ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
LÊ TRỌNG TOÁN
CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG VÀ SINH KẾ CỘNG ĐỒNG:
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI XÃ CHIỀNG CỌ, THÀNH PHỐ SƠN LA,
TỈNH SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH: MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
(CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM)
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI - NĂM 2014
Công trình được hoàn thành tại: Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường –
Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nghiêm Thị Phương Tuyến
Phản biện 1: TS. Võ Thanh Sơn
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Thu Hoa
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Họp tại: Phòng họp 19 Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Vào hồi: 9 giờ 30 ngày 01 tháng 02 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Trung tâm NC TN&MT
thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;
3 Trên cơ sở tìm hiểu tác động của chính sách PFES đến sinh kế của cộng đồng địa
phương, đề xuất một số giải pháp cải thiện việc thực thi PFES hiệu quả hơn nhằm
hoàn thiện cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện chính sách
1
3. Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Sơn La được thực hiện như thế nào?
o PFES khác các chính sách quản lý rừng đã thực hiện ở Sơn La như thế nào?
o Hệ thống quản lý PFES có cơ cấu và chức năng như thế nào
Quỹ Bảo vệ rừng
Ban ban quản lý và bảo vệ rừng các cấp
o Phương thức thu và chi PFES tại Sơn La
- Việc chi trả dịch vụ môi trường đã tác động như thế nào đến 5 nguồn lực sinh kế cộng
đồng xã Chiềng Cọ?
o PFES có tác động đến nguồn nhân lực không? thông qua các hoạt động nào?
o PFES có giúp các hộ nghèo trong cộng đồng cải thiện hoạt động kinh tế?
o PFES có giúp cộng đồng tăng thêm nguồn thu nhập không?
o PFES có hỗ trợ tăng cường hoạt động bảo vệ rừng trong cộng đồng?
o PFES có giúp cải thiện cơ sở vật chất của cộng đồng?
- Những tác động tới năm nguồn lực sinh kế có ý nghĩa đóng góp cho việc hoàn thiện
chính sách PFES như thế nào?
4. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung tìm hiểu tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tới
năm nguồn lực sinh kế cộng đồng.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này tìm hiểu những thay đổi do tác động của chính sách
Ở Việt Nam chi trả dịch vụ môi trường (PES) được đưa ra trong quyết định 380/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ với quy định chi tiết hơn về khái niệm chi trả dịch vụ môi trường
được áp dụng cho hoạt động trồng rừng. Theo đó, chi trả dịch vụ môi trường là quan hệ kinh
tế giữa người sử dụng các dịch vụ môi trường trả tiền cho người cung ứng dịch vụ môi
trường. Trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được
quy định trong quyết định này.
1.1.2. Dịch vụ môi trường rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng
Dịch vụ môi trường rừng
Dịch vụ môi trường rừng (Forest Environmental Services - FES) là những dịch vụ và chức
năng được cung cấp bởi hệ sinh thái rừng có những giá trị nhất định về kinh tế.
Theo (Điều 4 chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 4
năm 2008), Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị sử
dụng của môi trường rừng như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi lắng lòng hồ,
ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học, cung cấp bãi đẻ…
3
Theo quy định tại khoản 2, Điều 3; khoản 2, Điều 4 - Nghị định số 99/2010/NĐ- CP thì dịch
vụ môi trường rừng (DVMTR) là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường
rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân.
Chi trả dịch vụ môi trường rừng
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) “là một giao dịch tự nguyện đối với một loại dịch
vụ môi trường cụ thể... giữa ít nhất một bên sử dụng dịch vụ môi trường và một bên cung
ứng dịch vụ môi trường khi và chỉ khi bên cung ứng dịch vụ môi trường có khả năng cung
cấp dịch vụ (trong những điều kiện cụ thể).
Theo nghị định 99/2010/NĐ-CP, PFES là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng
dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định
tại Điều 6 của Nghị định.
1.1.3. Cộng đồng và lâm nghiệp cộng đồng
môi trường rừng tại cộng đồng xã Chiềng Cọ tỉnh Sơn La.
Khung sinh kế bền vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào
những năm đầu 1990. Năm 1992 sinh kế bền vững được định nghĩa như: sinh kế bền vững
bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của
họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Theo
định nghĩa này, sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn
cầu mà sinh kế phụ thuộc vào, và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững
về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung
cấp cho thế hệ tương lai.
