Nâng cao chất văn cho bài văn nghị luận xã hội của học sinh
Trường THPT Như Thanh 2 qua giờ học tự chọn.
A. Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài.
Nghị luận về một vấn đề xã hội đã từng được đề cập đến trong chương trình cải
cách giáo dục song chưa được chú trọng, thời lượng dành cho phần học này chỉ rất ít,
giáo viên giảng dạy cũng chưa chú ý hướng dẫn học sinh kĩ năng làm kiểu bài
này.Hiện nay ngoài tiết học chính khoá, trường THPT Như Thanh 2 còn xếp thêm
một số giờ học văn tự chọn. Do đó tôi muốn qua những giờ học tự chọn này để bồi
dưỡng các em kĩ năng viết văn nghị luận xã hội. Thực tế hiện nay phần lớn học sinh
THPT nói chung và học sinh trường THPT Như Thanh 2 nói riêng viết văn nghị luận
xã hội còn khô khan, thiếu chất văn. Bài viết không sinh động, ý còn nghèo nàn, lập
luận thiếu lôgíc chặt chẽ. Bài viết không thực sự có hiệu quả, thuyết phục được người
đọc. Vì vậy tôi chọn vấn đề này để nghiên cứu nhằm hướng dẫn học sinh viết nghị
luận xã hội có hiệu quả.
II. Lịch sử vấn đề.
Dạng đề văn nghị luận xã hội chiếm một phần quan trọng trong cấu trúc đề văn
của học sinh THPT trong các kì thi. Vấn đề này cũng được nhiều giáo viên tâm huyết
với nghề quan tâm song chưa có một bài viết hay chuyên đề cụ thể, đầy đủ về việc
nâng cao chất văn cho bài văn nghị luận xã hội mà chủ yếu chỉ hướng dẫn học sinh
cách xử lí tình huống trong từng đề, giải quyết vấn đề thẳng thắn, đơn giản như một
thao tác trả lời câu hỏi dạng vấn đáp thông thường đáp ứng nhu cầu trao đổi thông
tin, trình bày quan điểm của người viết. Vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề trên để
cùng đồng nghiệp trao đổi nhằm tạo cho bài văn nghị luận xã hội của học sinh thực
sự mang chất văn.
III. Mục đích nghiên cứu.
1
Trong bộ môn Ngữ văn, ngoài việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận kiến thức, người
giáo viên văn còn có trách nhiệm giúp học sinh biết cách tạo lập văn bản qua những
tiết làm văn. Trong các loại văn bản mà học sinh cần biết tạo lập thì văn bản nghị
luận là loại văn bản rất quan trọng vì nó giúp học sinh rèn luyện và phát triển tư duy
Nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề xã hội
(Mối quan hệ con người trong xã hội, những đòi hỏi của cuộc sống cũng như yêu cầu
của con người, thực trạng xã hội và các hiện tượng đời sống ). Mục đích cuối cùng
của nó là thể hiện chính kiến, quan niệm của người viết về vấn đề đặt ra đồng thời tạo
ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với
người trong xã hội. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận xã hội trước hết cũng là đảm
bảo kĩ năng nghị luận nói chung. Bên cạnh đó bài văn nghị luận xã hội cũng cần đảm
bảo về kiến thức mang màu sắc chính trị - xã hội. Đảm bảo mục đích, tư tưởng: Phải
vì con người, vì sự tiến bộ chung của toàn xã hội.
3. Chất văn trong bài văn nghị luận xã hội.
3
Trước hết, một bài văn nghị luận xã hội được xem là có tính chất văn chương khi
bên cạnh hệ thống ý mạch lạc, sắc sảo người viết còn thể hiện lòng nhiệt tình trong
chính kiến, quan niệm của cá nhân mình về vấn đề đưa ra bàn luận. Lòng nhiệt tình
ấy trước hết được bộc lộ ở thái độ nghiêm túc xem xét vấn đề một cách thấu đáo để
có thể đi đến cùng trong cắt nghĩa, lí giải và đánh giá. Đồng thời khi có lòng nhiệt
tình người viết bao giờ cũng thể hiện một thái độ, lập trường rõ ràng đối với vấn đề
bên cạnh đó yếu tố cảm xúc là không thể thiếu : Niềm vui, sự tin tưởng với điều tốt,
nỗi đau buồn và khát vọng đổi thay trước những mất mát, băng hoại Bên cạnh đó
ngôn ngữ cần chính xác, truyền cảm, cách diễn đạt giàu hình ảnh, sử dụng hợp lí và
sáng tạo những cách liên tưởng, so sánh là điều cần thiết để góp phần tạo tính chất
văn chương cho bài nghị luận xã hội.
