Nghiên cứu nhân giống lan thạch hộc (dendrobium nobile lindt) từ hạt bằng phương pháp nuôi cấy mô tại trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 39

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ HÀO
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG LAN THẠCH HỘC
(Dendrobium nobile Lindl) TỪ HẠT BẰNG PHƢƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học
Khoa:

CNSH - CNTP

Khóa học:

2011 – 2015

Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ HÀO

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện vật chất tốt nhất có thể và
luôn là chỗ dựa tinh thần cho em trong quá trình thực tập; cảm ơn bạn bè đã giúp đỡ
em trong thời gian vừa qua.
Do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên không thể tránh được còn nhiều thiếu
xót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành từ các thầy cô và các
bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Đỗ Thị Hào


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Các hóa chất, dụng cụ và thiết bị sử dụng trong nuôi cấy ........................23
Bảng 3.2: Ảnh hưởng hiệu quả khử trùng của NaOCl ở nồng độ, thời gian khác
nhau đến khả năng tạo vật liệu sạch nấm và vi khuẩn đưa vào nuôi cấy (sau 1 tuần
theo dõi).....................................................................................................................24
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của một số loại môi trường (MS, 1/2MS, B5, SH và WPM)
đến tỉ lệ nảy mầm hạt lan Thạch hộc ( sau 12 tuần theo dõi) ...................................25
Bảng 3.4: Ảnh hưởng nồng độ một số chất kích thích sinh trưởng đến khả năng
nhân cụm chồi lan Thạch hộc tái sinh từ hạt .............................................................26
Bảng 3.5: Ảnh hưởng hợp chất hữu cơ đến nhân nhanh cụm chồi lan Thạch hộc tái
sinh từ hạt (sau 4 tuần theo dõi) ................................................................................27
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của nồng độ NAA và than hoạt tính đến khả năng ra rễ lan
Thạch hộc (sau 4 tuần theo dõi) ................................................................................27
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của một số giá thể đến khả năng sinh trưởng của cây lan


CR:

Cà rốt

CT:

Công thức

CV:

Coefficient of Variation (Hệ số biến động)

Đ/C:

Đối chứng

HSN:

Hệ số nhân

HCHC:

Hợp chất hữu cơ

KC:

Knudson C

Kinitine: 6- Furfuryaminopurin

Robert Ernst

TDZ:

Thidiazuron

Tp HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
THT:

Than hoạt tính

VW:

Vacin and Went

WPM:

Wood Plant Medium


iv

MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài .............................................................................2
1.2.1. Mục tiêu của đề tài ...........................................................................................2
1.2.2. Yêu cầu của đề tài .............................................................................................2
1.3. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................3

năng tạo vật liệu sạch nấm và vi khuẩn đưa vào nuôi cấy (sau 1 tuần theo dõi)................24
3.6.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại môi trường (MS, 1/2MS, 2/3MS, B5,
và WPM) đến tỉ lệ nảy mầm hạt lan Thạch hộc ( sau 12 tuần theo dõi) ...................25
3.6.3. Nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ của một số chất kích thích sinh trưởng và hợp
chất hữu cơ đến nhân nhanh cụm chồi lan Thạch hộc tái sinh từ hạt (sau 4 tuần
theo dõi) ....................................................................................................................26
3.6.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NAA và than hoạt tính đến khả năng ra
rễ lan Thạch hộc (sau 4 tuần theo dõi) ......................................................................27
3.6.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến khả năng sinh trưởng của cây
lan Thạch hộc ở vườn ươm (sau 4 tuần theo dõi) .....................................................28
3.7. Chỉ tiêu theo dõi .................................................................................................28
3.8. Phương pháp xử lí số liệu...................................................................................29
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ..................................................................30
4.1. Kết quả nghiên cứu hiệu quả khử trùng của NaOCl ở nồng độ, thời gian khác
nhau đến khả năng tạo vật liệu sạch nấm và vi khuẩn đưa vào nuôi cấy..................30
4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường (MS, 1/2MS, 2/3MS, B5 và
WPM) đến tỉ lệ nảy mầm hat lan Thạch hộc ( sau 12 tuần theo dõi)........................32
4.3. Kết quả ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng và hợp chất hữu cơ
đến nhân nhanh chồi lan Thạch hộc tái sinh từ hạt (sau 4 tuần theo dõi) .................33
4.3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ BA, Kinetine và TDZ đến khả năng
nhân cụm chồi lan Thạch hộc tái sinh từ hạt .............................................................33
4.3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của hợp chất hữu cơ đến nhân nhanh cụm chồi
lan Thạch hộc tái sinh từ hạt .....................................................................................36


vi

4.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NAA và than hoạt tính đến khả
năng ra rễ lan Thạch hộc (sau 4 tuần theo dõi) .........................................................39
4.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể đến khả năng sinh trưởng và

Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu nhân giống
lan Thạch hộc (Dendrobium nobile Lindt) từ hạt bằng phƣơng pháp nuôi cấy
mô tại trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên” với mục đích bảo tồn nguồn
dược liệu quý đồng thời góp phần phát triển một loài thuốc nam có giá trị.


2

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
Tái sinh và nhân giống lan Thạch hộc bằng phương pháp in vitro.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Xác định hiệu quả khử trùng của NaClO ở nồng độ và các mốc thời gian đến
khả năng tạo vật liệu sạch nấm và vi khuẩn đưa vào nuôi cấy.
- Xác định ảnh hưởng môi trường MS, 1/2MS, 2/3MS, B5 và WPM đến tỉ lệ
nảy mầm của hạt lan.
- Xác định ảnh hưởng nồng độ chất kích thích sinh trưởng và hợp chất hữu cơ
đến nhân nhanh cụm chồi lan Thạch hộc.
- Xác định nồng độ NAA và than hoạt tính đến khả năng ra rễ lan Thạch hộc.
- Xác định loại giá thể thích hợp đến sinh trưởng và phát triển của cây con ở
giai đoạn vườn ươm.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ xây dựng được một biện pháp kỹ thuật nhân giống Lan
Thạch hộc bằng phương pháp in vitro.
- Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất được quy trình nhân nhanh giống Lan Thạch hộc bằng phương pháp
nuôi cấy in vitro, đảm bảo cung cấp số lượng lớn cây giống có chất lượng cao, đồng
đều cho sản xuất.


Ngành:

Magnoliophyta

Lớp:

Liliospida

Bộ:

Asparagales

Phân họ:

Orchidaceae


4

Đặc điểm về phân loại: Orchidacae là một họ rất lớn thuộc lớp đơn tử diệp,
phân bố khắp nơi trên thế giới.
Ở vùng ôn đới, ta gặp nhiều loài sống ở đất như địa lan, một số loài hoại sinh
không diệp lục và sống vào chất mùn trong đất. Có loài ở châu Úc có thể sống ngầm
dưới đất như nấm [8].
Ở vùng nhiệt đới ta sẽ gặp nhiều loại phụ sinh sống trên cây khác như cattleya,
oncidium, laelia tập trung nhiều ở vùng Trung Mỹ, ở Đông Nam Á đặc sắc nhất là
Denbrodium và còn có Cypripedium, Phalaenopsis, Cymbidium có nguồn gốc ở Inđônêsia.
Cây lan có thể chia thành hai nhóm: Nhóm đơn thân và nhóm đa thân.
* Nhóm đơn thân chia làm hai nhóm phụ:
- Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): Nhóm này lá được xếp thành hai hàng

lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung hay chỉ gấp lại theo gân hình chữ V.
Màu sắc lá thường xanh bóng nhưng có trường hợp 2 mặt lá khác nhau: Thường mặt
dưới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lại khảm nhiều màu sắc sặc sỡ [20].
Rễ: Phong lan thuộc họ sống phụ sinh, treo lơ lửng trên các cây thân gỗ khác.
Các loại thân gỗ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại
thành các bụi dày. Đặc biệt đối với lan công nghiệp (nuôi cấy mô) người ta thường
sử dụng một số giá thể nuôi như: Dớn, than củi, … Rễ làm nhiệm vụ hấp thu chất
dinh dưỡng, chúng được bao bởi lớp mô hút dày, ẩm. Bao gồm: Những lớp tế bào chết
chứa đầy không khí, do đó nó ánh lên màu xám bạc. Với lớp mô xốp đó rễ có khả năng
hấp thu nước mưa chảy dọc dài trên vỏ cây, lấy nước lơ lửng trên không khí [7], [20].
2.1.2.2 Cơ quan sinh sản
Hoa: Lưỡng tính, rất hiếm các loại phong lan đơn tính, tạp tính và nhị dạng.
Hoa đối xứng qua một mặt phẳng, bên ngoài có 6 cánh, trong đó 3 cánh đài ở ngoài
cùng, thường có màu sắc và kích thước giống nhau. Một cánh đài nằm phía trên hay
phía sau của hoa gọi là cánh đài lý, 2 cánh dài nằm 2 bên gọi là cánh đài cạnh. Nằm
kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa. Chúng giống nhau về hình
dạng, kích thước, màu sắc. Cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dưới, có hình
dạng và màu sắc khác hẳn với các cánh còn lại gọi là cánh môi. Cánh môi quyết
định giá trị thẩm mỹ của hoa lan. Ở giữa hoa có một trụ nổi lên bộ phận sinh dục
của cây, giúp cây duy trì nòi giống. Trụ gồm nhị và nhụy, sau khi thụ phấn các cánh
hoa héo, cuống hoa hình thành quả lan [7], [8], [20].


6

Quả và hạt: Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3-6 đường nứt dọc, quả
có dạng cài dài đến hình trụ ngắn phình ở giữa. Khi chín quả nở ra và mảnh vỏ
còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc. Ở một số loài quả chỉ mở theo 1-2
khía dọc, thậm chí không nứt ra, và hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này mục nát [8].
Hạt lan rất nhiều, kích thước nhỏ. Hạt chỉ cấu tạo bởi một phôi chưa phân hoá,

7

Hydrat cacbon (CH2O)n và muối khoáng là do rễ mang lại, cây lan đã tổng hợp
được các chất cần thiết cho sự phát triển. Ông nghĩ rằng hạt lan không mọc được bởi
lý do nó thiếu khả năng tự tạo ra hydratcacbon từ CO2. Do đó chỉ thêm 2% đường
vào môi trường gieo hạt (gồm có thạch và muối khoáng), không cần có nấm, hạt lan
vẫn nảy mầm được. Như thế vai trò chính của nấm đối với sự nảy mầm của hạt lan là
cung cấp đường. Từ phương pháp này của Knudson được ứng dụng khắp nơi trên thế
giới [29].
+ Phương pháp gieo hạt xanh
Sau khi thụ tinh, cần thời gian từ 6 tháng tới 1 năm để quả chín. Ngoài ra, để đảm
bảo thành công trong việc tạo cây lai bằng kỹ thuật lai giống từ 2 loài lan có nhiễm sắc
thể khác nhau, người ta đã dùng một phương pháp gieo hạt hoàn toàn mới là phương
pháp gieo hạt xanh.
Phương pháp này được thực hiện trong phòng thí nghiệm và có ưu thế là sử dụng
quả còn xanh chưa bị nứt nên những hạt bên trong không bị nhiễm mầm bệnh. Vỏ quả
có thể được khử trùng bằng các dung dịch khử trùng mạnh mà không tổn thương tới
hạt ở bên trong. Sau đó, vỏ quả được tách ra bằng các dụng cụ đã được khử trùng trong
tủ cấy vô trùng, lúc này hạt được gieo trực tiếp trên môi trường nuôi cấy mà không cần
khử trùng lần nữa [18].
+ Phương pháp gieo hạt chín
Giống với phương pháp gieo hạt xanh nhưng có thuận lợi hơn là hạt đã chín và
khả năng nảy mầm của hạt trên môi trường dinh dưỡng nhân tạo sẽ cao hơn. Để thực
hiện được phương pháp này cần phải xác định được độ tuổi thích hợp để gieo hạt chín
khi chưa nứt [18].
2.1.3.2 Phương pháp nhân giống vô tính
Nhân giống vô tính là quá trình nuôi cấy thực vật trong các điều kiện tự nhiên.
Bao gồm các phương pháp sau:
+ Phương pháp cơ học (chiết ngọn, xiết ngọn)
Khi cây đạt đến một kích thước mong muốn, ta sẽ cắt phần ngọn có rễ đem

2.1.4. Giá thể trồng lan
Có thể sử dụng than hoa, gạch, dớn, xơ dừa, rễ lục bình, vỏ thông để trồng hoa
lan, có thể dùng một loại giá thể hoặc phối trộn các loại giá thể trên với nhau để
trồng lan tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng và tuỳ thuộc vào loài lan
cũng như độ tuổi của lan [18].