1.2.
Nền tảng cơ bản của cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng
Nguyên tắc của chi trả dịch vụ môi trường là tạo ra động lực tài chính hiệu quả thúc đẩy cá
nhân và cộng đồng cung cấp các dịch vụ môi trường; chi trả các chi phí cho việc cung cấp
các dịch vụ của họ. Việc chi trả này có thể dưới hình thức là tiền hoặc hiện vật.
Các hình thức chi trả dịch vụ môi trường là chi trả trực tiếp và chi trả gián tiếp, chi trả trực
tiếp là chi trả tận tay người cung cấp dịch vụ, chi trả gián tiếp là chi trả thông qua ủy thác
trung gian.
Nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả, trước đây quan điểm người gây ô nhiễm phải trả
nhưng theo quan điểm của chính sách chi trả dịch vụ môi trường thì người được hưởng lợi
sẽ phải trả tiền cho việc thụ hưởng lợi đó.
Sự sẵn lòng chi trả là thước đo sự thỏa mãn nhưng lợi ích được hưởng. Mức chi trả sẽ được
xác định dựa trên cơ sở: Thu nhập của chủ rừng < Mức chi trả dịch vụ môi trường rừng
Các nghiên cứu kể trên chỉ ra rằng tại Sơn La đã thực hiện chính sách PFES và đã thu được
một số thành công nhất định. Các nghiên cứu đã đưa ra một số nhận định ban đầu về tác
động tích cực và tiêu cực của chính sách PFES đến đời sống kinh tế, môi trường xã hội ở địa
phương. Nhưng chưa có nghiên cứu nào chi tiết hóa về sự tác động của chính sách PFES
đến nguồn lực sinh kế cụ thể tại cộng đồng địa phương ở tỉnh Sơn La.
6
Qua tổng quan cho thấy có rất nhiều vấn đề liên quan đến chính sách chi trả dịch vụ môi
trường nói chung và chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu chỉ
tập trung vào sự tham gia của chính sách vào công cuộc quản lý và phát triển rừng. Các mô
hình thực hiện liên quan đến PES hay PFES chỉ được nhắc đến một cách chung chung, tác
động của chính sách PES và PFES lên sinh kế của cộng đồng chưa được tìm hiểu kỹ. Điều
này cho thấy sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu tác động của chính sách PES và PFES
đến đời sống kinh tế, môi trường, xã hội, cụ thể là tác động của PES và PFES đến sinh kế
của cộng đồng địa phương để từ đó rút ra được kinh nghiệm và đề xuất giải pháp khắc phục
nhằm giúp PES và PFES góp phần sự phát triển bền vững của cộng đồng địa phương.
7
CHƯƠNG II
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Vị trí địa lý
Xã Chiềng Cọ là xã vùng II của Thành phố Sơn La, có toạ độ địa lý: 21o19’30’’ vĩ độ Bắc
và 103o51’26’’kinh độ Đông. Phía Bắc giáp xã Chiềng Đen; phía Ðông giáp phường Chiềng
Cơi; phía Nam giáp Bản Lâm và Mường Chanh (huyện Mai Sơn) và phía Tây giáp Muôi
Hệ thống giao thông: có Quốc lộ 6 chạy qua, ngoài ra việc đi lại trên địa bàn xã rất khó khăn
đặc biệt là đoạn đường từ Trụ sở UBND xã đến bản Dầu. Đến năm 2013 đường trong thôn
bản Dầu đã được bê tông hóa nhưng đoạn đường đi từ bản hôm vào bản Dầu đang còn rất
xấu, đặc biệt là trời mưa. Tỷ lệ ngói hóa: 900/1002 hộ = 89%. Tỷ lệ hộ được sử dụng nước
sinh hoạt theo hệ thống tự chảy và trạm bơm là 928/1002 = 92.6%. Tỷ lệ hộ được sử dụng
điện lưới quốc gia 897/1002 = 89,5%.
-
Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2010 ước đạt 78,2 tỷ đồng, tăng gấp 3,9 lần so với
năm 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2006-2010) ước đạt 15,1%/năm (kế hoạch
đề ra là 14,7-15%); GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 12,69 triệu
đồng/người/năm, tương đương, 66USD/người/năm, vượt kế hoạch đề ra (0,5-0,6 USD).
