em phát huy trong bài
làm, khích thích được sự chủ động, sáng tạo. Có thể nói hiệu quả bài làm của
học sinh phụ thuộc vào sự đổi mới về phương pháp cũng như đổi mới kiển tra


IV. HIỆU QUẢ
Sau một thời gian áp dụng “ Một vài kinh nghiệm trong việc dạy kiểu bài
nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn 9” tại Trường THCS Thành
Công, tôi thấy bước đầu đã thu được kết quả khả quan.
Đầu học kì II năm học 2014- 2015 khi chưa áp dụng:
Khối 9
Giỏi (%)
Khá (%)
Trung bình
Yếu (%)
(%)
44 học sinh
2 (4,5)
7 (15,9)
15 (34,1)
20 (45,5)
Đầu học kì II năm học 2015- 2016 sau khi áp dụng:
Khối 9
Giỏi (%)
Khá (%)
Trung bình (%)
Yếu (%)
46 học sinh
8 (17.4)
14 (30.4)
19 (41.3)
3 (6.9)
13


XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thạch Thành, ngày 10 tháng 04 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Tác giả

Mai Thị Hồng

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status