ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN VĂN HỌC CỔ ĐIỂN II
ĐỀ TÀI: NHỮNG SUY NGHĨ VỀ ĐẤT NƯỚC, NHÂN DÂN
VÀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI TRI THỨC TRONG
THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
Giáo Viên Hướng Dẫn: GS.PGS Đoàn Lê Giang\
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 3
Danh sách nhóm:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Mã số sinh viên
Trần Hoàng Ái
Nguyễn Thị Dịu
1.3. Sự Nghiệp Sáng Tác ..........................................................................6
Chương 2: Những Vấn Đề Chính Trong Thơ Của Cao Bá Quát .................9
2.1. Đất Nước.............................................................................................9
2.2. Nhân Dân.............................................................................................18
2.3. Trách nhiệm Con Người Tri Thức....................................................26
Chương 3: Nghệ Thuật Trong Thơ Chữ Hán Của Cao Bá Quát..................28
3.1. Nghệ Thuật Thời Gian.......................................................................28
3.1.1. Thời Gian Kiểm Nghiệm.................................................................28
3.1.2. Thời Gian Tĩnh Tại..........................................................................30
3.1.3. Thời Gian Toan Tính ......................................................................33
3.2. Nghệ Thuật Không Gian ...................................................................35
3.2.1. Không Gian Tầm Cao.....................................................................35
3.2.2. Không Gian Nỗi Niềm.....................................................................39
Tổng kết..............................................................................................................43
Tài Liệu Tham Khảo ........................................................................................44
3
Chương 1: Thời Đại, Con Người Và Sự Nghiệp Sáng Tác Của Cao Bá Quát
1.1. Thời Đại
Cao Bá Quát là một nhà thơ lỗi lạc, đồng thời là một lãnh tụ của phong trào
nông dân khởi nghĩa ở giai đoạn cuối thế kỷ XVII nửa đầu thế kỷ XIX. Sống giữa
đất Đế Đô thấy những cái xấu của vua quan triều đình, Cao Bá Quát đã không tiếc
lời châm biếm đả kích hoặc trực tiếp hoặc bằng những sáng tác văn chương. Vua
và triều đình nhà Nguyễn căm ghét ông. Năm 1852, Cao Bá Quát buộc phải rời
kinh đô về phía Bắc, nhận chức vụ thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây. Thời gian Cao Bá
Quát làm giáo thụ Quốc Oai, cả một vùng sứ đoài bị hạn hán, rồi bị nạn châu chấu
hoành hành, mùa màng mất trắng đời sống nhân dân vô cùng cơ cực, nhưng triều
đình không thèm ngó ngàng tới, đây đó nổi lên những cuộc khởi nghĩa chống lại
mới bước vào con đường sự nghiệp.
Sau đó trong chín năm, cứ ba năm một lần, Cao Bá Quát vào kinh đô Huế dự
thi Hội, nhưng lần nào cũng bị đánh hỏng. Trong bào “Phó Nan cung xuất giao
môn biệt chư đệ tử”, ông tỏ ra chán nản việc thi cử, những năm ấy ông sống thiếu
thốn, chật vật qua bài: “tài tử đa cùng phú”. Cuộc sống long đong kéo dài suốt 10
năm.
Năm 1841, lúc này ông đã 32 tuổi, mới được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử lên
triều đình, triệu vào Huế để nhận một chức tập sự ở bộ Lễ (Hành tẩu). Tháng 8
năm đó, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay
nhưng có chỗ phạm húy, ông bàn với bạn đồng sự là Phan Nhạ lấy son hòa muội
đèn chữa giúp 24 quyển . Việc bị phát giác, Giám trường thi là Hồ Trọng Tuấn đàn
hặc, ông bị bắt giam, bị tra tấn rồi bị kết vào tội chết. Nhưng vua Thiệu Trị đã giảm
cho ông từ tội trảm quyết xuống tội giảo giam hậu, tức được giam lại đợi lệnh, đẩy
ông vào Đà Nẵng, đi phục vụ để “lấy công chuộc tội” theo phái bộ do Đào Trí Phú
làm trưởng đoàn đi sang Batavia (Indonesia) và Campuchia với mục đích chính là
đem đường bán cho nước ngoài để mua về những hàng xa xỉ cho triều đình. Về Hà
Nội, ông dạy học nhưng luôn sống trong cảnh nghèo và bệnh tật. Ở đây những lúc
rỗi, ông thường xướng họa với các danh sĩ là Nguyễn Văn Siêu, Trần Văn Vi, Diệp
xuân Huyên...