-
Hiện trạng giao đất giao rừng
Công tác giao đất, giao rừng tại xã Chiềng Cọ cơ bản đã hoàn thành, được giao và khoán
bảo vệ rừng cho cộng đồng và hộ dân theo nghị định 02/CP và Nghị định 163/NĐ-CP năm
2001 và được rà soát lại vào năm 2008 do chi cục Kiểm Lâm thực hiện nhằm chuẩn bị cho
thực hiện thí điểm chính sách chi trả dịch vụ Môi trường rừng theo quyết định 380/QĐ-TTg
của thủ tưởng chính phủ. Kết quả giao đất giao rừng được chi cục kiểm lâm công bố vào
năm 2008 là, toàn tỉnh đã giao được 262 hộ gia đình nhóm hộ, cồng đồng, tổ chức cho thuê
rừng, với tổng số 2.351,2 ha trong đó diện tích có rừng là 1.241,7 ha và 1.109,5 ha đất
không có rừng.
2.1.3. Đặc điểm chung của bản Dầu và bản Ót Nọi
Bản Dầu và bản Ót Nọi là hai trong 8 bản của xã Chiềng Cọ. Bản Dầu nằm cách trung tâm
xã khoảng 7 km và là nơi sinh sống của 87 hộ gia đình với 444 khẩu chiếm 8,7 %, (trung
bình một gia đình có 6 khẩu). Bản Ót Nọi cách trung tâm xã 5 km có 110 hộ với 517 khẩu
chiếm 28.7 %, đất rừng 246,16 ha chiếm 70.1% còn lại 0.77% đất chuyên dùng, 0.34% đất
chưa sử dụng. Ta thấy giữa hai bản có sự khác nhau về cơ cấu sử dụng đất rất lớn.
2.2. Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 03 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014
2.3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp luận
Trong nghiên cứu này tác giả lập luận rằng việc chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ tác động
đến việc cải thiện sinh kế của cộng đồng. Đó là sự tác động qua lại giữa bên được hưởng
các dịch vụ môi trường và bên cung cấp dịch vụ môi trường. Vì vậy, tác giả sử dụng cách
tiếp cận hệ thống và khung sinh kế bền vững để áp dụng cho việc phân tích trong nghiên
cứu này.
Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để phân tích các môi quan hệ liên quan đến chính
sách PFES.
10
Hình 2.3. Sơ đồ mỗi quan hệ liên quan đến chính sách PFES
Sử dụng khung sinh kế bền vững để phân tích các tác động của chính sách chi trả dich vụ
môi trường rừng đến sinh kế cộng đồng.
Hình 2.4. Khung sinh kế bề vững của DFID
Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm các nguồn vốn (tài sản), tiến trình thay
đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh
kế đó.
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người
có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ. Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được
chia làm 5 loại vốn chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự
nhiên (hình.2.4).
2.3.2. Các phương pháp nghiên cứu
bằng chứng chính xác hơn. Ưu điểm của công cụ này là khai thác được rất nhiều thông tin
sâu liên quan đến thực hiện chính sách và những bất cập trong thực hiện. Bên cạnh ưu điểm,
tác giả nhận thấy công cụ này cũng bộc lộ một số hạn chế. Thứ nhất các thông tin viên là
những cán bộ nằm trong các ban ngành của nhà nước, cấp huyện và cấp tỉnh nên thời gian
rất eo hẹp, việc hẹn gặp và phỏng vấn gặp nhiều khó khăn. Nếu gặp được thì thời gian
phỏng vấn cũng bị hạn chế. Thứ hai, các thông tin viên phần lớn là cán bộ quản lý ngành
hoặc ít nhiều tham gia vào thực hiện chính sách nên khi hỏi về những bất cập và hạn chế thì
thường nhận được câu trả lời mơ hồ, không rõ ràng. Tuy nhiên, những cán bộ này là những
người có năng lực, có nhận thức cao vì vậy họ nêu ra được những nhận định mang tầm tổng
quan rất hữu ích, phản ảnh nhiều chiều, giúp cho tác giả hiểu biết sâu rộng hơn về mối quan
hệ phức tạp giữa chính sách và sinh kế. Ngoài ra tác giả cũng đã cố gắng so sánh, kiểm
chứng thông tin thu được từ phỏng vấn với những sự kiện theo thời gian
-
Thảo luận nhóm thông tin cộng đồng
Để đánh giá tác động của chính sách chi trả dịch vụ môi trường đến các nguồn lực sinh kế
cộng đồng, tác giả đã tổ chức thảo luận nhóm tại cộng đồng. Do khó xác định được mức độ
tác động bằng những chỉ tiêu định lượng cân, đo, đong, đếm nên nghiên cứu này tập trung
xem xét và phân tích trên khía cạnh định tính thông qua phân tích mức độ hài lòng của
người dân.
