ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
Dương Thị Thơm
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
DO ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA
VÀ ĐÔ THỊ HÓA HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
Dương Thị Thơm
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
DO ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA
VÀ ĐÔ THỊ HÓA HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số
:
60 85 02
Cảm ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, người thân, bạn bè
trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Tác giả luận văn
Dương Thị Thơm
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
3
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU............................................3
1.1. Một số khái niệm......................................................................................3
1.2. Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt
Nam...................................................................................................................4
1.2.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới...........................4
1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam..........................6
1.3. Một số đặc điểm của CNH – ĐTH ở Việt Nam hiện nay....................10
1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH đến đất nông nghiệp
........................................................................................................................12
1.4.1. Trên thế giới.....................................................................................12
1.4.2. Trong nước.......................................................................................15
3.2.2. Quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa của huyện....................40
1. Về không gian kinh tế...........................................................................48
- Tập trung các hoạt động công nghiệp vào các khu công nghiệp Nội Bài
(đã đi vào hoạt động): 115 ha; khu công nghiệp sạch Minh Trí - Tân
Dân: 340 ha; cụm công nghiệp tập trung Sóc Sơn: 190 ha; cụm công
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
4
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
nghiệp Mai Đình: 65,7 ha; xây dựng các cụm sản xuất hàng tiểu thủ
công nghiệp tập trung quy mô nhỏ ở các khu vực làng nghề, với quy mô
khoảng 2 ha/cụm (5 cụm); dành quỹ đất khoảng 400 ha ở khu vực thích
hợp để phát triển các khu công nghiệp mới phục vụ cho sự phát triển
công nghiệp trong tương lai. Đảm bảo quỹ đất để có thể mở rộng các khu
công nghiệp với tổng diện tích lên đến 1.000 ha đến năm 2020............48
- Hình thành các trung tâm du lịch và giải trí cuối tuần: Đền Sóc, Hồ
Đồng Quan, Đồng Đò - Ban Tiện, Núi Đôi, Kèo cà - Hàm lợn. Hình
thành các trung tâm dịch vụ phục vụ sản xuất, thương mại, kinh doanh,
bao gồm trung tâm logistics ở Phù Lỗ, trung tâm thương mại - dịch vụ
tổng hợp ở khu vực gần sân bay Nội Bài..................................................48
- Phát triển giao thông phải thực hiện theo bốn hướng cơ bản sau:........48
+ Hiện đại hóa hệ thống giao thông đáp ứng yêu cầu về giao thông cho
dân cư ở các khu vực đô thị hóa................................................................48
KẾT LUẬN............................................................................................................74
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
5
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Biến động diện tích đất nông nghiệp của cả nước ................................. 8
Bảng 1.2. Cơ cấu diện tích đất tại huyện Sóc Sơn................................................. 25
Bảng 1.3. Cơ cấu kinh tế huyện Sóc Sơn qua các năm từ 1991 – 2011............... 28
Bảng 1.4. Lao động trên địa bàn huyện Sóc Sơn (tính đến 31/12/2011)............... 29
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu phân tích đất ..................................................................... 34
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất tại huyện Sóc Sơn năm 2012............................38
Bảng 3.2. Tổng giá trị xản suất trên địa bàn huyện qua các năm......................... .43
Bảng 3.3. Số lượng Doanh nghiệp và lao động trong doanh nghiệp qua các năm.44
Bảng 3.4. Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2005................ 50
Bảng 3.5. Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2005 - 2010................ 51
Bảng 3.6. Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2012 ............... 55
Bảng 3.7. Chất lượng đất nông nghiệp tại huyện Sóc Sơn………………..…….. 57
Bảng 3.8. Kết quả phân tích mẫu đất huyện Sóc Sơn ………………………..…..59
Bảng 3.9. So sánh lượng bón phân thực tế với tiêu chuẩn bón phân hợp lý.. …...61
Bảng 3.10. So sánh tình hình sử dụng thuốc BVTV thực tế và khuyến cáo........ 62
Bảng 3.11. Dự báo sự biến động DT đất trên địa bàn Sóc Sơn đến năm 2020..... 65
Chữ viết tắt
Diễn giải
CNH
Công nghiệp hóa
ĐTH
Đô thị hóa
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
KHKT
Khoa học kỹ thuật
NN&PTNT
Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
KCN
Khu công nghiệp
FAO
SXKD
Sản xuất kinh doanh
DT
Diện tích
BVMT
Bảo vệ môi trường
BTNMT
Bộ Tài nguyên Môi trường
BVTV
Bảo vệ thực vật
KLN
Kim loại nặng
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
8
tích đất trồng lúa cả nước đã giảm 125.000 ha. Một con số không nhỏ chút nào khi
mà đất đai đang ngày càng bị suy giảm cả về chất lượng và số lượng.
