1
MỞ ðẦU
► Tính cấp thiết của ñề tài
Trong vài thập kỷ gần ñây, các hoạt ñộng của con người ñã và ñang góp phần
làm tăng ñáng kể nồng ñộ các khí nhà kính trong khí quyển, từ ñó làm tăng nhiệt ñộ
toàn cầu, dẫn ñến hàng loạt những biến ñổi nghiêm trọng của môi trường tự nhiên.
Nếu không có những biện pháp giảm thiểu và thích nghi với sự biến ñổi khí hậu
(BðKH), có thể sẽ dẫn ñến những tác ñộng nghiêm trọng ñến an ninh con người, môi
trường và kinh tế xã hội trong một tương lai không xa [22].
Thừa Thiên Huế (TTH) là một tỉnh phía Nam của vùng duyên hải Bắc Trung
Bộ, ñịa hình kéo dài theo phương Tây Bắc – ðông Nam gồm những dãy núi, gò ñồi,
ñồng bằng nhỏ hẹp chạy song song với ñường bờ biển, thấp dần từ Tây sang ðông và
vùng ñầm phá ven biển rộng lớn. Do nằm trong vùng nhiệt ñới gió mùa Bắc bán cầu
nên ñây là khu vực vừa chịu ảnh hưởng gió mùa ðông Bắc vừa bị gió mùa Tây Nam
chi phối. Những ñợt hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng xảy ra hằng năm; những
trận mưa với lưu lượng và cường ñộ rất lớn, các cơn dông, lốc tố, lũ và lũ quét
thường xuyên xuất hiện. Ngoài ra, với 127 km bờ biển tiếp giáp với ổ bão Tây Bắc
Thái Bình Dương, là ổ bão lớn nhất hành tinh, hàng năm TTH thường chịu ảnh
hưởng của trung bình 0,6 cơn bão [26].
Do vị trí ñịa lý, ñiều kiện ñịa hình và khí hậu nêu trên, TTH ñược xem là một
trong những ñịa phương rất dễ bị tổn thương (DBTT) do thiên tai, nhất là bão, lũ, hạn
hán. Hơn nữa, theo tính toán của các nhà khoa học, những BðKH ở Việt Nam có khả
năng diễn biến như sau [26]:
- Nhiệt ñộ trung bình năm tăng khoảng 0,1
0
C / thập kỷ. Một số tháng mùa hè,
nhiệt ñộ tăng khoảng 0,1 - 0,3
0
trong bối cảnh biến ñổi khí hậu ở hai xã Phú Lương và Vinh Hà, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
► Tính mới của ñề tài
- Phân tích, ñánh giá các hiểm họa tự nhiên ở Phú Lương và Vinh Hà trong xu
hướng ảnh hưởng của BðKH; ñánh giá năng lực quản lý và phòng ngừa thảm họa,
phân tích tình trạng DBTT do thiên tai trong bối cảnh BðKH.
- ðề xuất các biện pháp thích ứng với BðKH ở ñịa bàn nghiên cứu.
► Mục tiêu nghiên cứu
- ðánh giá rủi ro các hiểm họa tự nhiên, khả năng dễ bị ảnh hưởng và năng lực
ứng phó của cộng ñồng các xã Phú Lương và Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh TTH.
- Xây dựng một số biện pháp thích ứng với thiên tai dựa vào cộng ñồng, góp
phần giảm thiểu tác hại do thiên tai trong bối cảnh bị ảnh hưởng bởi BðKH tại xã
Phú Lương và xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. 3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm về thiên tai và BðKH
1.1.1. Một số khái niệm về thiên tai
Thiên tai là hiện tượng bất thường của thiên nhiên có thể tạo ra các ảnh hưởng
bất lợi và rủi ro cho con người, sinh vật và môi trường. Thiên tai có thể xảy ra ở một
vùng, một khu vực nhất ñịnh nào ñó (sấm sét, núi lửa…), một quốc gia (bão, lũ lụt,
hạn hán…), một châu lục (ñộng ñất, ñứt gãy ñịa chấn…), hoặc trên toàn thế giới (hiện
tượng nóng lên toàn cầu, hiện tượng El Niño, La Niña…) [24].
Bão là một nhiễu ñộng sâu sắc nhất trong cơ chế gió mùa mùa hè. ðó là một
vùng khí áp thấp gần tròn, có sức gió từ cấp 8 (17,2 m/s) trở lên, còn những vùng gió
xoáy có sức gió từ cấp 6, cấp 7 ñược gọi là áp thấp nhiệt ñới; bán kính một cơn bão
vào khoảng 200–300 km, các ñường ñẳng áp gần ñồng tâm và dày xít nhau, gây ra
khi khí quyển có sự nhiễu loạn và về cơ bản là không dự báo ñược [1].