9

2.2. Giới thiệu về giống lan Dendrobium
2.2.1. Phân loại và phân bố
Thuộc lớp một lá mầm:
Họ:

Orchidales

Họ phụ:

Epiendroideae

Tông:

Epidendreae

Giống:

Dendrobium

Họ Orchidales có khoảng 50 chi, 25.000 loài, chiếm vị trí thứ hai sau họ Cúc
trong ngành thực vật hạt kín và là họ lớn nhất trong ngành một lá mầm. Các loài

có thể quang hợp được [19].
Hình dạng và kích thước của giả hành rất đa dạng: hình cầu, thuôn dài hay
hình trụ xếp chồng lên nhau tạo thành thân giả có lá mọc xen kẽ [11].
Một số loài ở ứ lạnh chỉ có nhiệm vụ dự trữ chất dinh dưỡng nên giả hành
không có màu xanh nhưng phía trên có mang lá [11].
Lá có hình kim, trụ hay có rãnh hay phiến mỏng. Dạng lá mềm mại mọng
nước dai, có màu xanh bóng, đậm hay nhạt tùy thuộc vào vị trí sống của cây. Phiến
lá trải rộng hay gấp lại theo gần vòng cung như cái quạt hay chỉ gấp lại theo gân
giữa như hình chữ V. Những lá sát dưới gốc đôi khi giảm đi chỉ còn những bẹ
không phát triển hay giảm hẳn thành vảy [11].
Các loài thuộc giống Dendrobium vùng nhiệt đới nói riêng và họ Orchidaceae
nói chung đôi khi trút là vào mùa khô hạn. Sau đó, cây ra hoa hay sống ẩn để khi
gặp mưa thì cho mới [1].
Hoa: Theo Nguyễn Công Nghiệp (2004) [19], Dendrobium thuộc nhóm phụ
ra hoa ở nách lá. Chồi hoa mọc từ các mắt ngủ giữa các đọt lá trên thân gần ngọn và
cả ngọn cây. Sự biểu hiện trước khoa ra hoa khác biệ có nhiều loài rụng hết lá trước
khi ra hoa. Thời gian ra hoa đầu mùa mưa hay đầu.
Giống Dendrobium khi đủ dinh dưỡng thì cho thành từng chùm, phát hoa dài
và thời gian ra hoa trung bình 1-2 tháng [19].
Quả: Họ Orchidaceae đều có quả thuộc quả nang, khi hạt chín, các nang bung
ra chỉ còn dính lại với nhau ở đỉnh và gốc. Ở một số loài, khi quả chín quả không
nứt ra nên hạt chỉ ra khỏi quả khi quả bị mục nát [11].


11

Hạt: Những hạt giống không chứa các chất dinh dưỡng do gió phát tán để
được nảy mầm cần có nấm cộng sinh hỗ trợ các chất cần thiết, đăc biệt ở đầu các
giai đoạn phát triển [9].
Theo Dương Công Kiên (2006) [11], quả chứa 10.000-100.000 hạt đôi khi