12
-
Tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng bằng thang đo định tính.
Thang do định tính được sử dụng để xác định các mức hài lòng. Thang đo được xác định ở 3
mức. Mức 1 được ký hiệu là KHL (không hài lòng) có nghĩa là mức tác động qua lại giữa
Lịch sử quá trình phát triển các chính sách quản lý tài nguyên rừng tại Sơn La cho thấy trải
qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu 1975-1986. Giai đoạn này tất cả các tài sản vất chất đều do
nhà nước quản lý và điều phối. Chính sách quản lý rừng lỏng lẻo, kiểm lâm viên đang mỏng
nên giai đoạn này tài nguyên rừng tại Sơn La giảm sút rất mạnh, do chính sách sai lầm coi
sản phẩm rừng như là tài sản phục vụ cho sản xuất công nghiệp và quốc phòng. Vì vậy tài
nguyên rừng đã suy thoái một cách nghiêm trọng.
Giai đoạn 2: 1986-1995. Nhà nước đã đề ra rất nhiều chính sách nhằm hạn chế sự suy giảm
tài nguyên rừng đồng thời tăng độ che phủ và bảo tồn đa dạng sinh học, như chính sách 327,
661, giao đất giao rừng để bảo vệ, tuy nhiên các chính sách này cũng không mấy thành
công, vì quyền lợi của chủ rừng chưa được coi trọng.
Giao đoạn 3: 1996- nay tăng cường quản lý và bảo vệ rừng bằng nhiều chính sách trong đó
có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ra đời. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường
là cơ chế kinh tế nhằm bù đắp bằng tài chính cho nhưng chủ rừng, những nhà cung cấp dịch
vụ môi trường. Bước đầu chính sách đã thu được những thành công nhất định, như nâng cao
sự hiểu biết cho các chủ rừng về vai trò của các dịch vụ hệ sinh thái, các kỹ năng trong bảo
vệ và phát triển rừng, tăng sự mạnh dạn trong cộng đồng, đã thúc đẩy các tổ chức xã hội gần
với cộng đồng hơn..
Tóm lại: chính sách chi trả dịch vụ môi trường đã nâng lên một tầm mới hơn so với các
chính sách quản lý và phát triển rừng trước đây trong việc hướng tới tác động đến sinh kế
bền vững cho cộng đồng và người dân.
3.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý chi trả dịch vụ môi trường
Cơ cấu tổ chức thực hiện PFES, hơi khác so với tổ chức thực hiện chính sách giao đất giao
rừng, tuy nhiên về mặt quản lý cũng được phân thành 5 cấp quản lý giống hệ thống quản lý
tài nguyên rừng ở Việt Nam, nhưng khác một điều. Cơ quan thực hiện do quỹ bảo vệ và
phát triển rừng. Một tổ chức riêng biệt mới được thành lập vừa quản lý nguồn tiền do bên sử
dụng dịch vụ chi trả, vừa đảm nhiệm chức năng thực hiện chi trả tiền cho bên cung cấp dịch
vụ mà không chịu sự tác động của các cơ quan khác. Ngoài có sự tham gia của ngành kiểm
lâm trong việc rà soát chất lượng và diện tích tài nguyên rừng được chi trả.
14
quân cho 1 ha rừng
(đ/ha)
x
người được chi trả
dịch vụ MTR quản
x
Hệ số
K
lý, sử dụng (ha)
3.1.4. Kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Tại Sơn La từ năm 2009 đến năm 2013 quỹ bảo vệ và phát triển rừng thực hiện theo Quyết
định số 710/QĐ-UBND ngày 26 tháng 3 năm 2010 phê duyệt kế hoạch thực hiện chi trả
dịch vụ môi trường rừng năm 2009 cho các chủ rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La đã thu được
tổng số tiền là 273,073 tỷ đồng, năm 2009-2010 thu được từ các cơ sở chỉ trả 62 tỷ đồng, từ
năm 2011-2013 quỹ đã thu được 211,073 tỷ đồng.