El Niño là hiện tượng nóng lên khác thường của nước biển dọc vành ñai xích
ñạo dài gần 10.000 km, từ bờ biển Nam Mỹ ñến khu vực giữa Thái Bình Dương. El
Niño gắn liền với quá trình tương tác khí quyển - ñại dương rộng lớn. Hiện tượng El
Niño thường lặp lại với chu kỳ từ 2 ñến 7 năm. El Niño ñược xác ñịnh bởi chỉ số dao
ñộng nam bán cầu (SOI). El Niño xuất hiện khi SOI có giá trị âm, và ngược lại là sự
xuất hiện của hiện tượng La Niña. Trên thực tế, khí hậu trái ñất là trục ngang của một
ñồ thị hình sin giữa một cực là El Niño và cực kia là La Niña. El Niño và La Niña là
nguyên nhân của nhiều thiên tai bất thường trên thế giới như: mưa lớn, bão, lũ ở vùng
này, hạn hán, cháy rừng ở vùng khác, gây thiệt hại lớn về người và của [13].
Thảm họa là sự phá vỡ nghiêm trọng hoạt ñộng của một xã hội, gây ra những
tổn thất về con người, môi trường và vật chất trên diện rộng, vượt quá khả năng ñối
phó của xã hội bị ảnh hưởng nếu chỉ sử dụng các nguồn lực của xã hội ñó. Thảm
họa có thể ñược phân loại theo tốc ñộ xuất hiện (ñột ngột hay từ từ), theo nguyên
nhân (do thiên nhiên, con người, hoặc là do cả hai). Thảm họa là sự kết hợp của các
yếu tố hiểm họa, rủi ro và tình trạng DBTT [11].
Hiểm họa là bất kỳ sự kiện, hiện tượng không bình thường nào có khả năng ñe
dọa cuộc sống, tài sản hoặc các hoạt ñộng của con người ñến mức có thể gây nên
thảm họa. Hiểm họa có thể xảy ra ñột ngột như lũ quét, sóng thần, sạt lở ñất, hoặc
xảy ra từ từ như hạn hán, sa mạc hóa, nước biển dâng [11].
Rủi ro là những thiệt hại ước ñoán (số người chết, bị thương, thiệt hại tài sản
và sự ñình trệ các hoạt ñộng kinh tế hay ñời sống) do một hiện tượng cụ thể gây ra.
Rủi ro là hàm số giữa khả năng xảy ra cụ thể và những thiệt hại từng trường hợp sẽ 5
gây nên. Cụm từ này cũng ñược sử dụng theo nghĩa khả năng thảm họa xảy ra và
hậu quả dưới từng mức ñộ thiệt hại cụ thể [11].
ðánh giá rủi ro trong thảm họa dựa vào cộng ñồng là một quá trình tổng hợp và
Khả năng (C)
Nguồn: [11] 6
Rủi ro trong thảm họa sẽ tăng lên nếu hiểm họa tác ñộng ñến một cộng ñồng DBTT
và có khả năng hạn chế. Do ñó ñể hạn chế rủi ro trong thảm họa, một cộng ñồng có
thể thực hiện các hoạt ñộng nhằm giảm nhẹ tác hại của hiểm họa, giảm nhẹ tình trạng
DBTT và nâng cao năng lực của cộng ñồng [11].
1.1.2. Khái niệm biến ñổi khí hậu
Dao ñộng khí hậu là sự dao ñộng xung quanh giá trị trung bình của khí hậu
trên
quy mô thời gian, không gian ñủ dài so với hiện tượng thời tiết riêng lẻ. Ví dụ
về
dao
ñộng khí hậu như hạn hán, lũ lụt kéo dài và các ñiều kiện khác do chu kỳ
El Niño
và
La Niña gây
ra [4].
BðKH là sự biến ñổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao ñộng
của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài
hơn. BðKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác ñộng bên
ngoài, hoặc do các hoạt ñộng của con người làm thay ñổi thành phần khí quyển hay
trong khai thác và sử dụng ñất [4].
- Theo Ủy ban liên chính phủ về BðKH (IPCC): BðKH là bất cứ thay ñổi nào
của khí hậu so với thời gian, do tự nhiên hay nguyên nhân từ con người [52].
mực nước biển dâng tại Châu Á là 2,4 mm/năm và chỉ riêng thập kỷ vừa qua là 3,1
mm/năm, và dự báo tiếp tục tăng cao hơn trong thế kỷ XXI ít nhất từ 2,8 - 4,3
mm/năm [52].
