Một số vấn đề về bảo vệ tài nguyên và môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở nước ta - Pdf 39

Bài viết tham gia Hội thảo quốc gia “Môi trường và Phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi
khí hậu” do CRES tổ chức tại Hà Nội, tháng 11/2015
Một số vấn đề về bảo vệ tài nguyên và môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở nước ta
PGS. TS. Nguyễn Danh Sơn1
Tóm tắt
Tài nguyên và môi trường (TN&MT) là một yếu tố nền tảng của phát triển bền vững
(PTBV) và nguy cơ suy giảm, suy kiệt tài nguyên, suy thoái, ô nhiễm môi trường đang hiện hữu
với xu hướng ngày càng gia tăng, đe dọa tiến trình phát triển bền vững ở nước ta. Biến đổi khí
hậu (BĐKH) trên quy mô toàn cầu mà Việt Nam là một trong số ít quốc gia đang gánh chịu tác
động ảnh hưởng lớn nhất và rõ rệt của BĐKH, trong đó đối với TN&MT thì tác động của BĐKH
không chỉ là hiện tại mà còn cả trong tương lai trung hạn và thậm chí dài hạn do tính chất và đặc
thù của TN&MT. Các quyết định phát triển và quản lý phát triển trong thời gian tới ở nước ta
được yêu cầu phải tính đến tác động của BĐKH.
Bảo vệ TN&MT cho PTBV là chủ trương và yêu cầu nhất quán trong lãnh đạo và quản lý
quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước của Đảng và Nhà nước ta. Bảo vệ TN&MT là vấn đề
rộng và đa chiều. BĐKH lại còn là mới mẻ với cả thế giới và Việt Nam. Bài viết này trong khuôn
khổ Hội thảo khoa học tập trung vào chủ đề bảo vệ TN&MT trong bối cảnh tác động của BĐKH
đang gia tăng ngày càng rõ rệt và mạnh mẽ ở nước ta, trong đó nêu và thảo luận một số vấn đề lý
luận (chủ yếu là nhận thức) và thực tiễn về bảo vệ TN&MT nhìn từ giác độ tác động của BĐKH.
Với cách đặt vấn đề như vậy, nội dung bài viết được trình bày theo kết cấu 2 phần sau:
 Phần 1 trình bày một số nhận thức mới về bảo vệ TN&MT gắn với bối cảnh BĐKH;
 Phần 2 nêu và thảo luận một số vấn đề thực tiễn đặt ra cho công tác bảo vệ TN&MT trong
bối cảnh BĐKH ở nước ta cùng những hàm ý gợi ý về hướng xử lý, giải quyết.

Đặt vấn đề
Tài nguyên và môi trường (TN&MT) là một yếu tố nền tảng của phát triển bền vững
(PTBV) và nguy cơ suy giảm, suy kiệt tài nguyên, suy thoái, ô nhiễm môi trường đang hiện hữu
với xu hướng ngày càng gia tăng, đe dọa tiến trình phát triển bền vững ở nước ta. Biến đổi khí
hậu (BĐKH) trên quy mô toàn cầu mà Việt Nam là một trong số ít quốc gia đang gánh chịu tác
động ảnh hưởng lớn nhất và rõ rệt của BĐKH, trong đó đối với TN&MT thì tác động của BĐKH
không chỉ là hiện tại mà còn cả trong tương lai trung hạn và thậm chí dài hạn do tính chất và đặc


1. Một số nhận thức mới về bảo vệ TN&MT gắn với bối cảnh BĐKH
Nhìn từ giác độ tư duy phát triển, các nghiên cứu gần đây về PTBV đã cho thấy rằng tư
duy về phát triển trên thế giới đã thay đổi từ việc để ý tới các giới hạn của sự tăng trưởng dựa
trên tài nguyên sang các mối quan tâm chung lớn hơn về môi trường sống, đặc biệt là là về
TN&MT trong bối cảnh tác động ngày càng rõ nét và mạnh dần lên của BĐKH.
Về lý luận, có thể nhận thấy rằng BĐKH và tác động ngày càng rõ nét của BĐKH đã đem
lại những bổ sung mới cho các lý thuyết phát triển và quản lý quá trình phát triển cả về nội dung
mới và cả về nhận thức mới, trước hết là liên quan tới PTBV. Trong một số năm gần đây, bên
cạnh PTBV đã xuất hiện những thuật ngữ mới không chỉ trong các tài liệu nghiên cứu khoa học
mà còn cả trong các quyết định quản lý phát triển ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Đó là:
tăng trưởng xanh (green growth), kinh tế xanh (green economy), xã hội các bon thấp (low carbon
society), an ninh môi trường (environmental security), an ninh sinh thái (ecological security). Do
mới xuất hiện nên cho đến nay chưa có khái niệm khoa học chuẩn, thống nhất và ở các quốc gia
khác nhau chúng có nội dung rộng hẹp khác nhau trong sử dụng. Tuy vậy, nội hàm các khái niệm