Từ khi bắt đầu thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư (năm 1991) đến
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
1
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
cuối tháng 12/2010, đã có 261 khu công nghiệp được thành lập, chiếm 71.394 ha
đất, trong đó 45.854 ha có thể sử dụng làm mặt bằng sản xuất, đã đưa 21.095 ha vào
sử dụng với tỷ lệ lấp đầy mới chỉ đạt 46%. Điều đáng nói là rất nhiều diện tích các
khu công nghiệp này đều là đất nông nghiệp, trong khi đất được lấy bị bỏ hoang vì
chưa thể lấp đầy thì cùng với đó có biết bao người nông dân phải rơi vào cảnh thiếu
đất sản xuất.
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, các dự án phát triển đến đâu hộ nông
dân mất đất đến đó, không còn đất làm ruộng phần lớn người dân không có trình độ
phải lên thành phố kiếm sống, điều này làm gia tăng dân số cũng như các tệ nạn xã
hội ở đô thị. Riêng Hà Nội dự kiến tỉ lệ đô thị hoá đạt 55-62,5% trong năm 2020 và
dân số đô thị đến năm 2020 là 7,9-8,5 triệu người. Do vậy, đất đai sử dụng để xây
nhà ở và các cơ sở hạ tầng là rất thiếu thốn. Theo kế hoạch sử dụng đất của Sở Quy
hoạch Kiến trúc thành phố Hà Nội, từ năm 2008 - 2010, Hà Nội sẽ thực hiện thu
hồi, chuyển hơn 5.200 ha đất nông nghiệp để phục vụ nhu cầu phát triển đô thị.
Sóc Sơn là một huyện thuộc ngoại thành Hà Nội, là một trong những vùng
chịu ảnh hưởng rất lớn của quá trình CNH - ĐTH. Diện tích đất nông nghiệp ngày
- Đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
Nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm,
chất đốt (thể hiện tính cơ giới hóa cao) dựa trên các vùng đất và mặt nước nằm xen
kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô. Theo cách hiểu truyền thống thì “nông
nghiệp đô thị” là nông nghiệp trong các vùng cận thành phố hoặc đang trong quá
trình đô thị hoá. Người ta còn hay gọi với tên gọi khác là nông nghiệp tiền đô thị
hay nông nghiệp ven đô [12].
Có thể hiểu công nghiệp hoá là quá trình biến đổi xã hội đặc trưng bởi kinh
tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp. Nói đơn giản, công nghiệp hoá là quá
trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu
kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Quá trình công nghiệp hoá ở cấp độ vi
mô thể hiện việc biến đổi lao động từ lao động thủ công bằng sức người và sức súc
vật sang lao động cơ khí, lao động dựa vào máy móc. Ngày nay là lao động dựa vào
các công nghệ - tin học. Chỉ báo dễ nhận thấy nhất của công nghiệp hoá là cơ cấu
lao động theo ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thay đổi theo
hướng tăng dần tỉ lệ lao động công nghiệp và giảm dần tỉ lệ lao động nông nghiệp.