Sau ba năm bị thải về, Cao Bá Quát nhận được lệnh triệu vào kinh (1847)
làm ở Viện Hàm lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Được hơn một tháng,
ông nhận lệnh đi công cán ở Đà Nẵng, rồi trở về công việc cũ. Thời gian ở kinh lần
này, ông kết thân với các văn nhân như Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận,
Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn Phúc Miên Trinh, ông quen biết với vị quan già
Nguyễn Công Trứ( lớp nhà thơ đi trước của ông). Ban đầu, ông chế giễu Thi xã
Mạc Vân, nhưng sau trở thành bạn thân của Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn
5
Phúc Miên Trinh, ông đã gia nhập Mạc Vân Thi xã do hai vị hoàng thân này sáng
6
Trước kia, nhiều người chỉ biết thơ văn chữ Nôm của ông nên có nhiều cách
nhìn nhận sai lệch về cuộc đời ông, trong khi đó phần viết chủ yếu của ông là chữ
Hán. Thu được 12 tập thơ và văn bằng chữ Hán của ông, tổng cộng 1353 bài thơ và
21 văn xuôi.
Trước cách mạng tháng Tám, Trúc Khê có giới thiệu mấy bài trong tập “Cao
Bá Quát, danh nhân truyện ký”
Năm 1954: hòa bình được lập lại, thơ chữ Hán của ông được giới thiệu và
biết đến nhiều hơn.
Năm 1970: Nhà xuất bản văn học cho xuất bản tập thơ chữ hán đầu tiên của
ông gồm 156 bài.
1.3. Sự Nghiệp Sáng Tác
Giới thiệu một vài nét chính trong sự nghiệp văn chương cùa Cao Bá Quát,
GS Vũ Khiêu viết đại ý như sau:
Tuổi trẻ của Cao Bá Quát được ghi lại bằng hàng loạt bài thơ tràn đầy khí phách
(Tài mai [Trồng mai], Thanh Trì phiếm châu nam hạ [Từ Thanh Trì buông thuyền
xuôi nam], Quá Dục Thúy Sơn [Qua núi Dục Thúy]...). Trích hai câu trong bài Quá
Dục Thúy Sơn:
Ngã dục đăng cao
Hạo ca ký vân thủy
Dịch:
Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất
Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước...
Nhưng rồi, mấy lần khăn gói vào Huế thi đều bị hỏng, nên mộng khoa cử đã
tan. Năm 32 tuổi, lần đầu ông được bổ làm một chức quan nhỏ (Hành tẩu Bộ Lễ).
Ở đây, ông bắt đầu cảm thấy nhụt chí và bế tắc khi nhìn thấy cảnh thối nát, bất
công và hèn yếu của nhà Nguyễn. Đến khi bị tù, bị tra tấn vì chữa những quyển thi,
ông càng đau khổ, uất ức và căm thù cái triều đình ấy (Cấm sở cảm sự, túng bút
Mặt trời đỏ lẩn đi đàng nào?
Để dân đen than thở mãi...
8
(Trích Đối Vũ)
Và:
Tài trai sống ở đời, đã không làm được việc phơi gan, bẻ gãy chấn song, giữ
vững cương thường.
Lại ngồi nhìn bọn cầm quyền sói lang hoành hành,
Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương.
Chỉ cúi đầu luồn xuống mái nhà thấp, nhục cả khí phách,
Đến lúc già thì gối đầu vào vợ con mà chết,
Giả sử hạng người ấy xuống suối vàng gặp hai cụ (Chu Văn An và Nguyễn
Trãi),
Thì cũng mặt dầy, trống ngực đánh, thần sắc rũ rượi ra mà thôi…
(Trích bản dịch nghĩa bài Tống Nguyễn Trúc Khê xuất lỵ Thường Tín kiêm trí
Lê Huy vĩnh lão khê).