2


này có điểm chung là sự ra đời gắn với bối cảnh BĐKH và phục vụ cho mục tiêu ứng phó và
giảm nhẹ các tác động của BĐKH trong PTBV, trong đó bảo vệ TN&MT, giảm phát thải khí nhà
kính là trọng tâm cốt lõi. Hộp 1 nêu một số định nghĩa của quốc tế và Việt Nam về các khái niệm
này.
Nếu xét theo nội hàm của các khái niệm mới như nêu ở Hộp 1 thì có thể thấy là chúng
không thay thế khái niệm PTBV mà là nhấn mạnh yếu tố TN&MT trong các quyết định PTBV
gắn với bối cảnh BĐKH.
Sự hiện diện của các phạm trù phát triển mới, được sử dụng trong thực tiễn quản lý quá
trình phát triển theo hướng bền vững trong bối cảnh BĐKH nói lên 2 điều rằng:
Một là, chúng (các khái niệm mới) là tất yếu và cần được nhận thức đúng, làm cơ sở cho việc
hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách phát triển theo hướng bền vững trong bối cảnh

thụ năng lượng, nguyên liệu, nước thông qua chiến lược hiệu quả năng lượng và tài nguyên
và chuyển đổi từ các cấu phần các bon sang không các bon (theo Tổ chức hợp tác kinh tế và
phát triển – OECD).
- Nền kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã
hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái. Nói một
cách đơn giản, nền kinh tế xanh có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng
tới công bằng xã hội. (theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc - UNEP).
- Xã hội các bon thấp là xã hội có mức hiệu quả sử dụng năng lượng cao và sử dụng các
nguồn năng lượng và công nghệ sản xuất các bon thấp (định nghĩa của Mạng lưới nghiên cứu
quốc tế về xã hội các bon thấp – LCSRNet).
- An ninh môi trường là việc đảm bảo an toàn trước các mối nguy hiểm môi trường sinh ra do
sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia.
(theo Dự án Thiên niên kỷ của Hội đồng châu Mỹ của LHQ).
- An ninh sinh thái có nghĩa là không có những đe doạ đối với con người về cuộc sống, sức
khỏe, sự thoải mái, các quyền lợi cơ bản, các nguồn đảm bảo cho cuộc sống, các tài nguyên
cần thiết, hậu quả về xã hội và các khả năng thích nghi với các thay đổi môi trường, v.v., bao
gồm an ninh sinh thái tự nhiên, an ninh kinh tế và an ninh xã hội. (Định nghĩa của Nghiên
cứu Phân tích Hệ thống Ứng dụng Quốc tế của Hoa Kỳ - IIASA).

Hai là, gắn liền với bối cảnh phát triển mới (cụ thể ở đây là BĐKH) là cách tiếp cận mới
về phát triển và quản lý quá trình phát triển cùng các công cụ quản lý mới đang được hình thành
và phát triển nhằm không chỉ thực hiện các ý tưởng mới (tăng trưởng xanh, kinh tế xanh, kinh
tế/xã hội các bon thấp) mà còn làm cho việc bảo vệ TN&MT trở nên hiệu quả hơn do trong tiếp
cận phát triển và quản lý phát triển mới này TN&MT được đặt vào vị trí trung tâm, mà theo nhận
xét của tôi, còn cao hơn, thậm chí trong những trường hợp cần thiết còn tác động điều chỉnh cả
lĩnh vực kinh tế, xã hội (thí dụ như giảm hay hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế, thay đổi, chuyển
đổi cơ cấu kinh tế, ngành nghề, sinh kế, …, thậm chí hình thành và phát triển một lĩnh vực hoạt
động kinh tế - xã hội mới tạo việc làm, đem lại doanh thu lớn không kém các ngành kinh tế khác
như kinh tế môi trường/dịch vụ môi trường, công nghệ môi trường).
Như đã nói ở trên, tiếp cận có tính chất xanh không thay thế cho PTBV mà là một cách