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
3
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
Một chỉ báo quan trọng khác là các ngành nghề công nghiệp liên tục xuất hiện. Một
chỉ báo nữa là sự gia tăng tỉ trọng sản lượng công nghiệp trong cơ cấu tổng sản
4
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
Ngày nay, thoái hoá đất và hoang mạc hoá là một trong những vấn đề môi trường và
tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm
phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực. Đất khô cằn có ở mọi
khu vực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái đất. Theo ước tính, có khoảng 10 - 20% diện
tích đất khô cằn đã bị thoái hoá [36]. Điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất
nông nghiệp trên đất.
Thật sự khi đất nông nghiệp bị thoái hoá đã đe dọa cuộc sống của con người.
Theo tổ chức Nông lương Liên Hiệp quốc (FAO) cho biết, tình trạng thoái hoá đất
gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe doạ tới tình hình an ninh
lương thực đối với khoảng ¼ dân số trên thế giới. Năng suất cây trồng giảm, giá
lương thực tăng cao, nguồn dự trữ thấp. Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng và
thiên tai đang là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu đói cho hàng triệu người ở
các nước đang phát triển. Theo ước tính của FAO, khoảng 1,5 tỷ người tương
đương ¼ dân số thế giới sống phụ thuộc trực tiếp vào đất, vốn đang bị thoái hoá
mạnh. Trong thời gian dài, thoái hóa đất đang mở rộng trên phạm vi toàn thế giới và
tác động tới hơn 20% diện tích đất nông nghiệp, 30% đất lâm nghiệp và 10% đất
đồng cỏ. Sự xói mòn đất dẫn tới việc giảm năng suất đất đây cũng là nguy cơ mất
an ninh lương thực, phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái làm mất đa dạng
sinh học và các nguy cơ khác[18].
Việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất
nông nghiệp giảm về cả số lượng. Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc
không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhạy cảm với việc khai
loạt các nhu cầu của con người về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng thì
cách tiếp cận quản lý đất đai không bền vững rõ ràng là đã thất bại.
1.2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam
Diện tích đất tự nhiên nước ta có 33.121,2 nghìn ha (theo số liệu kiểm kê
năm 2005), trong đó có 24.822 nghìn ha là đất nông nghiệp, 3.335 nghìn ha là đất
phi nông nghiệp, 5.016 nghìn ha là đất chưa sử dụng. Diện tích đất của nước ta
đứng hàng thứ 58 trên thế giới nhưng do dân số đông nên bình quân đất nông
nghiệp là vào loại thấp, là một trong 40 nước có diện tích đất đai theo đầu người
thấp nhất trên thế giới hiện nay (1/1/2007) [33]. Đặc biệt là trong tổng số đất đó có
tới hơn hai phần ba diện tích là đất đồi núi dốc, còn lại gần một phần ba là đồng
bằng [26].
Theo điều 13 Luật đất đai Việt Nam năm 2003 thì tổng diện tích đất tự nhiên
được chia thành 3 nhóm lớn là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp,
nhóm đất chưa sử dụng [19].
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
6
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây
hàng năm, đất trồng cây lâu năm), đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm
muối, đất nông nghiệp khác.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp nước ta là 9.415.568 ha chiếm 37,93%
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp năm 2010 của cả nước so với năm
2005 tăng 1.277.600 ha, trong đó tăng chủ yếu ở loại đất sản xuất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp, tình hình tăng giảm các loại đất nông nghiệp cụ thể như sau:
Bảng 1.1. Biến động đất nông nghiệp của cả nước
ST
T
1
1.1
1.2
2
2.1
2.2
2.3
3
4
5
Chỉ tiêu
Năm 2010
Năm 2005
So sánh
15.249.025
7.389.462
5.719.339
2.140.225
690.218
17.562
25.462
9.415.568
6.370.029
4.165.277
3.045.539
14.677.409
5.434.856
7.173.689
2.068.864
700.061
14.075
15.447
702.325
67.264
-37.546
635.061
571.616
1.954.606
-1.454.350
71.361
-9.843
3.487
đất (13 triệu ha) ở vùng miền núi có những vấn đề liên quan tới quá trình suy thoái
hóa đất. Ở miền núi, nguyên nhân suy thoái hóa đất có nhiều, song chủ yếu do
phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc thiểu số, tình
trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi, khai thác tài nguyên khoáng sản không hợp lý, lạm
dụng các chất hữu cơ trong sản xuất, việc triển khai các công trình giao thông,… Sự
suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật và chiều
hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã tới mức báo động [11].