Sáng tác của Cao Bá Quát chủ yếu bằng chữ Hán, chữ Nôm cũng có nhưng
ít. Khác với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát sống vào thời kỳ chính sách đề cao
chữ Hán của nhà Nguyễn đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới nho sĩ. Có lẽ Cao
Bá Quát chịu ảnh hưởng của chủ trương này.
Về tác phẩm chữ Hán ông có hai tập thơ: Chu Thần thi tập và Cúc Ðường thi
thảo. Cả hai tập thơ này có tên chung là Cao Bá Quát thi tập. Số bài thơ của hai tập
thơ này chưa rõ là bao nhiêu nhưng chắc chắn nhiều hơn số hiện nay chúng ta sưu
tập được: 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi. Sau khi nhà thơ qua đời, tác phẩm của
ông cũng phải chịu sự bạc đãi của triều đình nhà Nguyễn.
Về mặt chữ Nôm: ông có bài phú nổi tiếng Tài tử đa cùng phú (Người tài
giỏi có nhiều điều cùng khổ).
Ngoài ra ông còn có một số bài thơ Ðường luật và ca trù.
Khổ đạo khuất khuất hào khung thương.
Quan thanh tích lịch tồi đài lương
Điện hỏa thiểm thiểm giao phi trường.
10
Hân như song giao bác hoại đường,
Bãi như lãnh thủy quán cấp thang.
Lưỡng mộc trác lập thế quật cường,
Thân thanh thập nhị hồi tu lang
Ô hô nhất chi xuân hải đường.
(trích Đằng tiên ca)
Dịch thơ:
“Cây roi song lớn dài dài sao,
Mình rắn da thâm uốn chẳng vào.
Thân tù nằm xấp vẻ anh xám,
Tay chân căng thẳng mắt mờ quáng.
Mưa tạnh hơi độc xông lên háng,
Bị tra tấn mãi miệng cứng đờ,
Một mực kêu trời “khổ! oan uổng!”.
Tiếng quan như sét rường nhà rung,
Ánh roi như chóp vụt tứ tung,
Giơ lên, rồng quật bờ ao lở,
Ngừng lại nước dội nồi canh bồng.
Đôi cọc sừng sững như ngạo nghễ,
Mấy dãy hành lang tiếng rên xé.
Than ôi một nhánh hải đường tơ,
Chẳng nề Xương Châu mà nỡ bẻ”
11
12
Môi run, bụng lép, chiếu tơi quèn”
Người dân trong thơ Cao Bá Quát gầy gò, “thất thểu”, “tả tơi”, “môi run”,
“bụng lép” mà nguyên nhân chính làm cho họ thành người không ra người, ngợm
không ra ngợm như vậy chính bởi xã hội phong kiến đương thời.
Cao Bá Quát đã nhận thức rõ ràng sự suy tàn, thối nát của chế độ vua quan
nhà Nguyễn. Dù là một người từ nhỏ đã được học chữ Nho, đọc sách Nho, hiểu
đạo quân thần, nhưng Cao Bá Quát không thể nào làm ngơ trước cảnh đời sống
nhân dân lầm than, tiếng kêu khóc xé trời vậy mà bọn quan lại triều Nguyễn vẫn
dửng dưng , bình thản, họ chỉ lo cho chức tước, ngai vua, bổng lộc của mình mà
hoàn toàn không quan tâm đến đời sống nhân dân. Thơ ông chính là lời tố tội sắc
bén chế độ phong kiến lúc bấy giờ.
Thế kỷ XIX, nước ta đặt dưới sự cai trị của nhà Nguyễn – một triều đình với
chuyên chế tàn bạo, nghi kỵ người có tài. Trước hết ta phải nói, công danh đối với
nhà Nho có một ý nghĩa quan trọng. Nó đã từng là lí tưởng sống, và với nhiều
người, nó còn trở thành ý thức thường trực như một nghĩa vụ, một "món nợ" cần
phải trả của kẻ nam nhi, là yếu tố khẳng định sự hiện tồn của cá nhân trong cuộc
đời "không công danh thà nát với cỏ cây". Đó là nói về lí tưởng công danh với
những con người có nhân cách cao khiết, có ước vọng muốn làm nên sự nghiệp lớn
để giúp dân, giúp nước, để lưu danh cùng thiên cổ. Nhưng trong thời đại mà Cao
Bá Quát sống - xã hội phong kiến nhà Nguyễn đầu thế kỉ XIX, nhiều giềng mối
của của xã hội bị lung lay, nhiều kẻ cơ hội bon chen trên đường công danh chỉ vì
mục đích tự lợi thấp hèn. Vả chăng, con đường khoa cử, kiếm tìm công danh cũng
không còn được ý nghĩa tiến bộ của nó.