Trong thế kỷ XX, lượng mưa ở các vùng vĩ ñộ trung bình và cao, cứ một thập
kỷ tăng từ 0,5 ñến 1 %. Trong nửa cuối thế kỷ XX, ở các vùng có ñộ cao trung bình
và cao, thuộc Bắc bán cầu, số lần mưa to tăng khoảng 2 – 4 %. Lượng mưa tăng
không ñều, nhiều vùng mưa quá nhiều nhưng nhiều vùng trở nên khô hạn hơn. Mưa
nhiều hơn ở các vùng cực. Các dữ liệu ảnh vệ tinh cho thấy diện tích có tuyết bao phủ
trên thế giới giảm khoảng 10 % kể từ cuối những năm 1960 ñến nay. Diện tích vùng
băng giá Bắc bán cầu giảm khoảng từ 10 – 15 % kể từ những năm 1950. Trong thế kỷ
XXI, bão nhiệt ñới sẽ tăng cả về số lượng và cường ñộ (từ 10– 20%), hiện tượng El
Niño và La Niña cũng hoạt ñộng mạnh hơn cả về tần suất và cường ñộ. Mưa lớn sẽ
xảy ra nhiều hơn và kéo theo hậu quả là lũ lụt xảy ra triền miên tại nhiều nơi trên thế
giới. Mùa ñông sẽ ngắn lại và số ngày lạnh sẽ ít hơn so với trước ñây. Những ñợt
nắng nóng sẽ khốc liệt hơn vào mùa hè ở nhiều nơi trên thế giới dẫn ñến hạn hán và
ñói nghèo, nhất là châu Phi và châu Á [51].
BðKH sẽ tác ñộng nghiêm trọng ñến sản xuất, ñời sống và môi trường trên toàn
thế giới: ñến năm 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2 – 4 %, giá sẽ tăng 13 – 45 %,
số người bị ảnh hưởng của nạn ñói 36 – 50 %; mực nước biển dâng cao gây ngập lụt,
gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng ñến nông nghiệp và gây rủi ro lớn ñối với hệ
thống kinh tế - xã hội trong tương lai. Ví dụ, những vùng bị hạn hán ở khu vực châu 8
Phi cận Sahara có thể mở rộng thêm 60 – 90 triệu ha, với các vùng ñất khô hạn chịu
thiệt hại 26 tỷ USD vào năm 2060, cao hơn con số viện trợ song phương cho khu vực
này vào năm 2005 [72].
BðKH ñang làm thay ñổi diện mạo của các hệ sinh thái. Khoảng một nửa số hệ
san hô trên thế giới ñã bị “tẩy trắng” do nước biển ấm lên. Tính axit ngày càng cao ở
9
bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất ñối với GDP lên tới khoảng 25%, khoảng 40.000
km
2
ñồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm, trong ñó 80% diện tích thuộc
các tỉnh ðồng bằng Sông Cửu Long bị ngập hầu như hoàn toàn [45].
Thực trạng về BðKH ở Việt Nam.
Theo số liệu quan trắc, phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến ñổi của các
yếu tố khí hậu và mực nước biển ở Việt Nam có những ñiểm ñáng lưu ý sau:
- Nhiệt ñộ: Theo kịch bản BðKH Việt Nam [5] thì: “Trong khoảng 50 năm qua
(1958 - 2007), nhiệt ñộ trung bình ở nước ta tăng lên 0,5 – 0,7
0
C. Nhiệt ñộ mùa ñông
tăng
nhanh
hơn nhiệt ñộ mùa hè và nhiệt ñộ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh
hơn
ở
các vùng khí hậu phía Nam”. Nhìn chung nhiệt ñộ ở hầu hết các vùng, miền
của nước ta ñều tăng lên rõ rệt, các thập kỷ gần ñây nhiệt ñộ trung bình năm thường
cao hơn các thập kỷ trước ñó từ 0,4 – 1,3
0
C.
- Lượng mưa: Từ năm 1991 ñến 2000 lượng mưa trung bình năm ở các ñịa ñiểm
ở các vùng khác nhau là không rõ rệt, nhìn chung lượng mưa năm giảm ở các tỉnh
phía Bắc và tăng ở các tỉnh phía Nam. Tính trung bình chung cả nước thì lượng mưa
cả năm trong khoảng 50 năm qua (1958 - 2007) ñã giảm khoảng 2% [5].
C ở
các
vùng khí
hậu khác nhau. Nhiệt ñộ ở các vùng khí hậu phía Bắc và Bắc Trung
Bộ
tăng nhanh
hơn so với nhiệt ñộ ở các vùng khí hậu phía Nam. Tại mỗi vùng
thì
nhiệt ñộ mùa
ñông tăng nhanh hơn nhiệt ñộ mùa
hè
.
- Tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa ở tất cả các vùng khí
hậu
của
nước ta ñều tăng, trong khi ñó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm,
ñặc
biệt là ở
các vùng khí hậu phía Nam. Tính chung cho cả nước, lượng mưa
năm
vào cuối thế kỷ
XXI tăng khoảng 5 % so với thời kỳ 1980 - 1999. Ở các vùng
khí
hậu phía Bắc mức
tăng lượng mưa nhiều hơn so với các vùng khí hậu phía N
am
.
- Vào giữa thế kỷ XXI mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 30 cm
và
ñến
giảm thiểu các rủi ro thiên tai này [69].