đây đã xuất hiện một vài công cụ quản lý mới đối với TN&MT trong thực tiễn quản lý ở không ít
các quốc gia phát triển và đang phát triển gắn với bối cảnh BĐKH, như tín chỉ các bon và thị
trường mua bán tín chỉ này (thị trường các bon); chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES); bồi
hoàn đa dạng sinh học; … Các công cụ này hiện mới đang ở bước đi ban đầu trong sử dụng và
đang tiếp tục được hoàn thiện và mở rộng phạm vi áp dụng. Trong bối cảnh hệ sinh thái và đa
dạng sinh học trên thế giới đang diễn biến theo chiều hướng suy giảm ngày càng nhiều hơn dưới
tác động của BĐKH, cuối năm 2010 Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đã thiết lập Diễn đàn Chính
sách Khoa học Liên chính phủ về Đa dạng sinh học và Các dịch vụ Hệ sinh thái (IPBES) và đưa
ra cách tiếp cận mới về giá trị kinh tế của hệ sinh thái, được thử nghiệm thông qua một dự án
nghiên cứu quốc tế có tên gọi là “Kinh tế học về Hệ sinh thái và Đa dạng sinh học (The
Economics of Ecosystems and Biodiversity – TEEB). Tiếp cận mới này nhấn mạnh lợi ích kinh tế
của các dịch vụ hệ sinh thái và đánh giá những tổn thất khi tính đa dạng sinh học bị mất đi và hệ
sinh thái bị xuống cấp. Giữa năm 2011 Việt Nam đã đăng cai Hội nghị khu vực Đông Nam Á về
Kinh tế học của Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái hướng tới nền kinh tế xanh với sự tham gia
của 11 nước và vùng lãnh thổ (tổ chức tại Hà Nội, 28-29/06/2011). Trong bối cảnh BĐKH nhiều
quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, hiện đang cố gắng đưa vào áp dụng tiếp cận thích

5


ứng dựa vào hệ sinh thái (Ecosystem-based Adaptation) và hiện thực hóa vào trong các quyết
định phát triển. Thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái là cách tiếp cận đã được xác định
trong Công ước về Đa dạng sinh học (CBD, 2009), theo đó thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh
thái (EbA) là “sử dụng đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái như một phần tổng thể của chiến
lược thích ứng giúp cho con người ứng phó với những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH”.
Nhìn chung, xu hướng hiện nay là các quốc gia đều cố gắng hướng tới PTBV với sự điều
chỉnh cách tiếp cận phát triển phù hợp với bối cảnh BĐKH, trong đó tuy vẫn lấy phát triển kinh tế
- xã hội làm nền tảng nhưng sự phát triển này được yêu cầu đảm bảo bảo vệ một cách bền vững
vốn tự nhiên. Vốn tự nhiên cũng là một khái niệm mới (Hộp 2) và việc thừa nhận nó (vốn tự
nhiên) có nghĩa là nó phải được ứng xử như là một phạm trù của kinh tế, ít ra trên 2 khía cạnh sử