Chương II. Phương pháp nâng cao chất văn cho bài nghị luận xã hội qua giờ học
tự chọn.
1. Hình thành ý tưởng và xác định thái độ.
1.1. Hình thành ý tưởng.
Do trong nhà trường phổ thông các bài viết đều triển khai từ yêu cầu của đề bài
trong sách giáo khoa hoặc do giáo viên ra đề nên ý tưởng lớn bao trùm toàn bộ bài
viết phải là điều mà đề bài yêu cầu bàn luận. Nói cách khác, ý tưởng cần được hình
thành trên chính yêu cầu của đề bài. Vì vậy, để hình thành ý tưởng, việc đầu tiên là
cần chú ý tới tương quan giữa hai hệ thống hình ảnh: Con chim và con gà bé bỏng,
dòng sông và vũng nước, con tàu và vật biết nổi trên mặt nước. Giữa hai hệ thống ấy
có những từ chỉ hoạt động lao động như bay, chảy, ra khơi – những hoạt động để con
chim, dòng sông, con tàu được là chính nó và trở nên có giá trị. Từ đó, học sinh sẽ
xác định được ẩn ý của tác giả trong đoạn văn như một cơ sở hình thành ý tưởng.
Đề 2: Đề bài yêu cầu học sinh trình bày suy nghĩ về cuộc đấu tranh giữa người tốt
và kẻ xấu,giữa cái thiện và cái ác trong xã hội thời xưa qua chuyện “Tấm Cám”.Học
sinh cần phân tích sơ lược câu chuyện để làm nổi bật vấn đề xã hội đặt ra trong đó
qua nhân vật và tình tiết cốt truyện.
5
Đề 3: Đề bài yêu cầu học sinh bày tỏ suy nghĩ về vấn đề được đặt ra từ mẩu chuyện.
Trước hết cần xác định chính xác vấn đề đặt ra bằng việc đọc kĩ văn bản được dẫn,
tìm những thông tin quan trọng trong đó. Có ba thông tin đặc biệt quan trọng : suy
nghĩ của người cha ,lời người cha nhắn nhủ tới cậu con trai và hiệu quả của lời nhắn.
Từ việc xác định chính xác vấn đề đặt ra, cần có sự lí giải thích hợp và liên hệ mở
rộng để bài viết trở nên thuyết phục.
Đề 4: Đề bài yêu cầu học sinh bàn luận về sự trở lại của trào lưu sống giản dị của
thanh niên ngày nay.Một bộ phận thanh niên tiến bộ ngày nay không đua đòi tiêu xài
hoang phí mà trở lại lối sống giản dị song vẫn giữ được nét đẹp hiện đại trẻ trung.Đó
là lối sống tốt,cần phổ biến rộng rãi và kêu gọi mọi người hưởng ứng.
1.2. Xác định thái độ.
Để có thể có một thái độ đúng với vấn đề đặt ra, ngoài việc nhận diện chính xác và
sâu sắc bản chất vấn đề, cần có những hiểu bíêt nhất định về chuẩn mực đạo đức và
các chuẩn đánh giá chung của xã hội. Trên cơ sở hiểu biết chung ấy, người viết cần
xem xét vấn đề có những đánh giá chính xác về tính chất của nó: tích cực hay tiêu
cực, đúng hay sai, phiến diện hay toàn diện Sự đánh giá này rất quan trọng vì nó là
cơ sở để người viết bộc lộ thái độ của mình: khen hay chê, đồng tình hay phản đối,
khâm phục nể trọng hay bất bình phẫn nộ Khi bộc lộ thái độ, cần rõ ràng, minh
bạch song không nên cực đoan vì sẽ gây phản cảm và làn giảm tính nghiêm túc của
bài viết. Hãy đọc đoạn trích từ bài làm văn của một em học sinh:
Đối với dạng đề này, để giải quyết vấn đề, ta cần lưu ý cách xem xét nó từ nhiều
góc độ. Cách đơn giản nhất là thử đặt ra và trả lời những câu hỏi. Sau đây là một số
dạng câu hỏi chính:
- Vấn đề đó là gì ? - Vấn đề đó như thế nào ? - Vì sao lại như thế ?