Năm 1998, MacLeod trong dự án “Chuẩn bị và giảm lũ lụt dựa vào cộng ñồng
ở Campuchia (CBFMP)”. Mục tiêu của chương trình ñược thiết lập bền vững, nhân
rộng cơ chế phi chính phủ cho giảm nhẹ thiên tai và sẵn sàng ứng phó với lũ lụt. Dự
án nghiên cứu này ñược thực hiện trong 3 tỉnh thường xuyên ngập lũ là Kompong
Cham, Prey Veng và Kandal trên hai lưu vực sông chính của ñất nước Campuchia
là sông Mekong và Tonle Sap. Các giải pháp thích ứng bao gồm: (1) Trao quyền
cho cộng ñồng ñể phát triển các giải pháp ñể giảm nhẹ lũ lụt; (2) Cung cấp cho cộng
ñồng với một mức ñộ an toàn từ các thảm họa thiên nhiên; (3) ðào tạo tình nguyện
viên trong làng ñịa phương bằng các khái niệm và kỹ thuật chuẩn bị sẵn sàng ứng phó
thiên tai; (4) Thành lập Uỷ ban thiên tai trong làng ñể tham gia quá trình thực hiện
các giải pháp ñể giảm tác ñộng của thiên tai cho cộng ñồng của họ; (5) Huy ñộng các
quỹ ñể xây dựng, tu sửa cơ sở hạ tầng chuẩn bị ứng phó với thiên tai [53].
Năm 2001, Peter và Rober trong báo cáo: “Dự báo khí hậu và ứng dụng ở
Bangladesh (CFAB): Hội thảo tham vấn quốc gia”. Các tác giả ñã áp dụng công nghệ
thông tin trong việc cảnh báo thiên tai sớm từ 48 - 72 giờ, có thể nâng mức cảnh sớm
lên 2 tháng ñối với lịch thời vụ do ñó bà con nông dân có thể gieo trồng và thu hoạch
trước khi mùa mưa bão xuất hiện. Ngoài ra, họ còn dự báo sớm trong khoảng 5 - 15 12
ngày ñể bà con nông dân có thể di tản, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, kê cao tài sản
trong nhà, di chuyển các ñộng vật nuôi, gia súc gia cầm lên các ñịa ñiểm cao hơn. Sự
cảnh báo sớm từ 5 - 15 ngày sẽ không áp dụng ñối với các trường hợp sau: (1) Thúc
ñẩy việc thu hoạch mùa màng khi bị ñe dọa bởi lũ lụt; (2) Thiết lập lại lịch thời vụ và
trì hoãn sự phát triển của hạt giống trong trường hợp nước sâu; (3) Thực hiện ñiều
chỉnh vào giữa mùa vụ và các biện pháp gieo trồng các giống cây trồng ở bất cứ nơi
nào có thể; (4) Nâng cao nhà tạm ở ñể lưu trữ các loại lương thực thực phẩm trên
mức lũ tối ña; (5) Bảo vệ tài sản như vật nuôi và trang trại nông nghiệp thiết yếu [64].
(năm 1979); sửa ñổi
mới nhất: Nghị ñịnh
số 3 (2001)
Tích hợp vào Kế hoạch
phát triển 5 năm (2000
– 2004)
Tổ chức quốc gia
quản lý thảm họa và
di dời dân.
(BAKORNAS PBP)
Lào
Công thức dựa trên
của Nghị ñịnh số
158 (1999) của Bộ
trưởng Bộ Hành
ñộng
Kế hoạch hành ñộng
quản lý thảm họa quốc
gia 2020
Văn phòng quản lý
thảm họa quốc gia
(NDMO)
Philippin
Nghị ñịnh số 1566
(1978)
Các loại thảm họa
quốc gia, kế hoạch
phòng ngừa thảm họa.
Tổ chức hội ñồng
thảm họa quốc gia
Các chiến lược này ñược sử dụng trong việc thực hiện các cuộc vận ñộng ở các vùng
có nguy cơ ngập lụt cao, liên quan ñến các cách tiếp cận, việc sử dụng các tài liệu
hiện có, thích nghi với bối cảnh ñịa phương, xây dựng năng lực ñịa phương ñể nhân
rộng trong tương lai và chia sẻ kiến thức. ðây là Bộ Kit thông tin lũ lụt dành cho
nhóm DBTT là giáo viên và học sinh ( ghi rõ thiết kế kỹ thuật ñể cung cấp cho giáo
viên và giáo dục cho học sinh với các thông tin, công cụ ñể phổ biến các kiến thức về
an toàn lũ lụt). Bộ Kit thông tin về lũ lụt bao gồm: (1) Một tập sách bàn về lũ lụt,
giảm nguy cơ lũ; (2) Một tập sách về cảnh báo sớm cộng ñồng lũ lụt; (3) Một tập
sách liên quan "sống chung với lụt" thông tin thiết lập (CD và video); (4) Một tập
sách "vấn ñề sức khỏe trong thời gian lụt" [58].
Vào năm 2005, Burton và Lim trong nghiên cứu: “ðạt ñược sự thích ứng ñầy ñủ
trong nông nghiệp”, các tác giả ñã nghiên cứu sự thích ứng với BðKH bằng những
thay ñổi ngắn hạn trong sản xuất nông nghiệp. Hai ông ñã lựa chọn cây trồng và 14
phương cách trồng trọt linh hoạt ñể giảm tình trạng áp lực cao (ví dụ nhiệt ñộ cao,
hạn hán, lũ lụt, nhiễm mặn, sâu bệnh và dịch bệnh), cho phép vừa thay ñổi gen mới
với các giống cây mới, vừa phát triển các giống cây ở ñịa phương có khả năng chống
chịu tốt, năng suất ổn ñịnh từ trước cho ñến nay, nếu các chương trình quốc gia có
khả năng hỗ trợ việc thực hiện [40].