Cao Bá Quát vốn là một người thẳng thắng không sợ hàm quan cho nên khi
hiểu và biết rõ sự thối nát của chế độ khoa thi không phải chỉ để tuyển chọn người
tài thì mặc dù ông có thể hình dung ra được nếu phạm quy sẽ ra sao nhưng ông vẫn
cứ làm, vì như ông nói đó là “tìm điều nhân” là “cùng cảnh thương nhau”
thấy toát lên hình ảnh một người trí thức tự nhiệm, trung thực, đầy tinh thần trách
nhiệm với đất nước, với cuộc đời mình, luôn băn khoăn, day dứt về con đường
đang đi. Một con người đầy bản lĩnh, quyết không chịu say, không chịu "học phép
ngủ" để cùng say ngủ với biết bao kẻ dung tục trong đời. Sự băn khoăn trăn trở còn
được đẩy lên mức độ căng thẳng với những lời tự tra vấn quyết liệt về lẽ sống, về
con đường phải đi thể hiện một nhân cách cao cả, không chịu thỏa hiệp với dục
vọng bản thân và với thực trạng xã hội đang tiềm chứa nhiều suy thoái. Và ta thấy,
ngay từ rất sớm, trong ông đã tiềm chứa ước muốn đổi thay thực trạng xã hội,
14
quyết không chấp nhận thực tại. Khi gặp những hoàn cảnh cụ thể, khi đã chứng
kiến hết cảnh thối nát chốn quan trường, thấy rõ hiện trạng xã hội, lại bị dập vùi
không thương tiếc, ước muốn đó sẽ chuyển thành hành động phản kháng mãnh liệt.
Và đó là một phần nguyên nhân giải thích lí do khiến Cao Bá Quát đã tham gia
cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn năm 1854.
Tuy chán ghét, căm phẫn trước cảnh vua quan triều Nguyễn bất nhân, nhưng
Cao Bá Quát chỉ hận vua quan nhà Nguyễn. Còn đối với ông tình yêu quê hương
đất nước luôn canh cánh bên lòng.
Thơ chữ Hán của ông luông mang nặng nỗi niềm tha thiết với quê hương,
ông buồn thương cho cảnh đất nước suy tàn. Đồng thời ông cũng rực cháy trong
lòng niềm tự hào dân tộc.
Lòng yêu nước ấy thể hiện qua tình yêu thiên nhiên, niềm say mê trước cảnh sắc
quê hương đẹp tươi, dung dị.
“Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền,
Trường giang như kiến lập thanh hiên.
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo,
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên.
Trần lộ du du song quyện nhãn,
Viễn tình hạo hạo nhất quy tiên.”
Núi Dục Thúy, núi Tản Viên, hồ Tây từ lâu đã trở thành niềm tự hào của đất nước
và đặc biệt là là hình tượng núi Tản đã từng tượng trưng cho khí phách hào hùng
của dân tộc ta. Và trong thơ Cao Bá Quát nét đặc sắc là câu tự vấn của tác giả:
Non sông như thế, mình thì sao đây? Khi đứng trước những thắng cảnh ấy. Tình
cảm của ông bao giờ cũng là tình cảm hai chiều: Yêu thương và trách nhiệm. Ðây
không phải là điều dễ tìm thấy ở các nhà thơ đương thời. Ðặc biệt trong thời đại
sống của mình Cao Bá Quát đã ý thức, đã băn khoăn cho số mệnh của đất nước
trước hiểm họa xâm lăng từ phương Tây.