Mà hệ thống sinh thái này liên quan trực tiếp tới mọi người, không phân biệt và phụ thuộc
vào giới hạn của phân công, chuyên môn hoá của quá trình sản xuất. Sự tham gia/tham dự
của các cộng đồng (doanh nghiệp, dân cư, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, …)
chính là cách thức thể hiện mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa hệ thống kinh tế - xã hội và
hệ thống sinh thái - tự nhiên.
(iii)Mô hình PTBV dựa trên cơ sở những khái niệm mới như sản xuất sạch (Clean
production), công nghệ sạch/thân thiện môi trường (Clean/Environmentally sound
Technologies), tổng sản phẩm quốc dân/tổng sản phẩm quốc nội xanh (Green GDP/GNP),
tiêu dùng xanh (Green consumtion), năng suất xanh (Green productivity), … Những khái
niệm mới của PTBV ngày càng được chú ý đưa vào trong chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chương trình, dự án phát triển. Đã có những dự báo rằng trong một tương lai gần,
các khái niệm mới này sẽ dần thay thế cho các khái niệm truyền thống.
(iv) Việc quản lý quá trình PTBV theo đuổi mục tiêu phát triển mới. Mô hình PTBV kết hợp
trong mình nhiều yếu tố hợp thành, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. Mục
tiêu của việc quản lý như vậy không chỉ đơn thuần nhằm vào tăng trưởng kinh tế và tiến
bộ xã hội mà còn cả vào mục tiêu sinh thái-tự nhiên, điều mà trong mô hình quản lý phát
triển truyền thống trước đây không có hoặc ít được chú ý.
2. Một số vấn đề thực tiễn đặt ra cho công tác bảo vệ TN&MT trong bối cảnh BĐKH ở
nước ta
Như đã nói ở trên, xu hướng trong lãnh đạo, quản lý quá trình PTBV trong bối cảnh
BĐKH ở các quốc gia trên thế giới hiện nay là hướng vào tăng trưởng, phát triển xanh. Thực
trạng phát triển ở nước ta cho đến nay về thực chất vẫn còn là mang tính chất “nâu” (theo cách
phân loại phát triển của quốc tế), nghĩa là sự phát triển mà trong đó tăng trưởng, phát triển kinh tế
dựa nhiều vào khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường vượt quá ngưỡng tự phục
hồi của tự nhiên, ngưỡng tiếp nhận chất thải của môi trường, gây tổn hại, ô nhiễm, suy thoái môi
trường. Đã một thập niên trôi qua kể từ khi Chương trình nghị sự 21 về PTBV của Việt Nam
được ban hành thực hiện (2004) nhưng bức tranh về TN&MT trong PTBV ở nước ta cho đến nay
nhìn chung còn ít được cải thiện, thậm chí so với lĩnh vực phát triển kinh tế và xã hội thì lại còn
xuất hiện thêm những mảng tối, làm cho bức tranh chung về PTBV của đất nước ít sáng sủa.
Nhận định của 10 năm trước đây liên quan đến TN&MT trong Chương trình nghị sự 21 về PTBV

môi trường bền vững đòi hỏi nỗ lực hơn nhiều trong thời gian tới. Việc đảm bảo bền vững về môi
trường là thách thức lớn đối với Việt Nam ở tất cả các khía cạnh về môi trường”. Báo cáo quốc
gia này, bên cạnh khẳng định những kết quả, thành tựu trong thực hiện các mục tiêu PTBV đã
cam kết, cũng đã xác định 5 thách thức chính đối với PTBV ở Việt Nam, trong đó hầu hết đều
liên quan đến TN, MT và BĐKH, là:
- Tác động của khủng hoảng tài chính, biến động giá lương thực và năng lượng
- Biến đổi khí hậu
- Tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt
- Ô nhiễm môi trường
- Sản xuất và tiêu dùng còn nhiều lãng phí và không hiệu quả.
Đánh giá tổng quát chung về kết quả thực hiện MDGs và các mục tiêu chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn hơn 1 thập niên qua (từ 2001 đến nay) là đạt kết quả
tốt trên lĩnh vực kinh tế và xã hội nhưng không tốt trên lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Xét
theo khả năng đạt các mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs) về PTBV đã cam kết với quốc tế ở mốc

8


năm 2015 Báo cáo quốc gia “Thực hiện PTBV ở Việt Nam” tại Hội nghị cấp cao LHQ về PTBV
(RIO+20) họp cuối tháng 6 năm 2012 nhằm đánh dấu 20 năm chặng đường thực hiện PTBV từ
sau Hội nghị RIO năm 1992, đã nhận định rằng tới cuối chặng đường thực hiện các MDGs (năm
2015) Việt Nam có khả năng và cố gắng đạt 7/8 mục tiêu (về kinh tế và về xã hội), riêng mục tiêu
về môi trường (mục tiêu MDG số 7 “Đảm bảo bền vững về môi trường” thì được đánh giá là
“Khó đạt, còn nhiều khó khăn” (Bảng 1).
Bảng 1. Đánh giá tình hình thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) của
Việt Nam

Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ

Khả năng đạt vào 2015

không đầy đủ, không đúng trong xã hội, cả trong quản lý và cả trong hành động về phát triển nên
không huy động được một cách tương xứng các nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về
TN&MT. Có không ít những minh chứng cho nhận định này, nhưng ở đây tôi muốn lưu ý tới
khía cạnh mà bài viết này mong muốn là cần có nhiều hơn những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện
về những thiệt hại về tài nguyên và môi trường và được lượng giá để thấy rằng thiệt hại về
TN&MT to lớn đến mức nào nếu cứ để xu hướng diễn biến TN&MT ngày càng xấu đi như các
báo cáo môi trường quốc gia hàng năm và 5 năm đã cảnh báo. Con số thiệt hại về TN&MT ở