Năm 2007, Easterling trong nghiên cứu: “Thực phẩm, chất xơ và các sản phẩm
lâm sản, trong biến ñổi khí hậu 2007”. Ông ñã nghiên cứu các biện pháp thích ứng
dựa trên: (1) Sự lựa chọn các chính sách thích ứng có chủ kiến; (2) Các chiến lược
thích ứng ña lĩnh vực trong tự nhiên nhằm ñiều chỉnh khả năng thích ứng của hệ
thống nông nghiệp; (3) Các thích ứng nhanh, bao hàm cả việc chọn lựa giống cây
trồng phù hợp, phân chia lại vùng khí hậu nông nghiệp, và thay thế cây trồng cũ bằng
loại cây trồng mới [48].
- Ngành nông nghiệp phải sớm ñưa ra ñược những loại cây
trồng cây trồng mới có khả năng thích nghi ñược với
BðKH.
- Thay ñổi biện pháp chăm sóc bằng dinh dưỡng
- Thay ñổi phương thức sử dụng thuốc trừ sâu, làm ñất canh
tác, phơi lúa, và các hoạt ñộng khác trên ruộng.
- Xây dựng chiến lược thích ứng cho nông nghiệp.
- ðiều chỉnh các ưu tiên nghiên cứu trong nông nghiệp.
- Bảo vệ các nguồn gen và và sở hữu trí tuệ.
- Phát triển khuyến nông và hệ thống thông tin.
- ðiều chỉnh chính sách hàng hoá và thương mại nông sản.
- Tăng cường công tác giáo dục và ñào tạo.
- Xác ñịnh rõ và khuyến khích các lợi ích của vi khí hậu và
các dịch vụ môi trường của nông- lâm nghiệp.
Chăn nuôi gia súc,
gia cầm
- Sản sinh giống vật nuôi có khả năng kháng bệnh cao và
năng suất hơn.
- Tăng dự trữ thức ăn cho gia súc trong những thời kỳ không
thuận lợi.
- Tăng cường các biện pháp quản lý và phát triển ñồng cỏ ñể
tận dụng thức ăn chăn nuôi.
- Tăng cường xoay vòng giống vật nuôi và ñồng cỏ.
- Tăng chất lượng thức ăn cho vật nuôi.
16
việc với sự thay ñổi của sức gió”. Ông ñã sử dụng phương pháp ñối thoại, học tập,
chia sẻ (Shared Learning Dialogue - SLD) ñến tận cấp thôn về các hiểm họa ñối với
họ trong vòng 10 năm, các kiến thức về thiên tai, thời tiết, các phương pháp ứng phó
với thiên tai, thảo luận nhóm. Quá trình ñánh giá rủi ro cộng ñồng gồm: (1) Phân tích
tính DBTT; (2) Phân tích năng lực ứng phó và thích ứng; (3) Phương pháp phân tích
(xếp hạng từ 1–10 chi phí - lợi ích của các hoạt ñộng giảm thiểu, các phương pháp
giảm thất thoát cả trong ngắn hạn và dài hạn); (4) Công cụ (xếp hạng chi phí - lợi ích,
vẽ bản ñồ, thu thập và phân tích dữ liệu) [67].
Santoso (2007), ñã ñưa ra một phương pháp ñánh giá nhanh tính DBTT ở cấp
quốc gia thông qua bài báo: “Một phương pháp ñánh giá tính DBTT nhanh ñể thiết
kế những chiến lược quốc gia và kế hoạch thích ứng với BðKH và tính biến thiên
khí hậu ”. Ông ñã ñưa ra một số khái niệm và phương pháp ñể ñánh giá nhanh tính
DBTT ñể sau ñó dễ dàng lồng ghép các kết quả này vào các kế hoạch, chiến lược
thích ứng của quốc gia Indonesia. Phương pháp này liên quan ñến một số vấn ñề
sau: (1) Xác ñịnh ñược các hệ sinh thái bị ảnh hưởng của BðKH; (2) Xác ñịnh các
thành phần ảnh hưởng ñối với các mục tiêu phát triển của quốc gia; (3) Nhận biết
các chiến lược thích ứng dựa trên các khái niệm về làm thế nào ñể giảm nhẹ, tránh
né, giảm ñộ nhạy cảm hoặc phụ thuộc vào các dịch vụ môi trường; (4) Khả năng
thích ứng thông qua thực hiện hệ sinh thái thân thiện, hiệu quả ngày càng cao và
công nghệ hiện ñại. Nhưng quan trọng là sự kết hợp ña cấp từ trung ương cho ñến
ñịa phương ñể có thể ñánh giá một cách toàn diện từ các ñiểm khác biệt và nổi bật ở
các ñịa phương khác nhau [50].