16
Bởi yêu thiên nhiên, đất nước như vậy, mà khi nhìn cảnh đất nước lâm vào
cảnh loạn lạc, tan hoang Cao Bá Quát không khỏi chạnh lòng, uất hận, muốn vùng
lên phản kháng lại triều đình.
Tình yêu quê hương đất nước của Cao Bá Quát còn thể hiện ở chỗ ông khâm
phục và ngưỡng mộ những người anh hùng cứu nước, ông viết các bài thơ Vịnh
Phù Ðổng Thiên Vương, Vịnh Trần Hưng Ðạo... Qua việc ca ngợi những người
anh hùng đó Cao Bá Quát bộc lộ ước muốn cứu dân, cứu nước của mình. Ông như
tìm thấy sự tiếp sức từ trong lịch sử của dân tộc. Ðây là điểm khác biệt giữa thơ
vịnh lịch sử của ông và các nhà thơ khác, họ vịnh lịch sử để quay lưng với hiện
thực cuộc sống.
Chính từ lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn và mong muốn giúp nước,
cứu dân, đưa xã hội và con người đến gần hơn với văn minh, Cao Bá Quát đã có
những tư tưởng rất tiến bộ. Ông là người có thái độ đúng đắn trước sức mạnh vật
chất của người phương Tây. Ông không tỏ ra khiếp sợ tuy có ngạc nhiên. Bài thơ
“Hồng mao hỏa thuyền ca” ông miêu tả con tàu không buồm, không chèo, không
người đẩy mà đi ngang, chạy ngược nhanh như ngựa phi. Khói phun ngùn ngụt,
sóng tung tóe ầm ầm, ông thấy được sự tiến bộ của nền văn minh phương Tây:
“Cao yêu quán thanh không
“Các ngươi chẳng thấy:
Nước vùng Vỹ Lư rít vào đá Ốc Tiêu
Lửa bốc lên ngùn ngụt cao tới mây xanh
Mở la bàn đi sang phía Đông, nên thận trọng,
Không như nước triều sớm hôm ở Tây minh”
Qua đó càng thấy rõ lòng nhất mực yêu nước của nhà thơ, ông không bao
giờ chịu để cho bọn ngoại quốc sang xâm chiếm lãnh thổ.
18
Tóm lại, thơ chữ Hán của Cao Bá Quát đã tái hiện chính quyền phong kiến
tàn ác, xấu xa, qua đó ông muốn tố cáo mạnh mẽ chế độ thối nát đó. Thơ ông còn
đau đáu bên mình tình yêu quê hương sâu nặng, bên cạnh những bài thơ nói lên khí
phách hào hùng, một số bài thơ của ông có bóng dáng thiên nhiên và con người đất
Việt: có dòng sông, đồng lúa, bờ rào, khói bếp, rặng tre, có tiếng hát giã gạo, tiếng
hát chèo đò, có người chài kéo lưới, có núi Tản Viên, núi Dục Thúy, Tây hồ... Và
chính bởi yêu đất nước quê hương nên ông mới đứng lên khởi nghĩa. Khởi nghĩa
để đạp đổ nhà Nguyễn suy đồi, để xây dựng lại đất nước tốt đẹp cho nhân dân.
2.2. Nhân Dân
Bên cạnh những đỉnh cao chói lọi trong văn học Việt Nam như Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, chúng ta lại có Cao Bá Quát (1808-1855), người phản kháng, người ca
ngợi tự do, người thương dân đen, người yêu thương nhân dân lao động như tấm
lòng của Đỗ Phủ “cùng niên ưu lê nguyên” (Quanh năm lo dân đen), và hơn đã
dám tuốt gươm khởi nghĩa. Ông đã từ một con người của từ chương bước ra hiện
thực và chiến đấu, từ một con người của vần điệu và khí phách biến thành con
người của dòng lịch sử đang vật vã chuyển mình, thành anh hùng khởi nghĩa.
Cao Bá Quát thấm thía cái nghèo và tỏ ra khinh bỉ những kẻ khom lưng, uốn
gối để mưu cầu danh lợi, nhưng ông không hề có tí nào thi vị hóa cái nghèo, cũng
như ông không tin gì về triết lý tuần hoàn hay định mệnh. Cao Bá Quát tin vào
mình, chính mình phải hành động để thay đổi cuộc đời mình.