- Như thế thì có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người, với bản thân ?
Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi, có thể hình dung một bài văn nghị luận về một tư
tưởng đạo lí cần được triển khai theo bốn bước cơ bản sau:
- Giải thích cắt nghĩa; - Lí giải; - Đánh giá ; - Liên hệ
Cụ thể như sau:
7
Bước 1: Giải thích cắt nghĩa.
Tuỳ theo từng yêu cầu cụ thể mà mức độ và cách giải thích có thể sẽ khac nhau.
Có những đề bài khâu giải thích có thể làm rất gọn gàng, đơn giản nhất là khi trong
yêu cầu nhận định không có những khái niệm phức tạp. Thế nhưng lại có những đề
bài, những khâu giải thích cần làm rất công phu. Chẳng hạn với quan niệm của Viên
Mai “Làm người không thể không phân biệt giữa nhu mì và nhu nhược, giữa cứng
cỏi và cường bạo,giữa tiết kiệm và keo kiệt, giữa trung hậu và khờ khạo, giữa sáng
suốt và cay nghiệt, giữa tự trọng và tự đại, giữa khiêm tốn và hèn hạ. Mấy cái đó
hình như giống nhau mà thực khác nhau.”
Bước 2: Lí giải.
Bản chất của thao tác này là giảng giải cái nghĩa lí của vấn đề được đặt ra để làm
sáng tỏ bản chất vấn đề cùng với các khía cạnh, các mối quan hệ của nó.
Để làm được việc này, chúng ta cần tách vấn đề thành các khía cạnh nhỏ để xem
xét nghiên cứu. Cách đơn giản nhất là đặt ra các câu hỏi để khảo sát, tìm hiểu. Chẳng
hạn với vấn đề nhận thức đặt ra trong quan niệm của J.Houston “chúng ta sẽ nắm
được 10% những gì đọc được, 15% những gì nghe thấy và 80% những gì từ trải
nghiệm” . Ta có thể đặt ra những câu hỏi sau:
- Vì sao chúng ta chỉ tiếp thu được một phần nhỏ những gì đọc được, nghe thấy ?
- Vì sao chúng ta sẽ nắm được phần lớn những gì từ trải nghiệm ?
Việc suy nghĩ tìm câu trả lời sẽ giúp ta tháo gỡ dần để tiếp cận và nắm vững bản
Bước 2: Phân tích nguyên nhân
Khi phân tích nguyên nhân nên chú ý tới các mặt khách quan và chủ quan. Chẳng
hạn với hiện tượng tai nạn giao thông thì nguyên nhân khách quan là hệ thống giao
thông còn nhiều bất cập từ việc phân luồng, biển báo, chất lượng phương tiện
Nguyên nhân chủ quan là do người tham gia giao thông chưa ý thức về trách nhiệm,
luật pháp
Bước 3: Nêu hậu quả
9
Khi đánh giá hậu quả cần xem xét ở các phạm vi cá nhân-cộng đồng, hiện tại-tương
lai Ví dụ nạn bạo hành phụ nữ không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng với chính
người bị bạo hành về sức khoẻ, tâm lí mà còn ảnh hưởng tới toàn xã hội trong quá
trình phát triển.
Bước 4: Nêu giải pháp.
Khi tìm giải pháp ta cần xem lại nguyên nhân vì chính nó là gợi ý tốt nhất. Xuất
phát từ đó ta sẽ có những giải pháp hiệu quả để khắc phục những tồn tại trên.
Về cơ bản, bài nghị luận về hiện tượng đời sống cần sự bộc lộ vốn hiểu biết và lập
trường, thái độ của người viết về hiện tượng được nêu. Vì vậy ngoài việc nắm vững
các bước cơ bản trong quá trình làm bài, người viết còn cần thể hiện tiếng nói cá
nhân và quan điểm đánh giá thật rõ ràng, sắc sảo bài viết mới có sức thuyết phục.
2.3.Nghị luận về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học.