Năm 2007, Moench & Dixit, ñã xuất bản cuốn sách: “Sự vận hành với thay
ñổi của gió”. Cuốn sách này ñã cung cấp những hiểu biết ban ñầu của một số
chương trình, dự án về việc giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với BðKH ở
Nam Á. Các tác giả ñã ñưa ra: (1) Một số kiến thức về tác ñộng của sự thay ñổi của
gió, lốc, bão, lũ lụt…, sự thay ñổi của sinh kế, các tác ñộng trước mắt và lâu dài của
các tổ chức quản lý tài nguyên nước tại Ontario, Canada. Nghiên cứu này chỉ ra một
số biện pháp thích ứng và nâng cao năng lực quản lý bằng các thể chế, kế hoạch,
chính sách của các cấp chính quyền về các nguồn tài nguyên nước ở quy mô ñầu
nguồn thông qua sự hợp tác của các thành phố, tỉnh, chính phủ, các bên liên quan và
các thành viên của cộng ñồng, bao gồm các vấn ñề sau: (1) Hình thành các quan hệ 18
ñối tác giữa các cơ quan liên quan; (2) Làm rõ vai trò và trách nhiệm của các bên;
(3) Chia sẻ thông tin; (4) Sự tham gia nhiều hơn và tích cực hơn của các bên liên
quan; (5) Xây dựng sự ñồng thuận [57].
Vào năm 2009, Tổ chức cứu trợ và tái ñịnh cư (RRE) và Trung tâm chuẩn bị
thiên tai châu Á (ADPC) ñã công bố công trình nghiên cứu “Cơ cấu tổ chức quản lý
thiên tai ở Myanmar”. Mục ñích của tài liệu này là cung cấp một cái nhìn tổng quan,
toàn diện về sắp xếp thể chế hiện tại cho quản lý thiên tai tại Myanmar ở các cấp, làm
cho thông tin có sẵn cho tất cả các bên liên quan tham gia vào quản lý rủi ro thiên tai
ở Myanmar. ðối với các bên liên quan làm việc ở cấp quốc gia, ñiều này sẽ cung cấp
sự hiểu biết tốt hơn về cơ cấu thể chế ở cấp quốc gia và vai trò, trách nhiệm của các
Bộ, cho phép các ñối tác tham gia hiệu quả hơn trong việc thực hiện các chương trình
quản lý rủi ro thiên tai và các dự án. ðối với các ñối tác làm việc ở cấp ñộ cộng ñồng,
mô tả của các thể chế thành lập ở cấp xã và cấp thôn sẽ giúp ñỡ trong sự hiểu biết tốt
hơn của hệ thống hiện có, hiệu quả xây dựng quan hệ ñối tác ñể giảm thiểu rủi ro
thiên tai tại ñịa phương [46].
Năm 2009, Nghiên cứu “ðông Nam Á và những hòn ñảo ở Thái Bình Dương:
Ảnh hưởng của BðKH ñến năm 2030” ñã xác ñịnh và tóm tắt các nghiên cứu mới
nhất, ñánh giá của các chuyên gia liên quan ñến tính DBTT do tác ñộng của BðKH.
Những tác ñộng của BðKH như mực nước biển dâng, nhu cầu cấp nước, thay ñổi
nông nghiệp, sự gián ñoạn và các loài tuyệt chủng hệ sinh thái, cơ sở hạ tầng có
nguy cơ bị rủi ro từ các sự kiện thời tiết khắc nghiệt (mức ñộ nghiêm trọng và tần
thế
giới [37], [45].
Do
vị
trí
ở
khu
vực
có
khí
hậu
nhiệt
ñới
gió
mùa,
hạn hán,
xói
mòn... 19
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1994) ñã xếp Việt Nam nằm trong nhóm
quốc gia có nguy cơ tổn thương cao do tác ñộng của hiện tượng BðKH và nước biển
dâng. Hiệp ñịnh khung về BðKH của Liên hiệp quốc ñã dẫn Thông báo ðầu tiên của
Việt Nam về BðKH cho biết trong suốt 30 năm vừa qua, mực nước quan trắc dọc theo
bờ biển Việt Nam có dấu hiệu gia tăng, Bộ TN-MT ước tính ñến năm 2050 mực nước
biển sẽ gia tăng thêm 33 cm và ñến năm 2100 sẽ tăng thêm 1 m. Với nguy cơ này, Việt
Nam sẽ chịu tổn thất mỗi năm chừng 17 tỉ USD (chiếm 80% GDP) [37], [68], [71].
Nguyễn Việt (2001) ñã công bố ñề tài nghiên cứu: “Thiên tai ở Thừa Thiên
Huế và các biện pháp phòng tránh tổng hợp”. Có thể nói ñây là nghiên cứu ñầy ñủ và
chi tiết về các ñiều kiện tự nhiên ở TTH; các loại thiên tai, ñiều kiện tự hình thành và
tình hình thiệt hại do thiên tai trong những năm gần ñây trên ñịa bàn toàn tỉnh TTH.