2.2.3. Các điều kiện cơ bản để nuôi trồng
2.2.3.1 Nhiệt độ, ẩm độ, mùa nghỉ
Phần lớn Dendrobium sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ bình quân năm
180C-200C, lượng mưa năm trên 1.000 mm, độ ẩm tương đối không khí trên 80%.
Tưới ẩm: Giữ độ ẩm tương đối của không khí khoảng 80%, giá thể khô, ướt
xen kẽ nhau, khi tưới phải để ráo nước ngay trong ngày, tránh đọng nước làm thối
rễ, thối cây. Nên tưới vào lúc 8-10 giờ sáng.
Thời vụ trồng có thể trồng vào các tháng 3-4, khi trời ấm dần, có mưa xuân,
độ ẩm cao, có lợi cho việc kích thích chồi nách phát triển và mọc rễ khí sinh để hút
nước và thức ăn nuôi chồi.
Cây con được thuần hoá tốt, ở nơi có điều kiện che râm tốt (như trồng trong
giàn che) có thể trồng quanh năm [38].
2.2.3.2 Ánh sáng
Các mùa vụ khác nhau phải điều chỉnh cường độ cho phù hợp [38].
2.2.3.3 Phân bón
Bón phân vào sáng sớm, không bón vào lúc nắng nóng. Định kỳ bón phân lên
lá bằng phân cân bằng NPK theo tỷ lệ 1:1:1, kết hợp bón phân giàu lân, kali, theo tỷ
lệ NPK 15:20:25, có thể phối hợp tưới nước phân chuồng. Cần ngừng bón phân 2-3
tháng trước khi thu hoạch [13], [38].
2.2.3.4 Thay chậu và nhân giống
+ Tách bụi: Vào vụ xuân hoặc thu, trước khi ra chồi khoảng vào cuối tháng 3
đầu tháng 4, chọn những bụi tốt, không sâu bệnh, rễ phát triển mạnh, sử dụng cây 12 tuổi nhiều mầm, nhổ cả cây có kèm rễ, ngắt hết phần chết khô hoặc chồi gầy, ngắt
bớt rễ con quá dài và rễ già, chỉ để lại 3 cm, tách ra những bụi nhiều bụi theo số
thân, mỗi bụi có 4-5 cành để trồng [38].
+ Giâm cành: Vào cụ xuân, hè khoảng tháng 5-6, chọn cây 3 tuổi, lấy đoạn
thân tròn, khỏe, cắt thành đoạn, mỗi đoạn 4-5 mắt, dài khoảng 15-20 cm, cấy vào
bột đá hoặc cát sông, cắm sâu đến mức không ngã, chờ đến khi có chồi nách, có rễ
khí sinh mọc ra, có thể đem cấy. Khi chọn vật liệu nên sử dụng đoạn thân phần trên




14

Giang, Quảng Tây, Hồ Nam, Vân Nam, Quý Châu. Chi Thạch hộc ở Trung Quốc có
72 loài, 2 loài phụ. Theo “Dược điển nước cộng hòa Trung Hoa” xuất bản năm 2005
đã ghi nhận ở Trung Quốc có 5 Chi Thạch hộc là: Thạch hộc hoàng thảo, Thạch hộc
bờm ngựa, Thạch hộc vỏ tím, Thạch hộc rỉ sắt, Thạch hộc Kim thoa, trong đó Thạch
hộc rỉ sắt là quý nhất được đánh giá là tuyệt phẩm của Thạch hộc. Thạch hộc rỉ sắt
là loài cây có nguy cơ tuyệt chủng, được ghi vào sách đỏ, là dược liệu quý hiếm
được pháp luật bảo hộ nghiêm ngặt. Quý tộc thời Trung Hoa cổ đại coi Thạch hộc rỉ
sắt là “nàng tiên”, mà dân gian gọi là “cỏ cứu mệnh” [15].
Thạch hộc khó sinh sản, mọc chậm, khó trồng, những cây mọc hoang dã đã
được đưa vào “Công ước buôn bán quốc tế động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt
chủng” được pháp luật bảo vệ, do đó nguồn cung cấp tự nhiên đã cạn kiệt, cấm thu
hái và buôn bán.
Trước kia Trung Quốc có 9 loại “Đại Tiên thảo Trung Hoa” gồm Thạch hộc rỉ
sắt , Thiên sơn tuyết liên, Tam trạng nhân sâm, Đông trùng hạ thảo, Bách niên thủ
ô, Hoa giáp phục linh, Đại mạc tùng dung, Thân sơn linh chi và Chân châu đáy
biển. Trong đó Thạch hộc có công năng siêu việt về tư âm, bổ thận, được xếp vào
đại tiên thảo đầu vị của 9 loại đại tiên thảo trên.
Bởi vậy, Thạch hộc được mệnh danh là “vàng thực vật” là dược liệu quý hiếm
truyền thống, được ghi danh trong “Dược điển nước Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa” xuất bản năm 2005, là loài quý nhất trong các loài Thạch hộc. Hiện nay trong
dân gian vẫn dùng nhiều mĩ từ để mô ta cây này “Cây thuốc vàng”, “Cây thuốc
nghìn vàng”, “Đại hồng mao của ngành dược”.
2.3.2. Đặc điểm hình thái
Là cây phụ sinh trên thân gỗ hay vách đá, cao 30-50 cm, thường mọc thành
bụi. Thân hơi dẹt, có rãnh dọc, phía t rên hơi dày hơn, có đốt dài 2,5-3 cm.
Lá hình thuôn dài, phía cuống tù, gần như không cuống, ở đầu hơi cuộn hình
nón, dài 12cm, rộng 2-3cm trên có 5 gân dọc. Lá mọc so le thành dãy đều ở hai bên