Việt Nam hiện nay có khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới sa mạc hoá,
chiếm 28% tổng diện tích đất trên toàn quốc. Trong đó trên 5 triệu ha đất chưa sử
dụng, khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng nhưng đã bị thoái hoá nặng và 2
triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao. Nước ta đã xuất hiện hiện tượng sa mạc hoá
cục bộ tại các giải đất hẹp dọc bờ biển miền Trung [38].
Bên cạnh đó vấn đề ô nhiễm môi trường đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện
nay đang là một trong những vấn đề nghiêm trọng. Các nguyên nhân ô nhiễm đất
nông nghiệp hiện nay gồm những nguyên nhân chủ yếu sau: ô nhiễm đất vì nước
thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, ô nhiễm đất vì chất phế thải bởi các nguồn
chất thải rắn, ô nhiễm đất do sử dụng phân bón hoá học và nông dược trong canh
tác sản xuất nông nghiệp. Thuốc trừ sâu đồng thời với việc diệt các côn trùng gây
hại, còn dẫn đến ngộ độc đất đai ảnh hưởng đến môi trường đất của nước ta hiện
nay.
Một ví dụ cụ thể, hai thành phố lớn nhất của nước ta là Hà Nội và Hồ Chí
Minh, nơi có dân cư đông đúc và nhiều các khu công nghiệp lớn thì hầu hết sông
ngòi đều bị ô nhiễm, chất lượng môi trường không khí suy giảm. Phần lớn lượng
nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m 3/ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
9
giảm. Trong cơ cấu GDP của Việt Nam, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 38,1% năm
1990 xuống còn 20,6% năm 2008, tỷ trọng công nghiệp tăng từ 22,7% lên 41,6% và
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
10
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
tỷ trọng dịch vụ tương đối ổn định từ 38,6% đến 38,7% trong cùng thời kỳ này[16].
CNH thể hiện rõ ở sự biến đổi cơ cấu lao động đang làm việc trong các thành
phần và ngành kinh tế từ năm 2000 đến năm 2008 (Phụ lục 1). Qua bảng số liệu này
có thể thấy được sự dịch chuyển cơ cấu lao động qua các năm từ 2000 đến 2008 có
sự tăng lên ở các ngành nghề thuộc các lĩnh vực kinh tế, công nghiệp, dịch vụ và sự
giảm xuống của ngành kinh tế nông - lâm nghiệp. Một phần nguyên nhân là do xu
thế CNH - ĐTH diễn ra mạnh mẽ, đòi hỏi cần có một diện tích đất rất lớn để xây
dựng KCN, khu đô thị, cụm làng nghề ... Khi đó, diện tích đất nông nghiệp bị
chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp với số lượng lớn đã làm giảm đáng kể diện
tích đất nông nghiệp, do đó số lượng lao động trong nông nghiệp sẽ giảm dần.
Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả n ước đã có gần 200 khu
công nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu
tư trong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động. Phần lớn diện tích các
khu công nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ
sung vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân [24].
Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát
cả nước, tăng 155.250 ha so với năm 2000[12].