ðồng thời tác giả ñã ñưa ra ñược các biện pháp phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
tổng hợp ở TTH trong thời gian qua như: (1) Kiện toàn BCH PCLB-TKCN từ cấp
tỉnh trở xuống; (2) Xây dựng các chiến lược, kế hoạch hành ñộng, phương hướng
giảm nhẹ thiên tai; (3) Thực hiện một số biện pháp công trình và phi công trình trong
công tác PCLB-TKCN; (4) Xây dựng các chính sách quản lý tổng hợp phòng chống
và giảm nhẹ thiên tai. Nhưng xuyên suốt ñề tài này vẫn chưa thấy các nghiên cứu, dự
báo các thiệt hại có thể thường xuyên xảy ra, sự thay ñổi thất thường của thời tiết
trong bối cảnh BðKH hiện nay [34].
Năm 2002, Trung tâm nghiên cứu và hợp tác quốc tế Canada (CECI) ñã công
bố công trình nghiên cứu của mình về việc: Xây dựng năng lực thích ứng với BðKH
ở miền Trung Việt Nam (2002 - 2005). Công trình nghiên cứu này nhằm củng cố
giả chưa ñi sâu vào các vấn ñề cụ thể của BðKH tác ñộng lên tỉnh TTH [19].
Lâm Thị Thu Sửu (2005) ñã công bố b
áo cáo kết quả
nghiên cứu phân tích sinh
kế có sự tham gia tại xã Vinh Hà, Huyện Phú Vang, Tỉnh TTH. Với báo cáo này, các
kết quả tập trung vào sinh kế của người dân, các nguồn lực xã hội, các nguồn tài
nguyên ở xã Vinh Hà, huyện Phú Vang. Nghiên cứu này chưa ñề cập ñến các vấn ñề
về sự thay ñổi của thiên tai, thời tiết trong bối cảnh BðKH hiện nay [17].
Roger và cs (2006) ñã nghiên cứu về mối quan hệ giữa thích ứng
với
BðKH,
quản lý rủi ro thiên tai và giảm nghèo ở Việt Nam trong báo cáo
“Liên kết biến ñổi
khí hậu và quản lý rủi ro thiên tai cho sự giảm nghèo bền vững quốc gia Việt Nam
”.
Báo cáo ñã xét ñến nguy cơ
của
BðKH, thiên tai và các tác ñộng tiềm năng của 21
BðKH; cách tiếp cận
trong
quản lý rủi ro thiên tai; cách tiếp cận trong thích ứng với
BðKH;
Nghiên
cứu ñiển hình ở Nam
ðịnh [60].
UNFCCC [64].
Ủy ban Liên Chính phủ về BðKH (IPCC) (2007) qua phân tích và phỏng ñoán
các tác ñộng của nước biển dâng ñã công nhận ba vùng châu thổ ñược xếp trong nhóm
cực kỳ nguy cơ do sự BðKH là vùng hạ lưu sông Mekông (Việt Nam), sông Ganges -
Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập). Chương trình Phát triển của Liên
hiệp quốc (UNDP) (2007) ñánh giá: “khi nước biển tăng lên 1 m, Việt Nam sẽ mất
5% diện tích ñất ñai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp
(tương ñương 5 triệu tấn lúa và 10% GDP) [52], [72].
Dasgupta và cs (2007) ñã công bố một nghiên cứu chính sách do Ngân hàng
Thế giới (WB ) xuất bản ñã xếp Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh
hưởng cao nhất do BðKH. Tại Việt Nam, hai ñồng bằng sông Hồng và ðBSCL chịu
ảnh hưởng nặng nhất. Khi nước biển dâng cao 1 m, ước chừng 5,3 % diện tích tự
nhiên, 10,8 % dân số, 10,2 % GDP, 10,9 % vùng ñô thị, 7,2 % diện tích nông nghiệp
và 28,9 % vùng ñất thấp sẽ bị ảnh hưởng [45].
Nguyễn Hữu Ninh (2007), dựa vào các số liệu hiện có, tác giả ñã tổng quan về
BðKH
ở
ðồng bằng sông Cửu Long trong báo cáo: “Lũ lụt ở ñồng bằng sông Cửu
Long”.
Báo
cáo ñã tổng quan các vấn ñề như: BðKH và lũ lụt; Hiện trạng quản lý
thiên tai
và
thích ứng với BðKH. Báo cáo có nhận xét là về lâu dài BðKH sẽ tác 22
các hoạt ñộng thích ứng ở miền nam Việt Nam”. Trong bảng báo cáo này, tác giả ñã
lượt khảo các nghiên cứu các nguy cơ và thách thức của BðKH ñối với miền Nam
nói riêng và Việt Nam nói chung; sau ñó ñưa ra các hoạt ñộng nghiên cứu thích ứng
của chính quyền, các viện nghiên cứu, các trường ñại học, các tổ chức xã hội và
người dân ñịa phương [23].