Đây là dạng đề tổng hợp đòi hỏi học sinh kiến thức về cả hai mảng văn học và đời
sống cũng đòi hỏi cả kĩ năng phân tích văn học và kĩ năng phân tích, đánh giá các vấn
đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được người viết về cả kiến thức văn học và kiến
thức đời sống. Đề thường xuất phát từ một vấn đề xã hội giàu ý nghĩa có trong một
tác phẩm văn học nào đó để yêu cầu hs bàn bạc rộng ra vấn đề xã hội đó. Vấn đề xã
hội được bàn bạc có thể rút ra từ một tác phẩm văn học hoặc một câu chuyện ngắn
nào đó.Như đề 2,3 đã dẫn
Để làm dạng bài này, người viết trước hết phải phân tích tác phẩm theo hướng làm
rõ vấn đề xã hội cùng với các khía cạnh các phương diện biểu hiện của nó. Nếu vấn
đề đặt ra mang màu sắc tư tưởng - đạo lí thì cần trở lại mô hình cắt nghĩa – lí
chăng, đó cũng chính là nguyên cớ để Nguyễn Duy cảm ra cái hồn của tiếng hát ru ?
Ta đi trọn kiếp con người
Vẫn không đi hết mấy lời mẹ ru”
Còn viết như thế này là viết với điểm nhìn bên ngoài – người viết như một người
đang tìm hiểu để phân tích, đánh giá:
“Lời ru mang tình cảm mẹ dành cho con. Đó là tình yêu thương, niềm hy vọng, sự
tự hào cảu mẹ gửi gắm qua giai điệu êm đềm. Tuy nhiên, không đơn thuần chỉ là tình
11
yêu mà ẩn sâu trong tình yêu ấy là những bài học về cuộc đời. Lời hát ru cũng là lời
răn dặy con về cách sống, cách yêu thương:
Con ơi con ngủ cho say
Để mẹ đi cấy đồng sâu mẹ về
Bắt được con trắm, con trê
Túm cổ lôi về nấu nướng con ăn
Miếng nạc thì để phần chồng
Miếng xương mẹ gặm, miếng lòng phần con”.
Một bài văn nếu chỉ toàn phát biểu cảm xúc suy nghĩ sẽ mang năng màu sắc cảm
tính, còn nếu chỉ phân tích, đánh giá khách quan thì trở nên khô khan. Sự kết hợp chủ
quan và khách quan, cảm xúc và tư duy luôn là điều cần thiết trog bài văn nghị luận.
Khi tổ chức được một cách hợp lí điểm nhìn, lời văn sẽ có được cái “khẩu khí”, cái
“giọng” riêng không thể lẫn.
3.2. Sử dụng lời văn.
Lời văn trong bất kì trường hợp nào cũng cần phải hướng tới những chuẩn mực về
tư tưởng và thẫm mĩ. Nghĩa là bên cạnh việc thể hiện những nhận thức đúng, quan
niệm đúng, đánh giá đúng thì còn phải hay, phải đẹp trong cách diễn đạt nữa.
- Khi cần tăng sức thuyết phục cho những phán đoán, nhận xét, lối câu trùng điệp tỏ
ra rất có hiệu quả.
Người xưa từng nói: “giấy không giữ được lửa”, kẻ làm việc ác có thể giấu mặt
với vài người, không thể giấu mặt với tất cả, có thể khống chế tình thế trong một lúc,
không thể khống chế tình thế trong cả đời nên khó tránh việc bị quay lưng nghoảnh
- Mục đích của anh (chị) đặt ra khi giải quyết vấn đề là gì ?
1.2. Gợi ý trả lời:
- Vấn đề đặt ra ở đây là vai trò của lao động trong sáng tạo – tức là lao động với một
tinh thần tự do để có thể phát huy tối đa khả năng sáng tạo của bản thân. Vấn đề này
bao gồm cả bản chất của lao động và môi trường để lao động thực sự là hoạt động
sáng tạo.
13
- Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong xã hội hiện nay, cần được quan tâm
bởi cả cộng đồng và bản thân từng cá nhân.
- Cần cắt nghĩa đoạn văn để xác định chính xác vấn đề, lí giải cơ sở tồn tại và đánh
giá phạm vi ý nghĩa của nó. Từ đó liên hệ bản thân và xã hội hiện tại để đề xuất ý
kiến.
- Mục đích quan trọng nhất là thể hiện nhận thức và chứng kiến của mình về vấn đề.
2. Hướng dẫn xác định thái độ.
2.1. Câu hỏi hướng dẫn.
- Anh (chị) thấy vấn đề này có thực sự có ích với mình không ? Vì sao ?
- Cách nêu vấn đề gợi cho anh (chị) cảm nhận gì về thái độ của tác giả ?