Theo Vụ Đăng ký Thống kê đất đai (Bộ Tài nguyên & Môi trường), diện tích
đất ở bình quân đầu người của cả nước hiện nay là 71,99 m 2/người. Trong đó vùng
Tây Bắc là 127 m2/người; vùng duyên hải Nam Trung Bộ là 91 m 2/người; vùng Bắc
Trung bộ là 91m2/người; vùng Đông Bắc là 85 m2/người; vùng Tây Nguyên là 87
m2/người; vùng Đồng Bằng Bắc bộ là 64 m2/người; vùng Đồng bằng sông Cửu
Long là 62m2/người; vùng Đông Nam bộ là 45m2/người. Trong đó đất ở tại nông
thôn đạt bình quân đầu người là 59,1 m 2/người. Còn đất ở tại đô thị bình quân đầu
người đạt 12 m2/người[12].
Nhìn chung, quá trình CNH - ĐTH ở Việt Nam hiện nay đang có những
bước tiến mạnh mẽ để có thể đưa Việt Nam sánh ngang với nhiều quốc gia trên thế
giới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà quá trình này đem lại thì nó còn
gây ra không ít những tác động tiêu cực về mặt môi trường cũng như sự biến động
lớn về chất lượng và số lượng đất nông nghiệp hiện nay.
1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH đến đất nông nghiệp
1.4.1. Trên thế giới
1.4.1.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của CNH – ĐTH đến số lượng đất nông nghiệp.
Kinh nghiệm của các nước châu Á vốn lấy cây lúa nước là cây lương thực
chính cho thấy: qua mấy chục năm tiến hành CNH - ĐTH thì tỷ lệ mất đất canh tác
từ 0,2 - 2%/năm. Tỷ lệ mất đất canh tác trong thập niên 1980 - 1990 của
Trung Quốc là 0,5%/năm, Hàn quốc 1,4%/năm, Đài Loan 2%/năm, Nhật Bản
1,6%/năm. Diện tích đất canh tác bị mất chủ yếu là đất lúa đã đe doạ đến an ninh
lương thực. Để tăng sản lượng nhiều nước đã tăng năng suất bằng cách sử dụng
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
12
giảm giá thành sản phẩm và áp dụng hệ thống cơ khí nhỏ phù hợp với canh tác lúa
và hộ nông dân quy mô nhỏ. Tổ chức các mạng lưới xí nghiệp công nghiệp ở nông
thôn để tận dụng nguồn lao động dư thừa.
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
13
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
- Hàn Quốc: tổng diện tích đất canh tác của Hàn Quốc là 2,1 triệu ha, quá
trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm diện tích đất nông nghiệp của Hàn
Quốc mất hàng năm khoảng 1,4%/năm (28,8 nghìn ha/năm) cho phát triển công
nghiệp, du lịch và các hoạt động ngoài nông nghiệp. Để sản xuất nông nghiệp
trong điều kiện đất canh tác vùng ven đô ít, giá công lao động cao, từ đầu những
năm 1990 nông nghiệp Hàn Quốc chuyển sang nông nghiệp công nghệ cao nhờ
ứng dụng thành tựu của công nghệ sinh học, hóa học và điện tử vào nông nghiệp.
- Đài Loan: diện tích đất canh tác của Đài Loan rất nhỏ chỉ khoảng 851,5
nghìn ha và có tới 72% hộ nông dân có dưới 1 ha đất canh tác. Do ảnh hưởng của
quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, diện tích đất canh tác nông nghiệp hàng
năm bị mất khoảng 17,03 nghìn ha. Do diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu
hẹp và dân số lao động nông nghiệp ngày càng giảm nên nông nghiệp chủ yếu áp
dụng ở quy mô sản xuất nhỏ có tính chất gia đình với các biện pháp thâm canh và
thực hiện cơ khí hóa. Diện tích đất trồng lúa giảm để chuyển sang trồng rau, quả
phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu [23].
1.4.1.2. Nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghiệp hóa đến chất lượng đất
ngày càng tăng, trung bình khoảng 2.460 km2/năm [23].