Ngoài hành cung Mỹ xuyên lại có hành cung mới nữa.
Lúc vào làm quan trong kinh gần với “ bóng mặt trời “ và các vị đại thần,
ông mới thấy cái xấu, cái xa hoa tàn bạo là bản chất của những kẻ cầm quyền.
Cao Bá Quát nhất quán trong cái nhìn đối với bọn vua quan triều đình nhà
Nguyển, cũng rất nhất quán trong cái nhìn của các con người cùng khổ trong xã
hội. Đối với nhân dân ông công khai nói lên lòng thương xót, mến yêu đặc biệt của
mình. Nhà thơ ghi lại cảnh phá sản của một người trung nông phải bỏ nhà, ra thành
phố làm thuê làm mướn, (phụ tương tư); Trong bài này, tác giả đã cho ta thấy quá
trình bần cùng hóa của một bác nông dân. Từ chỗ có mười mẫu ruộng đến chỗ phải
đi cầu thực vì mất mùa. Rồi không những thế, khi về đến quê, đám chức dịch xúm
vào bắt nộp thuế cho mười mẫu ruộng. Túng thế, anh phải đi làm thuê cho một nhà
20
buôn, tự buộc mình vào kiếp tôi đòi, nô lệ, hàng ngày phải chịu đánh mắng thậm
tệ, rồi hàng ngày chịu những bất công, chấp nhận những điều ngang trái:
Đường thượng sung phì cam
Hạ tận sấu lộ tích
(trên nhà thì của ngon vật lạ ê hề
Dưới bếp người nào cũng gầy giơ xương)
Cảnh một ông thầy thuốc đi kiếm ăn lang thang ở kinh kỳ rồi bị đói (Đạo phùng
ngã phu); cảnh những người đói từ sáng tinh mơ đã lũ lượt bế nhau đi xin phát
chẩn (Quan chẩn), cảnh nhân dân cả một phường trúc lâm già trẻ lớn bé gọi nhau,
giục nhau chạy: “ nhanh lên! Nhanh lên! Công sai về đấy! “. Bài Phúc lâm lão “là
một bức tranh hết sức sinh động về tình cảnh của nhân dân phường Phúc lâm nói
riêng cũng như tình cảnh của nhân dân ta nói chung. Thật xót xa khi chính quan
“Phụ mẫu” lại coi con dân chỉ như những cây tre, cây trúc. Còn nhân dân, khi ở
trên chính đất của họ thì phải lẩn lủi, trốn tránh như những con chuột. Trong 5 câu
thơ mà có những 6 chữ “tăng”, dường như chữ tăng đó là ám ảnh nặng nề với nhà
Thì ai không có tổ nghiệp, ruộng nương và nhà cửa?
Từ năm ngoái đến năm nay thóc lúa mất cả.
Bỏ đây mà đi cũng chẳng biết nương tựa vào đâu!
Nhà xóm đông nằm đấy chịu đói, nhà xóm tây dời đi nơi khác,
Những người còn chút hơi tàn chưa chết mười phần chỉ có một ha,
Nào lính nào phu nỗi khổ chưa qua,
Con bé cháu nghèo bỏ làng đi hết
Cứ bắt nộp thuế theo ngạch cũ đã khó khăn cho tôi rồi,
22
Lại còn chiểu lệ tăng thêm thì tôi đến chết mất.
Năm tôi năm muoi8 năm tuổi đã tăng một xuất rồi,
Năm tôi sáu mươi lại tăng thêm xuất nữa.
Huống chi ngoài số thuế ra các khoảng khác cũng cứ tăng mãi,
Tăng đến kì cùng thì sang năm đào đâu ra!....
Đạo phùng ngã phu
Vũ vũ thuỳ gia tử,
Y phá lạp bất hoàn.
Thúc tòng nam phương lai,
Hướng ngã tiền đầu thán.
Vấn tử hà sở ưu?
Tự vân: "Trường gian nan.
Gia bần nghệ y bốc,
Ngã lai tẩu Trường An.
Trường An vô bệnh nhân,
Quần y như khâu san.
Linh đinh vọng quy lộ,
Cực mục vân man man.
Nhị nhật điển không khiếp,
25