9


Việt Nam hay được viện dẫn, nhắc tới thường là vài phần trăm so với GDP (khoảng 3 – 5%),
nhưng đó là của các chuyên gia quốc tế. Cũng có một số nghiên cứu định lượng thiệt hại do các
chuyên gia Việt Nam tiến hành nhưng thường là cho một hoặc một vài đối tượng/lĩnh vực nhất
định (gỗ trong lâm nghiệp, thủy hải sản, …) hay cho khu vực (vùng đất ngập nước, khu bảo tồn,
vườn quốc gia, …) với các con số kết quả tính toán giá trị thiệt hại gây nhiều tranh cãi hơn là
thừa nhận vì nhiều lý do, trong đó có lý do liên quan tới xác định các giá trị cho các thành phần
môi trường, sản phẩm môi trường không phản ánh sát thực hay không phù hợp với thực tế có thể
cảm nhận bằng trực quan. Thực tế phổ biến ở nhiều địa phương là người ta chấp nhận chịu nộp
phạt cho hành vi làm tổn hại môi trường hơn là tránh hay không thực hiện hành vi này. Trên
phương diện quản lý nền kinh tế thị trường thì thực tế này phản ánh đã cung cấp các tín hiệu
không sát thực, thậm chí sai lệch, cho các quyết định hành động. Trong Báo cáo về Phát triển
Việt Nam năm 2010 (VDR 2010) có tiêu đề “Quản lý tài nguyên thiên nhiên” do các chuyên gia
của Ngân hàng Thế giới thực hiện và công bố tháng 12 năm 2010 cũng đưa ra cảnh báo rằng “nếu
tăng trưởng kinh tế đặt “mức chi phí bằng 0” cho các tác động môi trường thì thị trường và những
người ra quyết định sẽ nhận được những dấu hiệu sai, và do đó sẽ phá hỏng những ích lợi từ quá
trình phát triển” và cho rằng một trong những việc cần làm để đạt được sự bền vững môi trường ở
Việt Nam là “gán các giá trị cho môi trường”2. Lời khuyên này là hoàn toàn đúng và đội ngũ
chuyên gia Việt Nam có khả năng thực hiện được việc này và khi làm công việc này cũng đồng
thời có nghĩa rằng Nhà nước phát đi tín hiệu mọi hoạt động tăng trưởng kinh tế phải tính đến chi

Có vẻ và dường như ở nước ta cho đến nay trong suy nghĩ và hành động, trong đó có cả ở
bộ phận không nhỏ những người hoạch định và quyết định chính sách phát triển, vẫn còn coi tăng
trưởng kinh tế mới là mục tiêu đích thực cần được ưu tiên nhằm vào trước hết, còn TN&MT chỉ
là phương tiện cho việc đạt mục tiêu kinh tế. Sự doãng ngày xa giữa tăng trưởng, phát triển kinh
tế và bảo vệ TN&MT thời gian qua ở nước ta như đã nói ở trên cũng cho thấy sự ưu tiên cho lĩnh
vực kinh tế, phản ánh tư duy phát triển theo kiểu “kinh tế trước, môi trường sau” mà trong Nghị
quyết số 41 của Đảng đã nhận xét rằng “chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo
vệ môi trường, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc bảo vệ môi
trường”3. Ở đây, cũng lưu ý một điều rằng sự thay đổi tư duy thường không dễ dàng và sự điều
chỉnh, thay đổi tư duy và hành động “kinh tế trước, môi trường sau” sang tư duy và hành động
đặt các vấn đề TN&MT vào vị trí trung tâm của các quyết định phát triển chắc chắn sẽ không
kém phần khó khăn và trở ngại so với việc lồng ghép. Có nhiều khó khăn và trở ngại, nhưng có lẽ
khó khăn và trở ngại lớn nhất và cơ bản ở đây, theo tôi, là ở nước ta vẫn còn đang thịnh hành suy
nghĩ rằng chi phí bảo vệ TN&MT chủ yếu thuộc loại chi phí “tiêu tốn” mà chưa phải là loại chi
phí “sinh lợi”, nghĩa là chúng “giúp” cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội mà
chưa phải là đem lại giá trị gia tăng cho quá trình này. Hệ quả là người ta thường hạn chế hay tiết
giảm chi phí bảo vệ TN&MT hơn là tăng chúng. Hạn chế hay tiết giảm nói ở đây là về tương đối,
nghĩa là so với các chi phí khác (kinh tế, xã hội) thì mức tăng chi phí cho bảo vệ TN&MT thường
ít hơn, chậm hơn. Đầu tư (bao gồm từ nguồn nhà nước và xã hội hóa) trong lĩnh vực TN&MT ở
nước ta được đánh giá là thấp hơn nhiều không chỉ trong so sánh với quốc tế, khu vực hay so với
yêu cầu, nhu cầu thực tế mà còn cả trong so sánh với các lĩnh vực khác (kinh tế, xã hội, giáo dục
– đào tạo, KH&CN, …). Việc cần làm và nên được coi là quan trọng, cấp bách để thay đổi tư duy
phát triển gắn với kinh tế xanh ở Việt Nam, theo tôi, là có được các chứng cứ, minh chứng cho
tính chất sinh lợi của các chi phí cho bảo vệ TN&MT. Đây cũng là một nội dung của việc “gán
các giá trị cho môi trường” đã nói ở trên và là sứ mệnh, nhiệm vụ của cộng đồng KH&CN và
quản lý Việt Nam đối với PTBV nói chung và phát triển nền kinh tế xanh của đất nước.
Ngoài ra cũng có điều cần lưu ý nữa là, như đã biết, bản chất của PTBV là sự kết hợp hài
hòa các lĩnh vực, các trụ cột của tăng trưởng và phát triển là kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường,
chính trị - thể chế và kinh tế xanh như là cách thức thực hiện PTBV, đặt sử dụng tiết kiệm, thông
3