15
Bảng 3.1. Kết quả thu chi của chính sách chi trả dịch vụ môi trường tại xã
Chiềng Cọ
Năm
225,61
246,16
306.551.610
31.309.335
27.815.628
(0.54%)
(10.2%)
(9%)
2.227,23
225,61
246,16
480.890.000
48.892.000
34.189.148
(0.23%)
Hạng mục
Điểm
Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ rừng và
1
chống cháy rừng tại địa phương
Tăng sự hiểu biết thông tin qua các dự án về
2
PFES trong việc ổn định dân số.
Thay đổi việc làm cho người dân trong cộng
3
Bản Ót Nọi
đồng
4
Bình đẳng giới trong cộng đồng
5
Tăng sự mạnh dạn trong giao dịch các hợp
đồng về PES
KHL
1
HL
5
KHL
1
HL
5
HL
5
3.2.2. Tác động đến nguồn lực tự nhiên
Bảng.3.3. Những tác động của chính sách PFES đến nguồn lục con người
Bản Dầu
Stt
Hạng mục tiêu chí
Bản Ót Nọi
Mức
KHL
1
KHL
1
3
Giảm thiểu xói mòn đất
KHL
1
HL
5
4
Tài nguyên nước
HL
5
HL
sinh kế cho cộng đồng dân cư bền vững hơn, nhưng trên thực tế chính sách này đã không
đạt được như những gì người dân đang mong đợi.
3.2.3. Tác động đến nguồn lực tài sản, vật chất
Bảng.3.4. Tác động của chính sách PFES đến nguồn lực vật chất
Bản Dầu
Stt
Hạng mục
1
Giao thông công cộng
2
Nhà cộng đồng và các công trình công
Bản Ót Nọi
Mức
Điểm
Mức
Điểm
HL
số
KHL
1
4
Công trình điện và nước
KHL
1
KHL
1
5
Các dụng cụ cộng đồng (chiêng cồng, các
RHL
10
HL
5
dụng cụ phục vụ cho văn hóa….
Tóm lại: Cả hai bản cùng đều được hưởng tiền từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường, tuy
số
HL
số
1
Thu nhập của cộng đồng
RHL
10
HL
5
2
Tài chính trong vệc nâng cao an toàn lương
KHL
1
KHL
1
KHL
1
KHL
1
3.2.5. Tác động đến nguồn lực xã hội
Bảng.3.6. Tác động của chính sách PFES đến nguồn lực xã hội
Bản Dầu
Stt
1
Tiêu chí
Ổn định dân số, đảm bảo các nguồn vốn an
sinh xã hội
2
Giảm thiểu các mâu thuẫn xã hội và đóng góp
vào xóa đói giảm nghèo
3
Tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng trong xã
từ các tố chức xã hội, ngân hàng xã hội.
KHL
1
KHL
1
KHL
1
KHL
1
KHL
1
KHL
1
RHL
10
HL
Điểm số trung bình
Nguồn lực
Bản dầu
Bản Ót Nọi
1
Nguồn lực con người
5.2
4.4
2
Nguồn lực tự nhiên
1.8
3.4
3
Nguồn lực tài sản vật chất
5.4
cứu chính là trung bình cộng của điểm số các nguồn lực trong khung sinh kế. Qua điểm số
trung bình này ta có thể xác định được mức độ tác động của từng vùng. Cụ thể trong nghiên
cứu này ta có thể xác định được mức độ tác động tại hai bản Ót Nọi và bản Dầu, xã Chiềng
Cọ, thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La.
Tóm lại: qua các tiêu chí đánh giá ta thấy, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có ít
nhiều tác động đến các nguồn lực sinh kế cộng đồng, tác động đến những vùng gần rừng
hơn và xa trung tâm hơn thì được tác động nhiều hơn, còn lý do tại sao thì tác giả cũng chưa
lý giải được vì thời gian nghiên cứu chưa đủ để tác giả thu thập được những luận cứ chính
xác hơn để có thể giải thích được một cách cặn kẽ hơn, điều này cần có một nghiên cứu dài
hơn.