Lâm Thị Thu Sửu và cs (2010) ñã công bố kết quả nghiên cứu với ñề tài: 23
“Thích ứng BðKH dựa vào cộng ñồng lưu vực sông Hương, tỉnh TTH”. ðề tài ñã
nêu ñược: (1) Các ñặc ñiểm ñịa lý, kinh tế xã hội, sử dụng và quản lý tài nguyên
nước ở lưu vực sông Hương; (2) ðưa ra các phương pháp nghiên cứu dựa vào cộng
ñồng (PRA, RRA, thảo luận nhóm tập trung…); (3) Một số kết quả nghiên cứu về
nhận thức của người dân về BðKH, sự thích ứng với BðKH ở hiện tại và tương lai,
các tác ñộng có thể xảy ra do BðKH, sử dụng và quản lý tài nguyên nước. Các kết
quả nghiên cứu ñược thực hiện ở 3 vùng ñịa hình khác nhau của lưu vực sông
Hương là: xã Hương Lộc – huyện Nam ðông, phường Thủy Biều – thành phố Huế
và xã Hải Dương – huyện Hương Trà [18].
1.4. ðiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ñịa bàn nghiên cứu
Phú Vang là huyện ñồng bằng ven biển và ñầm phá của tỉnh TTH. Phía Bắc giáp
biển ðông, phía Tây giáp huyện Hương Trà và thành phố Huế, phía Nam giáp thị xã
Hương Thủy, phía ðông giáp huyện Phú Lộc. Phú Vang có tiềm năng lớn về ñánh
bắt và NTTS. Có bờ biển dài trên 35 km, có cửa biển Thuận An và nhiều ñầm phá
như ñầm Sam, ñầm Chuồn, ñầm Thanh Lam, ñầm Hà Trung, ñầm Thủy Tú nằm
trong hệ thống ñầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện tích trên 6.800 ha mặt nước, là
tiềm năng lớn ñể phát triển ñánh bắt và NTTS. ðây là ngành kinh tế mũi nhọn, là thế
mạnh, lợi thế so sánh ñể phát triển kinh tế - xã hội trên ñịa bàn huyện [27].
* Khí hậu, thời tiết: Phú Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt ñới gió mùa nóng,
ẩm của vùng ven biển, có hai mùa mưa, nắng rõ rệt. Mùa mưa từ tháng VIII năm
Bắc giáp với xã Phú Hồ, xã Phú Xuân; phía Nam giáp với thị trấn Phú ða và thị xã
Hương Thủy; phía Tây giáp với phường Thủy Châu, phường Thủy Lương, thị xã
Hương Thủy; phía ðông giáp với xã Phú Xuân của huyện Phú Vang. ðây là một
trong những xã thấp trũng nhất của huyện Phú Vang, là nơi rất dễ xảy ra thiên tai
trong bối cảnh của BðKH hiện nay. Toàn xã hiện có khoảng 1.331 hộ gia ñình, với
dân số trung bình năm 2009 của xã là 6.104 người, số lao ñộng trung bình là 2.924
người, mật ñộ dân số bình quân là 337 người/km
2
, sinh sống ở 10 thôn. Hoạt ñộng
kinh tế chủ yếu của người dân ñịa phương ở ñây là trồng lúa. Ngoài ra, những năm
gần ñây có khoảng 600 hộ làm thêm nấm rơm, 1200 vòm nấm, thu nhập một vòm
nấm/tháng lên ñến 500.000ñ, ước tính thu nhập từ nấm rơm lên ñến 6 tỷ ñồng. Bên
cạnh trồng lúa, người dân ở ñây cũng ñầu tư chăn nuôi như: nuôi gà kết hợp lợn, nuôi
gia cầm, gia súc, nuôi cá nước ngọt… Thu nhập từ các hoạt ñộng chăn nuôi này
chiếm khoảng 25% tổng thu nhập trong nông nghiệp [14], [27]. 25
Xã Vinh Hà ñược gọi là một xã “bán ñảo” của vùng phía nam phá Tam Giang –
Cầu Hai do có phía ðông giáp ñầm Hà Trung – Thủy Tú, phía Tây và Nam giáp ñầm
Cầu Hai. Toàn xã Vinh Hà có tổng diện tích tự nhiên 6.307 ha, trong ñó 3.007 ha ñất
tự nhiên gồm 1.095 ha ñất nông nghiệp, 1.810 ha ñất phi nông nghiệp, 101,28 ha ñất
chưa sử dụng và 3.300 ha mặt nước tự nhiên, chịu ảnh hưởng trực tiếp của những cơn
bão ñến từ biển ðông, nằm trên ñường thoát lũ vào mùa mưa bão và thường xuyên bị
nhiễm mặn vào mùa khô. Toàn xã có 2.010 hộ gia ñình với dân số trung bình năm
2009 là 8.817 người, số lao ñộng trung bình là 4.411 người, mật ñộ dân số là 293
người/km
2
, sinh sống ở 6 thôn. Cư dân chủ yếu bao gồm hai nhóm chính: nhóm cư