nguyền môi trường đã được các nhà khoa học đưa ra trong những năm gần đây đối với các nước
đang phát triển còn đang kỳ vọng và hy vọng nhiều vào sự điều chỉnh, hoàn thiện mô hình kinh tế
thị trường, rằng các kỳ vọng và hy vọng ấy tuy là chính đáng nhưng lại là vô vọng vì trung tâm
của mô hình kinh tế thị trường là dựa vào sự gia tăng, sự kích thích và thỏa mãn tối đa lợi ích
kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của con người. Và để thỏa mãn tối đa nhu cầu tiêu dùng của con
người với mục tiêu thu lợi nhuận tối đa thì càng phải khai thác tài nguyên thiên nhiên và môi
trường. Do vậy, lời khuyên được đưa ra là các quốc gia đang phát triển nên chú ý nhiều hơn tới
củng cố và duy trì nền tảng vững chắc, lâu dài, bền vững cho quá trình tăng trưởng và phát triển
của mình là tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống của mình. Cụ thể là đặt tài nguyên thiên
nhiên và môi trường vào trung tâm của các quyết định phát triển, tức là “xanh hóa” quá trình phát
triển, từ tư duy cho đến hành động.
*
*

*

12


BĐKH với các tác động ngày càng rõ rệt và to lớn là tác nhân quan trọng cần được tính
đến cả trong các quyết định phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việt Nam là quốc gia chịu
tác động của BĐKH mạnh và trên phạm vi ngày càng rộng. TN&MT của đất nước cũng chịu sự
tác động rõ rệt và mạnh mẽ của BĐKH. Con người chỉ có thể thích nghi, thích ứng và giảm nhẹ
tác động của BĐKH thông qua các quyết định phát triển bằng cách khai thác, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên một cách thông minh, tiết kiệm, hiệu quả và thải bỏ chất thải ra môi trường trong giới
hạn khả năng tiếp nhận của môi trường. Bối cảnh phát triển mới đòi hỏi phải đặt TN&MT vào vị
trí trung tâm của các quyết định phát triển mà không phải lồng ghép chúng. Chi tiêu xã hội cho
bảo vệ TN&MT không phải là tiêu tốn mà là để sinh lợi, để phát triển. TN&MT cần được “gán
các giá trị” (tức lượng giá) sao cho chúng phản ánh được lợi ích hiện tại và cả lợi ích tương lai và
việc khai thác lợi ích tương lai cần được đặt trên cơ sở tư duy vay mượn TN&MT của thế hệ

environment and natural resources protection in context of CC impacts that are growing clearer
and stronger in Vietnam. The paper raises and discusses some theoritical (mainly awareness) and
practical issues of environment and natural resources protection from point of view of CC
impacts. The paper structure encompasses 2 parts:
- Part 1 presents some new awarenesses of environment and natural resources protection in
context of CC;
- Part 2 discusses some practical posed for environment and natural resources protection in
context of climate change in Vietnam with policy recommendations.
4

Lecturer, Sustainable development Faculty, Graduate Academy of Social Sciences (GASS), Vietnam Academy of
Social Sciences (VASS).

14


15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status