kể nồng độ như thế nào đều thấy sử dụng ức chế co bóp. Hiện tượng ức chế này
hình như liên quan với thần kinh phó giao cảm vì thuốc chế từ thạch học đều có tác
dụng làm giảm ảnh hưởng của pilocacpin, atropin và adrenalin trên cơ ruột, trên
tim. Tuy nhiên tác dụng ức chế đối với adrenalin có kém hơn. Khi tiêm dung dịch


16

thạch hộc trên tim của loài cóc thấy dù nồng độ nào từ 0,01-10% đều không thấy
ảnh hưởng [15]
+ Tăng cường khả năng miễn dịch: Nghiên cứu về dược lý hiện đại cho biết,
Thạch hộc có tác dụng tốt về chống mệt mỏi và chống chịu ngạt oxy [15].
+ Hệ gan lợi mật: Thạch hộc có tác dụng lợi mật, tư dưỡng can âm, là dược
thảo tốt điều trị các bệnh gan, mật, chữa trị viêm gan, viêm túi mật, sỏi mật [15].
+ Kháng phong thấp: Thạch hộc có khả năng tư dưỡng âm dịch, bôi trơn các
khớp, giúp cho gân cốt khỏe, khớp nối thanh thoát, có hiệu quả tăng cường kháng
phong thấp [15].
+ Giảm đường huyết, mỡ máu: Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho biết Thạch
hộc không những có hoạt tính tăng cường Insulin, đồng thời có khả năng giảm
đường huyết giúp cho máu hoạt động bình thường, xúc tiến tuần hoàn, giãn huyết
quản, giảm cholesterol và triglyceride [15].
+ Kháng u bướu: Thạch hộc có khả năng tiêu diệt một số tế bào ác tính của
ung thư phổi, ung thư buồng trứng, bệnh máu trắng với hoạt tính kháng ung thư
tương đối mạnh. Trong lâm sàng sử dụng Thạch hộc rỉ sắt làm thuốc điều trị bổ
sung các bệnh ung thư ác tính, cải thiện tình trạng của người bệnh, giảm nhẹ tác
dụng phụ của các liệu pháp xạ trị, hóa trị, tăng sức miễn dịch, nâng cao chất lượng
cuộc sống, kéo dài tuổi thọ [15].
+ Bảo vệ mắt: Thạch hộc có công năng dưỡng âm, là thảo mộc quý bảo vệ
mắt, có hiệu quả tương đối tốt để chữa bệnh lòa của tuổi già, bảo vệ mắt cho trẻ em.
+ Tự dưỡng da: Khi vào tuổi trung niên, âm dịch sa sút, da lão hóa, nám da và

khác [5].
2.4.2. Giá trị kinh tế
Trong các loại hoa phong lan được trồng tại Việt Nam thì lan công nghiệp cho
hiệu quả kinh tế tương đối cao. Giá của một chậu lan có thể cho thu nhập từ 100.000 1.000.000 đồng/cây [4].
Giá xuất khẩu vào những năm 80 đạt mức 3.000 USD/kg. Ở Đài Loan giá từ
1.000 -3.000USD/kg.Ở Trung Quốc khoảng 30 đến 60 triệu VNĐ/kg. Giá 1 cây
Thạch hộc tươi 3 tuổi có giá 25.000 VNĐ – 35.000 VNĐ, 1 ha trồng 1 triệu cây thạch
hộc, có thể thu được 25-30 tỷ trong 3 năm. Nhu cầu của Trung Quốc và các nước trên
thế giới về Thạch hộc còn rất lớn với giá cao, đem lại siêu lợi nhuân cho những người
trồng và chế biến thạch hộc. Nhu cầu thị trường Trung Quốc hiện nay cần khoảng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status