Nhìn chung chính sách tác động đến cải thiện và nâng cao giá trị dịch vụ tài nguyên rừng là
rất thấp. vì vậy về mặt mục tiêu của chính sách PFES là cải thiện sinh kế qua cơ chế tài
chính và nâng cao giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng nhưng qua kết quả nghiên cứu tại hai bản
cho thấy, chính các nguồn lực tự nhiện lại được tác động thấp nhất điều này cho thấy chính
sách PFES chưa đạt được những thàng công như mong đợi.
3.4. Đề xuất các giải pháp góp phần sinh kế bền vững
Như chúng ta đã biết hầu hết những người cung cấp dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam
nói chung đều ở vùng cao và là những hộ nghèo và nguồn thu nhập chính chủ yếu từ rừng.
Dựa trên kết quả của chương trình PFES tại tỉnh Sơn La nói chung và nghiên cứu cụ thể tại xã
Chiềng Cọ, thành phố Sơn La, tác giả xin đưa ra một số cơ sở để PFES góp phần vào công cuộc
21
phát triển tài nguyên rừng và cải thiện sinh kế cho cộng đồng, một trong những mục tiêu quan
trọng của PFES.
3.4.1. Cơ sở pháp lý
Có các chính sách hỗ trợ ưu tiên để cộng đồng vùng sâu, xa cũng có cơ hội được tiếp cận thông
tin và cơ hội tham gia vào giao dịch mua bán dịch vụ môi trường và được giao dịch tự nguyện
trong khuôn khổ của pháp luật. Cần xây dựng chính sách hợp lý hỗ trợ cho những cộng đồng ở
xã trung tâm hơn.
Từ lý thuyết và thực tiễn cho thấy PFES đã góp phần vào việc phát triển sinh kế bền vững, nâng
cao ý thức bảo vệ rừng làm tăng nguồn vốn con người. Tăng nguồn vốn tài sản vật chất qua
việc làm đường, mua các thiết bị phục vụ cho văn hóa cộng đồng, nhưng chưa làm tăng nguồn
vốn tài chính và nguồn vốn tự nhiên, dẫn đến sinh kế chưa bền vững. Vì vậy, để sinh kế cộng
đồng bền vững thì chính sách PFES cần chủ trọng cải thiện nguồn lực tài chính và nguồn lực tự
nhiên.
Để cải thiện được hai nguồn lực này chính sách PFES phải nâng cao chất lượng cán bộ quản lý,
xây dựng lại hệ số K theo 3 mức K1 (nguồn gốc rừng) K2 (tình trạng rừng) K3 (chức năng
rừng) nếu tích của 3 hệ số K được thực hiện tốt thì tính công bằng trong việc chị trả được nâng
lên, bên chi trả cũng sẽ yên tâm hơn và sẵn lòng chi trả.
3.4.4. Năng lực của cán bộ
Các cơ quan có liên quan đến PFES nên tiến hành nhiều khoá tập huấn, trang bị kiến thức
cho cán bộ thực hiện dự án. Phần lớn đội ngũ cán bộ hiện nay mới chỉ có những kiến thức
rất sơ khai về PFES, chưa thực sự hiểu rõ cơ chế hoạt động cũng như các lĩnh vực liên quan
đến PFES. Việc nâng cao nhận thức cho cán bộ hết sức quan trọng vì họ là những người
thực thi dự án tại địa phương, là một bên trung gian quan trọng đối với thành công của
PFES.
Ngoài ra cần tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho người dân các kiến thức thiết yếu về dịch
vụ môi trường, vai trò và trách nhiệm của họ khi tham gia PFES. Hoạt động này là một phần
quan trọng nhằm nâng cao nhận thức của người dân và khuyến khích thêm nhiều người
tham gia cung cấp dịch vụ môi trường. Các hình thức tuyên truyền nên thực hiện dưới nhiều
hình thức đa dạng, phong phú, dễ hiểu và gắn với đời sống của nhân dân để họ hiểu được
vai trò và những lợi ích mình sẽ nhận được.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận
1. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường là một chính sách tiếp chuỗi các chính sách quản
lý và phát triển rừng như chính sách 661, 327, giao đất giao rừng. Chính sách PFES đã
nâng được một tầm cao hơn so với các chính sách trước trong việc tạo cơ chế kinh tế bù
đắp và chi trả cho bên cung cấp dịch vụ nhằm bảo vệ và duy trì dịch vụ được tốt hơn.