Lắng đọng axít thường xảy ra ở các khu vực có mức độ công nghiệp hóa
cao. Hiện nay ở châu Á, các nước như: Trung Quốc, Nhật bản, Ấn Độ, Thái Lan
và Hàn Quốc là các quốc gia có lượng phát thải SO 2 và NO2 đáng kể. Theo thời
gian, đất và nước mặt dần bị axit hóa làm cho Al 3+ và Mn2+ tăng nhanh gây độc cho
các loại cây trồng, đặc biệt là cây họ đậu và cây ngũ cốc rất mẫn cảm với hàm
lượng Al3+ trong đất. Một nghiên cứu năm 1990 đã đánh giá thiệt hại do lắng đọng
axit đối với sản xuất nông nghiệp ở châu Âu khoảng 30 tỷ USD/năm.
1.4.2. Trong nước
1.4.2.1. Nghiên cứu về phát triển công nghiệp, đô thị và phát triển nông nghiệp,
nông thôn
Ở Việt Nam, quá trình CNH được thực hiện từ những năm 1960, kể từ sau
đổi mới, nền kinh tế càng phát triển thì quá trình CNH - ĐTH diễn ra càng nhanh.
Đến 2008 số dân cư đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc với khoảng
700 trung tâm đô thị lớn nhỏ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến hết tháng 7 năm
2007 cả nước đã có 150 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 32,3
ngàn ha. Việc xây dựng các KCN, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa và có tác động rõ đến
phát triển nông nghiệp và nông thôn như: tạo ra thị trường tiêu thụ nông sản, thúc
đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, tạo cơ hội cho việc ứng dụng các
thành tựu trong chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác,... hình thành các khu nông
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
15
Dương Thị Thơm – K18
nông nghiệp lại bị thu hẹp đáng kể.
Luận văn tốt nghiệp
KHMT
16
Dương Thị Thơm – K18
Sự biến động đất nông nghiệp do ảnh hưởng của quá trình CNH - ĐTH
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Vĩnh Phúc, trong vòng 10 năm qua, tỉnh đã thu hồi
trên 4.000 ha đất nông nghiệp để bàn giao cho 650 dự án xây dựng khu công
nghiệp, khu đô thị và kết cấu hạ tầng. Tại Hưng Yên, ở 4 vùng chuyên canh lúa là
Phù Cừ, Tiên Lễ, Kim Động và thị xã Hưng Yên, trong năm 2007 đã thu hồi 500 ha
đất lúa cho việc xây dựng 4 khu công nghiệp. Tỉnh Bắc Ninh, năm 2000, có tổng
diện tích đất nông nghiệp hơn 49.000 ha; nhưng bước sang đầu 2008, diện tích đất
trồng trọt giảm chỉ còn hơn 42.000 ha. Chỉ tính năm 2005, Bắc Ninh có hơn 2.500
ha đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng, phát triển các khu công nghiệp, khu đô
thị, khiến 9% số hộ mất 80-100% đất sản xuất, 20% số hộ mất 50-80%.
Theo Quy hoạch và Kế hoạch phát triển đất các KCN tập trung ở vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ do BTNMT lập đầu năm 2007. Trong giai đoạn 5 năm (2006
- 2010), quỹ đất phát triển các khu công nghiệp ở một số tỉnh là: Hà Tây từ 2.243
ha lên 17.000 ha (cắt thêm 14.757 ha đất cho khu công nghiệp); Bắc Ninh 1.062 ha
lên 7.000 ha; Hưng Yên từ 102 ha lên 4.080 ha; Hải Dương từ 975 ha lên 6.000 ha.
Việc mở rộng chừng đó đất công nghiệp là mất đi chừng đó đất nông nghiệp [20].
Nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm phát
triển nông nghiệp, nông thôn ven đô thành phố Hà Nội, Lê Quốc Doanh cho rằng
quá trình đô thị hoá vừa tạo ra những ảnh hưởng tích cực cho nông nghiệp vừa có