- Thái độ của anh (chị) với vấn đề và cách nêu vấn đề ?
2.2. Gợi ý trả lời.
- Đây thực sự là một vấn đề thú vị và rất có ích vì con người để sống không thể
không lao động tạo ra đóng góp bằng bất kì hình thức nào.
- Cách nêu vấn đề của tác giả rất thú vị và có tính gợi mở. Thú vị bởi cách nói hình
ảnh, cách tạo ra mối liên hệ giữa các hình ảnh.
- Thái độ nên có là tán đồng với vấn đề và tán thưởng cách nêu vấn đề.
3.Hướng dẫn xây dựng đề cương.
3.1.Câu hỏi gợi mở.
- Để giải quyết vấn đề, anh (chị) sẽ hình thành những phần việc nào?
- Trong những phần việc đó, anh(chị) dự định sẽ triển khai những nội dung nào? Nội
dung nào là trọng tâm cần nhấn mạnh?
- Hãy lập một dàn ý chi tiết để thể hiện những điều mình đã xác định.
người có năng lực để kích thích sự phát triển năng lực của họ.
+Ý thức cần có ở con người: không nên trông chờ,ỷ lại vào sự hỗ trợ, giúp đỡ từ bên
ngoài mà trước hết cần năng động tự tìm kiếm cơ hội và tận dụng tối đa những điều
kiện sẵn có để tự phát triển và khẳng định mình.
3.2.3. Kết luận
15
- Lao động trong sáng tạo là nguyện vọng chính đáng của ngững con người có ý thức
về tồn tại và khát khao khẳng định giá trị bản thân.Nguyện vọng ấy cần được trân
trọng và tạo điều kiện để trở thành hiện thực.Đây là việc cần thiết trong chiến lược
phát triển con người trong mỗi quốc gia.
- Thế hệ trẻ nên có những sự chuẩn bị cần thiết và tích cực để đáp ứng những yêu
cầu của lao động trong sáng tạo.
4. Hướng dẫn tổ chức điểm nhìn .
4.1. Câu hỏi gợi mở.
- Trong hệ thống ý đã xác định, ý nào cần thể hiện như những đánh giá khách quan,
ý nào cần trình bày như những tư tưởng, quan niệm, cảm nhận chủ quan ?
- Cách phối hợp điểm nhìn khách quan, với điểm nhìn chủ quan như thế nào là hợp lí
4.2. Hướng dẫn trả lời.
- Các ý ở phần cắt nghĩa xem xét vấn đề từ bên ngoài một cách khách quan.
- Các ý ở phần lí giải có thể xem xét cở sở khách quan và suy tưởng, chủ quan.
- Trong phần đánh giá, ý trên là đánh giá khách quan song ý dưới có thể nghiêng về
cảm nhận chủ quan.
- Khi đề xuất ý kiến cần nhìn nhận khách quan,chỉ có suy nghĩ cá nhân mới trình bày
theo ý chủ quan.
5. Hướng dẫn sử dụng lời văn.
5.1. Phần cắt nghĩa: để đảm bảo tính khoa học, khách quan, phần này chỉ nên
trình bày ngắn gọn. Điều cốt yếu thứ nhất là đảm bảo sự rõ ràng, chính xác để nêu bật
được vấn đề.
5.2. Phần lí giải: để tạo sự kết hợp hợp lí giữa màu sắc chủ quan và tính chất
khách quan tạo tính thuyết phục và sức biểu cảm cho phần lí giải, cần xem xét cụ thể
một giai điệu duy nhất cho mọi bài hát, ta sẽ phải nghe một điệp khúc tẻ nhạt; nếu
người giáo viên chỉ dùng một phương pháp duy nhất cho mọi bài học, mọi đối tượng
học, may lắm chỉ vài học sinh tiếp tục ở lại nghe, số còn laị nếu không la ó phản đối
thì cũng sẽ lẳng lặng bỏ về Còn khi có tinh thần sáng tạo, người lao động dù làm
việc trong lĩnh vực sản xuất vật chất hay lao động tinh thần cũng sẽ tạo ra được dấu
17
ấn riêng cho giá trị lao động và thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng. Để sáng tạo,
con người cần nhận thức đúng và đánh giá đúng về năng lực, sở trường và được đứng
ở vị trí thích hợp. Lao động trong sáng tạo không chỉ giúp con người tạo ra những giá
trị mới cho mình và cho xã hội mà còn kích thích tạo sự phát triển của óc tư duy, khả
năng phán đoán, hoàn thiện và phát triển kĩ năng lao động cho con người. Thiếu tinh
thần và ý thức sáng tạo, ta sẽ trở nên trì trệ, cùn mòn. Tựa như cái lưỡi cày nằm một
chỗ sẽ han rỉ dần và không còn khả năng lật những đường cày trên thửa ruộng. Tựa
như cây cổ cầm trong tay kẻ vụng về chỉ vang lên những tiếng bật bông
Sáng tạo thuộc về khả năng của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, để khả năng ấy có thể nảy
nở tốt nhất lại rất cần một vị trí thích hợp, một sự đãi ngộ xứng đáng và nhất là một
môi trường có sự tự do và sự tôn trọng tối đa. Về điểm này, tầm nhìn và tấm lòng của
người lãnh đạo là vấn đề rất đáng được quan tâm. Trương Phi hữu dũng vô mưu,
Quan Công trượng nghĩa với cả đối thủ của mình, Gia Cát Khổng Minh kì tài mưu
lược có thể cùng hội tụ dưới một ngọn cờ chính là bởi có cái tâm và cái tầm của Lưu
Bị. Hãy thử cho Trương Phi bày mưu tính kế, Gia Cát Khổng Minh vác bát xà mâu,
cấm đoán Quan Công lối sống trượng nghĩa của mình Khi ấy, có lẽ cả đất trời sẽ
đảo lộn và lòng người sẽ rối loạn, chẳng sự nghiệp nào có thể hoàn thành. Ngược lại,
để tự khẳng định bản thân mình, mỗi cá nhân cũng không nên trông chờ vào sự ủng
hộ, giúp đỡ từ phía bên ngoài. Ý thức sáng tạo phải đồng hành với ý thức tìm đường,
tìm cơ hội để tự khẳng định. Phải như con sóng tự tìm đường ra biển lớn. Bởi vì ở
phía xa kia, chân trời vẫn luôn rộng mở cho tất cả !
Bạn là một người trẻ, bạn không thể dừng lại để làm một hòn sỏi ở ven đường
18
C. Kết luận
cần có sự trao đổi của đồng nghiệp giúp làm sáng tỏ lí luận và thực tiễn để chúng ta
có thể vận dụng phương pháp tốt nhất trong giảng dạy trước mắt và lâu dài mảng
nghị luận xã hội trong bộ môn Ngữ văn ở nhà trường THPT . Rất mong được sự đóng
góp ý kiến của đồng nghiệp.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép của người khác.
Xác nhận của thủ trưởng cơ quan Thanh Hoá, ngày 8 tháng 4 năm 2013
Người viết
Quách Thị Thảo
20
D. Danh mục tư liệu tham khảo
1. Chia sẻ tâm hồn và quà tặng cuộc sống, Jack Canfield và Mark Victo Hasen, NXB
Tổng hợp TP. HCM, 2005.
2. Hạt giống tâm hồn, NXB TP.HCM, 2008.
3. 3555 câu danh ngôn , AL.Ghec-xen, NXB Văn hoá thông tin Hà Nội, 1997.
4. Những câu hỏi không lãng mạn, Nguyễn Quang Thiều, NXB Đà Nẵng, 2010.
5. Tuyển tập Nam Cao , NXB Hội nhà văn , 1997.
6.T uyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh, NXB Văn hoá thông tin Hà Nội , 1995.
7. Những người trẻ đánh nhau và bài học cho người lớn , Nguyễn Vũ Lam , NXB Đà
Nẵng, 2010.
8. Bộ đề thi tự luận Ngữ văn, Lê Nguyên Cẩn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
21
Mục lục
A.Đặt vấn đề
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 1
3.Mục đích nghiên cứu 1
4. Đối tượng nghiên cứu 2
5. Phạm vi của đề tài 2
6. Giá trị sử dụng của đề tài 2
4.2. Hướng dẫn trả lời 16
5. Hướng dẫn sử dụng lời văn. 16
5.1. Phần cắt nghĩa 16
5.2. Phần lí giải 16
5.3. Phần đánh giá 16
5.4. Phần đề xuất ý kiến 16
6. Bài làm văn hoàn chỉnh. 16
C. Kết luận. 19
I. Kết quả đạt được 19
II. Những kiến nghị , đề xuất 19
III. Hướng phát triển của đề tài 19
23